Tránh những tác động lên đa dạng sinh học qua
• quá trình xác định và bảo hộ nguồn dự trữ;10 Thực hiện các biện pháp giảm thiểu sự phân rã
• môi trường sống như hành lang sinh vật;
Phục hồi môi trường sống sau quá trình hoạt
• động; Thực hiện các bù đắp đa dạng sinh học.
Hướng dẫn 43. Như được nêu trong khoản Hướng dẫn 37 trong phần về môi trường sống điều chỉnh, không có hệ thống đo lường được xác định trước để phân định thế nào là môi trường sống tự nhiên. việc xác định môi trường sống tự nhiên sẽ được tiến hành dựa trên quá trình phân tích khoa học đáng tin cậy và thông tin tốt nhất có thể có. Phải tiến hành đánh giá và so sánh điều kiện hiện nay và lịch sử, và nên sử dụng kiến thức và kinh nghiệm địa phương. Không nên hiểu môi trường sống tự nhiên là môi trường sống chưa bị đụng chạm hoặc nguyên sơ. Nên hiểu là phần lớn các môi trường sống được xác định là tự nhiên đã từng chịu tác động nhân loại học trước kia trong lịch sử hoặc mới đây. vấn đề là mức độ tác động. Nếu môi trường sống phần lớn vẫn giữ được đặc điểm chính và yếu tố cấu thành cơ bản của hệ sinh thái, như độ phức tạp, cơ cấu và sự đa dạng, thì khu vực đó nên được coi là môi trường sống tự nhiên mà không phụ thuộc vào sự hiện diện của một số loài xâm lấn, rừng thứ cấp, nơi ở của con người hoặc sự thay đổi khác do con người gây ra.
Hướng dẫn 44. việc chuyển đổi hoặc xuống cấp đáng kể của môi trường sống tự nhiên sẽ chưa diễn ra cho tới khi khách hàng chứng minh đã đáp ứng tất cả ba yêu cầu trong khoản 14, và doanh nghiệp chứng minh được là mọi hoạt động đề xuất tuân thủ quy định vế sử dụng
đất đai và cấp phép. Điểm đầu tiên là không có phương án lựa chọn địa điểm dự án trong môi trường điều chỉnh (trong khu vực đó). Điều này đặc biệt quan trọng đối với dự án nông nghiệp khi trong một số trường hợp có thể ưu tiên lựa chọn địa điểm cho dự án trong khu vực bị chuyển đổi và đã xuống cấp đáng kể hơn là trong những khu vực vừa mới bị chặt phá rừng hoặc trong khu vực có hình thức môi trường sống tự nhiên khác (ví dụ thảo nguyên nhiệt đới). Trong các trường hợp đó, phải tiến hành nghiên cứu địa điểm thay thế một cách kỹ lưỡng để xem xét các phương án có thể có cho dự án trong môi trường sống điều chỉnh. Thuật ngữ
“có thể có” bao gồm, nhưng không bị hạn chế bởi các phương án khả thi về kỹ thuật và tài chính. Trong phần lớn các trường hợp, nghiên cứu này cùng với nghiên cứu phương án thay thế sẽ là một phần của quá trình xác định rủi ro và tác động. Nghiên cứu này cũng phải kỹ lưỡng hơn đáng kể so với nghiên cứu thông thường trong ESIa, và phải cung cấp chi tiết về phương án thay thế địa điểm phát triển dự án, cũng như bảng kê chi phí phụ trội khi phát triển môi trường sống điều tiết thay cho môi trường sống tự nhiên.
Hướng dẫn 45. Điểm thứ hai trong khoản 14 liên quan tới sự tham gia và tham vấn của các bên liên quan. Nếu dự án có tiềm năng dẫn tới việc chuyển đổi hoặc xuống cấp đáng kể của môi trường sống tự nhiên, nhóm các bên liên quan phải được tham gia trong đối thoại chặt chẽ, công bằng và cân đối với sự hiện diện của nhiều bên liên quan. Yêu cầu với khách hàng trong sự tham gia của các bên liên quan được miêu tả trong Tiêu chuẩn hoạt động 1, hướng dẫn liên quan được nêu trong Hướng dẫn 1.
