Khi khách hàng đang mua các sản phẩm cơ bản

Một phần của tài liệu tiêu chuẩn hoạt động môi trường và xã hội (Trang 196 - 212)

trình này sẽ: (i) xác định nguồn cung từ đâu và loại môi trường sống của vùng này; (ii) cung cấp rà soát thường xuyên về các chuỗi cung ứng cơ bản của khách hàng; (iii) chỉ giới hạn mua từ các nhà nhà cung cấp có thể chứng minh họ không góp phần làm chuyển đổi đáng kể môi trường sống tự nhiên và/hoặc môi trường sống quan trọng (có thể chứng minh bằng việc cung cấp những sản phẩm được chứng nhận hay tiến trình để được chứng nhận vởi một tổ chức uy tín cho một số hành hóa cụ thể và/hoặc khu vực cụ thể); và (iv) khi phù hợp, yêu cầu thực hiện các hành động để chuyển dần chuỗi cung ứng cơ bản của khách hàng sang những nhà cung cấp có thể chứng minh họ không gây ảnh hưởng tiêu cực gì đến các khu vực này.

Khả năng của khách hàng để xử lý các rủi ro này phụ thuộc vào mức độ kiểm soát hay mức ảnh hưởng của khách hàng đến nhà cung cấp cơ bản.

Hướng dẫn 155. Khách hàng có thể mua thực phẩm, vật liệu sợi, gỗ, động vật và sản phẩm động vật, và hàng hóa liên quan để tiếp tục gia công hoặc kinh doanh mà không tham gia trực tiếp vào việc trồng hoặc thu hoạch các sản phẩm trên. Ngoài ra, các sản phẩm trên có thể sẽ qua một loạt trung gian trước khi được khách hàng mua. Khách hàng nên biết là có thể có rủi ro đáng kể đối với uy tín của mình liên quan tới sự tham gia của khách hàng trong chuỗi cung ứng như vậy nếu xác định được tác động tiêu cực đáng kể đối với đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái trong quá trình sản xuất các sản phẩm trên.

Hướng dẫn 156. Mối quan ngại và tác động tiêu cực bao gồm các khu vực và tình huống khi có sự chuyển đổi đáng kể của môi trường sống tự nhiên và quan trọng như được nêu trong khoản 13 và 16 tương ứng của Tiêu chuẩn hoạt động 6, và/hoặc thu hoạch quá mức đối với quần thể thực vật và động vật để dẫn tới sự suy thoái của dịch vụ hệ sinh thái ưu tiên và dẫn tới hậu quả đối với Cộng đồng bị ảnh hưởng, bản thân nguồn tài nguyên thiên nhiên sống, hoặc quá trình vận hành liên tục của khách hàng.

Hướng dẫn 157. Khách hàng tham gia gia công hoặc kinh doanh hàng hóa trên phải xây dựng và triển khai chính sách và quy trình phù hợp như một phần của ESMS của họ để xác định rủi ro trong chuỗi cung ứng, và để đánh giá khả năng mắc phải các rủi ro trên về mặt vận hành và uy tín. Khách hàng phải có hệ thống đảm bảo chất lượng và khả năng truy tìm phù hợp để có thể xác định một cách chính xác nguồn và gốc của sản phẩm của họ. Hệ thống truy tìm hoặc chuỗi giám hộ như vậy phải phù hợp để cho phép khách hàng loại trừ sản phẩm hoặc nhà cung cấp không đáp ứng yêu cầu chính sách và quy trình của khách hàng và gây ra rủi ro

21 Nhà cung cấp cơ bản là những nhà cung cấp thường xuyên các sản phẩm từ tài nguyên thiên nhiên, hàng hóa và nguyên liệu cần thiết cho quá trình vận hành của dự án.

đối với đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái.