Đặc biệt các bên liên quan phải được tham gia trong các vấn đề liên quan tới (i) mức độ chuyển đổi và xuống cấp;
(ii) nghiên cứu phương án thay thế; (iii) đa dạng sinh học và giá trị dịch vụ hệ sinh thái trong môi trường sống tự nhiên; (iv) phương án giảm nhẹ, bao gồm cả phần được dành riêng và bồi hoàn đa dạng sinh học; và (v) xác định cơ hội bổ sung cho sự bảo tồn đa dạng sinh học (xem khoản Hướng dẫn 34). Khách hàng phải lưu hồ sơ về các hoạt động tham gia và tham vấn này và chứng minh là đã xem xét và lưu ý tới các quan điểm trên trong quá trình thiết kế dự án. Các bên liên quan phải có nhiều quan điểm khác nhau, ngoài các Cộng đồng bị ảnh hưởng còn bao gồm các chuyên gia khoa học và kỹ thuật, các cơ quan/
tổ chức liên quan chịu trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học hoặc điều phối/quản lý dịch vụ môi trường, và thành viên cộng đồng NGO về bảo tồn quốc tế.
Hướng dẫn 46. Điểm thứ ba trong khoản 14 một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng phải chứng minh đã áp dụng thứ tự ưu tiên đối với các biện pháp giảm nhẹ. Hướng dẫn chung về thứ tự ưu tiên giảm nhẹ được cung cấp trong
8 Được thực hiện trong quá trình tham vấn lấy ý kiến các bên liên quan theo Tiêu chuẩn hoạt động 1.
9 Không có tổn thất tịnh được hiểu là ở điểm mà tác động của dự án lên đa dạng sinh học được cân bằng bởi các biện pháp tránh và giảm thiểu tác động của dự án, phục hồi tại chỗ và cuối cùng bù đắp lại những hậu quả để lại nếu có ở một phạm vi địa lý phù hợp (ví dụ như địa phương, một khu đất, quốc gia, vùng).
10 dự trữ là những vùng đất trong khuôn khổ dự án hay những khu vực mà khách hàng có quyền kiểm soát và được loại trừ khỏi quá trình phát triển của dự án và được dùng để thực hiện các biện pháp tăng cường bảo tồn. dự trữ có thể có những giá trị đa dạng sinh học có ý nghĩa và/hoặc cung cấp dịch vụ hệ sinh thái quan trọng ở cấp địa phương, quốc gia, và/hoặc vùng. dự trữ nên được định nghĩa theo phương pháp luận được quốc tế công nhận (ví dụ Giá trị bảo tồn cao, lập kế hoạch bảo tồn có hệ thống.)
khoản Hướng dẫn 16; tuy nhiên thông tin hướng dẫn bổ sung được nêu tại khoản này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp giảm nhẹ tại chỗ như biện pháp giảm nhẹ sự xuống cấp của môi trường sống, và điều này đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động trong môi trường sống tự nhiên. Đối với các biện pháp giảm nhẹ tại chỗ, có thể có nhiều biện pháp, và tốt nhất là nên được lựa chọn bởi các kỹ sư môi trường, chuyên gia quản lý xói mòn và phục hồi, và chuyên gia quản lý đa dạng sinh học. về tổng thể, khách hàng nên cố gắng giảm thiểu sự xuống cấp của môi trường sống bằng cách tuân thủ nguyên tắc giảm thiểu dấu ấn để lại trong suốt vòng đời dự án. Sự xuống cấp của môi trường sống là một trong những mối đe dọa đáng kể nhất đối với đa dạng sinh học liên quan tới các dự án có sự phát triển đất đai đáng kể. Ngoài việc giảm thiểu dấu ấn, khách hàng nên áp dụng chiến lược phục hồi môi trường thích hợp, bao gồm việc phục hồi vật chất, lập kế hoạch và có biện pháp cải tạo và phủ xanh lại (hoặc phục chế) trong giai đoạn sớm nhất có thể của kế hoạch dự án. Nguyên tắc cơ bản nên bao gồm (i) bảo vệ lớp đất phủ và hồi phục lớp phủ xanh càng sớm càng tốt sau giai đoạn xây dựng hoặc tác động; (ii) phục hồi môi trường sống nguyên gốc trở về điều kiện trước khi xây dựng hoặc tác động; (iii) biện pháp giảm nhẹ bao gồm kiểm soát quản lý và đào tạo lực lượng lao động; và (iv) nếu giống loài bản địa (đặc biệt là loài được bảo vệ) không thể được lưu giữ tại chỗ thì phải cân nhắc biện pháp bảo tồn như di chuyển/di dời. Biện pháp giảm nhẹ tại chỗ phải được bao gồm trong Kế hoạch quản lý đa dạng sinh học hoặc quản lý môi trường (xem thêm Phụ lục a).