Hướng dẫn 158. Trong trường hợp xác định được mối quan ngại như vậy, khách hàng phải xác định cách thức giải quyết và giảm rủi ro theo cách thức phù hợp với mức độ kiểm soát và khả năng ảnh hưởng của họ đối với chuỗi cung ứng. Cụ thể, khách hàng phải xác định nhà cung cấp chính, là những đơn vị cung cấp phần lớn tài nguyên thiên nhiên sống, hàng hóa và vật tư thiết yếu đối với quá trình sản xuất cơ bản của khách hàng trên cơ sở thường xuyên.

Hướng dẫn 159. Khách hàng phải phối hợp với những nhà cung cấp chính trên để khuyến khích và hỗ trợ họ trong việc xác định rủi ro và mối quan ngại trong chuỗi cung ứng của họ, và nếu có thể, cả trong việc xác định nhà cung cấp chính trên có thể thay đổi ở đâu và cách

nào để phòng tránh sự chuyển đổi và/hoặc suy thoái đáng kể của môi trường sống tự nhiên và quan trọng và đảm bảo quá trình quản lý bền vững đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên sống thông qua việc áp dụng tập quán quản lý tốt và công nghệ hiện có trong ngành.

Như một phần trong ESMS của họ, khách hàng phải xây dựng và áp dụng hoặc triển khai công cụ giám sát, hệ đo lường và phương pháp để lượng hóa hoạt động hiện tại của các nhà cung cấp chính, nếu phù hợp.

Hướng dẫn 160. Nếu tại nước sở tại đã có sẵn hệ thống xác nhận và chứng nhận phù hợp đối với quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững, khách hàng được khuyến khích cân nhắc mua những sản phẩm được chứng nhận và chứng minh sự xác nhận hoặc chứng nhận trong khuôn khổ chuỗi giám hộ có uy tín liên quan tới hàng hóa hoặc sản phẩm được xem xét.

Phụ lục A

Xây dựng kế hoạch hành động đa dạng sinh học Kế hoạch quản lý đa dạng sinh học

Trong trường hợp giá trị đa dạng sinh học có giá trị bảo tồn liên quan tới địa điểm hoặc khu vực ảnh hưởng của dự án, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (BaP) và/

hoặc Kế hoạch quản lý đa dạng sinh học (BMP)1 sẽ là cách thức hữu hiệu để tập trung biện pháp giảm nhẹ và chiến lược quản lý của dự án. việc xây dựng BaP/BMP có thể là theo yêu cầu của chính sách đa dạng sinh học của bản thân doanh nghiệp, hoặc viện tài chính quốc tế (IFI hoặc “Bên cho vay”) có thể yêu cầu có BaP/BMP để chứng minh sự tuân thủ với tiêu chuẩn của Bên cho vay. Các bên khác, ví dụ như cơ quan chính phủ, cơ quan bảo tồn hoặc Cộng đồng bị ảnh hưởng cũng có thể quan tâm tới việc xây dựng BaP/BMP để giải quyết vấn đề quan tâm cụ thể.

BaP/BMP độc lập là một tín hiệu rõ ràng gửi tới các bên liên quan để không chỉ cho thấy chiến lược giảm nhẹ do doanh nghiệp lựa chọn mà còn là tín hiệu về triết lý làm việc và khả năng của doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm đối với giá trị bảo tồn được biết. doanh nghiệp có thể quyết định tích hợp biện pháp giảm nhẹ và các biện pháp quản lý liên quan tới đa dạng sinh học vào trong Kế hoạch quản lý môi trường hoặc Kế hoạch hành động khác có tính phổ quát hơn. Trong những trường hợp như vậy, có thể có rủi ro là tính cam kết của doanh nghiệp sẽ khó được nhận thấy hơn hoặc bị lẫn chung với nhiều yếu tố khác, và có thể ít được tập trung hơn. Xây dựng BaP là quy định bắt buộc của Tiêu chuẩn hoạt động 6 nếu dự án hoạt động trong môi trường sống quan trọng và nên được tiến hành nếu dự án hoạt động trong môi trường sống tự nhiên. Trong cả hai trường hợp, việc xây dựng BMP được khuyến khích.