Hướng dẫn 47. Như được nêu trong khoản 15 của Tiêu chuẩn hoạt động 6, trong mọi khu vực của môi trường sống tự nhiên, không phụ thuộc vào triển vọng của việc chuyển đổi và xuống cấp đáng kể, khách hàng phải thiết kế biện pháp giảm nhẹ để “không có tổn thất thuần” đối với đa dạng sinh học nếu khả thi, bằng cách áp dụng các biện pháp giảm nhẹ tại chỗ và bồi hoàn. “Không có tổn thất thuần” được định nghĩa trong chú thích 9 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 là “một điểm khi tác động do dự án tạo ra đối với đa dạng sinh học được cân bằng bởi các biện pháp nhằm phòng tránh và giảm thiểu tác động của dự án, phục hồi tại chỗ và cuối cùng là bồi hoàn tác động tồn dư đáng kể, nếu có, trên quy mô địa lý thích hợp (ví dụ địa phương, cấp độ cảnh quan, quốc gia, khu vực).”
Không có tổn thất thuần đề cập tới giá trị đa dạng sinh học liên quan tới khu vực cụ thể của dự án và việc bảo tồn với quy mô môi trường phù hợp. Yếu tố quy mô này được nhấn mạnh nhiều lần trong Tiêu chuẩn hoạt động (ví dụ chú thích 3 (bồi hoàn), chú thích 12 (môi trường sống quan trọng)) và một số lần trong Hướng dẫn. Có nhiều phương pháp để tính toán tổn thất đối với giá trị được xác định của đa dạng sinh học và lượng hóa tổn
thất tồn dư. Các biện pháp trên cần phải đi đôi với việc đánh giá để xác định xem các tổn thất đó có thể được bù đắp bởi các lợi ích đạt được qua các biện pháp giảm nhẹ, bao gồm biện pháp giảm nhẹ bồi hoàn, Biện pháp và phương thức đo lường thích hợp có thể khác biệt tùy khu vực, và khách hàng phải có các chuyên gia có thẩm quyền để chứng minh là có thể không để xẩy ra tổn thất thuần. Tùy theo đặc điểm và quy mô của dự án, cũng như cấp độ của môi trường sống tự nhiên, việc tính toán tổn thất/lợi ích để xác định biện pháp giảm nhẹ bồi hoàn có thể được thay thế bởi quyết định của chuyên gia khi xác định mức độ thích hợp của sự bồi hoàn.
Hướng dẫn 48. Khoản 15 miêu tả một số biện pháp giảm nhẹ tiềm năng phù hợp với thứ tự ưu tiên giảm nhẹ liên quan cụ thể tới việc không để xẩy ra tổn thất thuần trong môi trường sống tự nhiên. Điểm đầu tiên xác định khu vực
“dành riêng”, là những địa điểm thông thường nằm trong khu vực dự án hoặc trong khu vực liền kề mà khách hàng có quyền quản lý, và được “tách riêng khỏi dự án và được dành cho việc áp dụng các biện pháp tăng cường bảo tồn”
(chú thích 10). Khu vực dành riêng là một hình thức biện pháp giảm nhẹ phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp. Thuật ngữ này ít được biết hơn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng, dầu và khí, các lĩnh vực công nghiệp khác (ví dụ sản xuất xi-măng và khai thác vật liệu xây dựng), và lĩnh vực phát triển nhà ở và cơ sở hạ tầng. Khu vực dành riêng cũng có thể là khu vực Giá trị bảo tồn cao (HCv) (xem khoản Hướng dẫn 35). Thuật ngữ “dành riêng” được dùng trong phiên bản 2011 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 để nhất quán hơn với một số văn bản luật pháp của chính phủ và với nhiều tiêu chuẩn tự nguyện quốc tế đã và đang hình thành, như Hội đồng quản lý rừng (FSC) và Bàn tròn về dầu cọ bền vững (RSPO). Mặc dù các lĩnh vực công nghiệp/phát triển hạ tầng khác thường không áp dụng thuật ngữ “dành riêng”, nhưng tập quán của những ngành đó là tương đồng về khía cạnh là các khu vực có giá trị đa dạng sinh học tương đối cao trong khu vực dự án hoặc khu vực khai thác được tránh và dành riêng cho mục đích bảo tồn.
Hướng dẫn 49. Khu vực dành riêng và sự bồi hoàn đa dạng sinh học là hai khái niệm liên quan nhưng khác biệt. Bồi hoàn đa dạng sinh học có mục đích đền bù cho tác động tồn dư đáng kể, và phải chứng minh là không gây tổn thất thuần, và nếu có thể thì có lợi ích thuần tích cực về đa dạng sinh học. Khu vực dành riêng tương đương với biện pháp phòng tránh theo thứ tự giảm nhẹ ưu tiên và đôi khi do chính phủ quy định về tỷ lệ nhất định (ví dụ 20 phần trăm) của khu vực sẽ chuyển đổi.
Không giống như khu vực dành riêng, việc thiết kế sự bồi hoàn đa dạng sinh học đòi hỏi bên thực hiện phải đánh giá xem tổn thất về đa dạng sinh học tại chỗ có
được đền bù bằng lợi ích về đa dạng sinh học trong khu vực dành riêng không. Xem khoản 10 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 và hướng dẫn liên quan về khu vực dành riêng trong khoản Hướng dẫn 29 - Hướng dẫn 33.
Hướng dẫn 50. Điểm hai của khoản 15 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 nhấn mạnh việc khách hàng phải cân nhắc các biện pháp giảm nhẹ để giảm sự phân đoạn của môi trường sống. Sự phân đoạn của môi trường sống là một trong những tác động lan tỏa nhất đối với đa dạng sinh học trong môi trường sống tư nhiên và thường dẫn tới sự xuống cấp lâu dài của môi trường sống vì có tác động bên lề, gia tăng sự tiếp cận của bên thứ ba tới những khu vực trước kia không bị đụng đến, và đôi khi vì cô lâp quần thể động thực vật về mặt di truyền.
Nếu dự án nằm trong khu hoang dã nguyên vẹn rộng lớn, khách hàng phải xác định các biện pháp hạn chế sự phân đoạn, như thiết kế hành lang cho động thực vật hoang dã hoặc có biện pháp khác để đảm bảo sự liên hệ giữa các môi trường sống hoặc quần thể khuynh tâm.
quy định này cũng liên quan tới quy định trong khoản 6 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 về sự cân nhắc đối với cảnh quan mặt đất/mặt biển (xem thêm khoản Hướng dẫn 17). Nghiên cứu ở cấp độ cảnh quan mặt đất/mặt biển sẽ giúp khách hàng xác định biện pháp giảm nhẹ có giá trị trên quy mô lớn hơn. Tác động gián tiếp liên quan tới sự tiếp cận của bên thứ ba có thể đặc biệt có hại đối với đa dạng sinh học và liên quan tới vấn đề phân đoạn môi trường sống. Khách hàng xây dựng hạ tầng cơ sở tuyến tính và/hoặc đường tiếp cận nên ưu tiên phát triển biện pháp quản lý việc bên thứ ba sử dụng khu vực trên. Biện pháp giảm nhẹ nên được thảo luận đầy đủ với các nhà quản lý xây dựng và vận hành dự án để đảm bảo có cách tiếp cận được điều phối lâu dài. Chính phủ cũng nên được biết đầy đủ về cam kết của dự án vì có thể quan tâm tới việc duy trì tuyến đường tiếp cận của dự án cho mục đích công cộng sau giai đoạn xây dựng và/hoặc kết thúc dự án. Biện pháp giảm nhẹ này tốt nhất nên được thực hiện quan Kế hoạch quản lý tiếp cận gia tăng.
Hướng dẫn 51. Đối với điểm ba khoản 15 của Tiêu chuẩn hoạt động 6, xem thêm hướng dẫn liên quan trong khoản 16 về phục hồi môi trường sống. Hai quá trình phòng tránh và phục hồi môi trường sống đặc biệt quan trọng đối với khu vực có rừng các-bon cao cũng như môi trường sống biển và ven biển dễ bị tổn thương bởi tác động của thay đổi khí hậu hoặc khu vực đóng góp cho việc giảm nhẹ thay đổi khí hậu, như vùng cây đước, vùng than bùn, đầm lầy nước mặn theo thủy triều, rừng tảo bẹ và vùng tảo biển.
Hướng dẫn 52. Cuối cùng, liên quan tới điểm bốn khoản
15 của Tiêu chuẩn hoạt động 6, việc bồi hoàn đa dạng sinh học là một trong những biện pháp quan trọng để khách hàng có thể không gây tổn thất thuần cho dạng sinh học trong môi trường sống tự nhiên. Hướng dẫn về bồi hoàn đa dạng sinh học được nêu trong khoản Hướng dẫn 29 - Hướng dẫn 33. Nếu có cơ chế đáng tin cậy và liên quan về bồi hoàn đa dạng sinh học/ngân hàng bảo tồn, việc khách hàng đầu tư và các chương trình trên có tiềm năng đáp ứng yêu cầu bồi hoàn. Khách hàng phải chứng minh các sáng kiến trên là đáng tin cậy và lâu dài, và chính các quy định nêu trong khoản 10 của Tiêu chuẩn hoạt động 6 về bồi hoàn đa dạng sinh học sẽ được áp dụng trong những trường hợp như vậy (ví dụ thay thế tương đương hoặc tốt hơn, chứng minh kết quả có thể đo đếm tại chỗ, hoặc tại hiện trường, v.v…)
Hướng dẫn 53. Điều đặc biệt liên quan, nhưng không bị giới hạn bởi công nghiệp khai thác, là khách hàng phải xây dựng cơ chế tài chính cho quá trình hoàn nguyênHd10 đối với dự án trong môi trường sống tự nhiên và có tiềm năng có tác động đáng kể vì dấu ấn của mình, dấu ấn của cơ sở vật chất liên quan và sự chuyển đối đất đai liên quan. Chi phí liên quan tới hoàn nguyên và/hoặc hoạt động sau khi kết thúc dự án phải được đưa trên nghiên cứu khả thi kinh doanh trong giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế. Tối thiểu thì cũng phải cân nhắc là có đủ mọi nguồn tài chính cần thiết, qua các cơ chế tài chính phù hợp, để trang trải chi phí hoàn nguyên và chấm dứt dự án trong bất cứ giai đoạn nào của vòng đời dự án, bao gồm cả việc hoàn nguyên sớm hay tạm thời hoặc chấm dứt dự án. Cơ chế tài chính cho hoàn nguyên đã được xây dựng hoàn chỉnh trong công nghiệp khai mỏ và được miêu tả trong Phần 1.4 của Hướng dẫn môi trường, sức khỏe và an toàn đối với ngành khai mỏ của Nhóm Ngân hàng thế giới. Cơ chế tương tự phải được thiết lập nếu áp dụng biện pháp bồi hoàn đa dạng sinh học.
Hướng dẫn 54. Biện pháp giảm nhẹ liên quan tới đa dạng sinh học và môi trường phải được liêt kê trong ESMS của khách hàng. Nếu biện pháp bồi hoàn đa dạng sinh học là một phần của chiến lược giảm nhẹ hoặc nếu các biện pháp khác chưa được tích hợp đầy đủ trong ESMS của khách hàng, phải xây dựng Kế hoạch hành động đa dạng sinh học. Xem thêm hướng dẫn trong phụ lục a.
Hd10 Định nghĩa được nêu trong chú thích 4 khoản Hd16 của Hướng dẫn này
11 Như theo định nghĩa của danh sách đỏ của IUCN về các loài đang bị đe dọa. việc xác định môi trường sống quan trọng dựa vào một số yếu tố khác như sau: (i) nếu loài được quốc gia hay vùng liệt vào danh sách các loài đang bị đe dọa hay đe dọa nghiêm trọng, ở những nước tuân thủ hướng dẫn của IUCN, việc xác định môi trường sống quan trọng sẽ tùy theo từng dự án có sự tư vấn của chuyên gia có năng lực; và (ii) ở những nước hay khu vực mà danh sách các loài đang bị đe dọa hay đe dọa nghiêm trọng không tương ứng với danh sách của IUCN (ví dụ một số nước chỉ phân loại “cần được bảo vệ” và “hạn chế”) thì cần thực hiện đánh giá để xác định lí do và mục đích của phân loại này. Trong trường hợp đó, việc xác định môi trường sống quan trọng sẽ dựa vào đánh giá đó.