BaP/BMP cũng có thể có ích trong môi trường sống điều chỉnh nếu giá trị đa dạng sinh học quan trọng đối với việc bảo tồn liên quan tới khu vực đó.

Xây dựng Kế hoạch hành động đa dạng sinh học Nhìn chung, BaP có thể bao gồm số lượng bất kỳ các hoạt động liên quan tới đa dạng sinh học, các hoạt động này cần được doanh nghiệp triển khai để đáp ứng quy định, yêu cầu hoặc sự mong đợi cụ thể (tuân thủ quy định của Bên cho vay, quy định pháp lý, đáp ứng mối quan ngại của bên liên quan). BaP thường được xây

1 Có thể có nhiều tên gọi, bao gồm Kế hoạch quản lý môi trường (EMP) hoặc Kế hoạch quản lý Động vật và thực vật.

dựng trong trường hợp ESIa hoặc ESMS của dự án có chỗ thiếu hụt thông tin. Thông tin thiếu hụt liên quan tới quản lý đa dạng sinh học thường bao gồm: (i) dữ liệu kỳ gốc thiếu hoặc không đủ (thường do hạn chế về thời gian và/hoặc mùa vụ trong thời gian thu thập dữ liệu kỳ gốc); (ii) không xử lý dữ liệu hoặc xử lý chưa đủ để xác định rõ giá trị đa dạng sinh học cao; (iii) sự tham gia và tham vấn chưa đầy đủ của các bên liên quan, đặc biệt là chuyên gia bên ngoài; (iv) chưa đạt tiêu chuẩn trong việc đánh giá tác động và thiếu phân tích tác động được lượng hóa; (v) xác định chưa đầy đủ biện pháp giảm nhẹ, bao gồm cả các biện pháp để giảm nhẹ tác động tồn dư đáng kể; và, (vi) thiếu hoặc chưa đủ quy trình giám sát. Trong bất kỳ trường hợp nào thì chức năng của BaP là xác định biện pháp hoạt động điều chỉnh và khuôn khổ triển khai các biện pháp đó.

BaP cũng có thể là biện pháp để chứng minh tập quán tiên phong đối với các doanh nghiệp quyết định tuân thủ trên cả mức quy định. Trong trường hợp đó, các cơ hội bảo tồn bổ sung được xác định trong quá trình tham vấn với các bên liên quan có thể được triển khai qua BaP.

Một trong những yếu tố quan trọng nhất của BaP là việc xác định mục đích bao trùm và được hỗ trợ bởi một loạt các mục tiêu. ví dụ nếu chủ đích của BaP là giảm nhẹ tác động tồn dư đáng kể trong môi trường sống quan trọng thì mục đích có thể sẽ là thiết kế sự bồi hoàn đa dạng sinh học nhằm đạt được lợi ích thuần về giá trị đa dạng sinh học liên quan, và mục tiêu sẽ cho thấy cách thức để đạt được mục đích đó. BaP không nên bao gồm mục đích xa vời để nhằm thúc đẩy hoạt động dự án hoặc xoa dịu các bên liên quan bên ngoài. Mục đích/

mục tiêu phải thực tế và phải dựa trên chỉ tiêu phấn đấu có thể đo đếm được. Mỗi mục tiêu phải vạch ra một loạt các hoạt động và bao gồm tiêu chí hoàn thành hoặc chỉ tiêu giám sát, chỉ ra bên chịu trách nhiệm và khuôn khổ thời gian. Mọi quá trình trên phải được xây dựng với sự tham vấn của các bên liên quan, bao gồm chính phủ, chuyên gia bên ngoài, tổ chức bảo tồn địa phương/quốc tế và Cộng đồng bị ảnh hưởng.

Có nhiều thông tin hướng dẫn đối với việc xây dựng BaP của khu vực công, nhưng thông tin này có giá trị hạn chế đối với khu vực tư nhân. Hiệp hội bảo tồn môi

trường trong công nghiệp dầu khí quốc tế (IPIECa) có hướng dẫn có thể sử dụng được2, 3, nhưng ngoài ra thì có ít tài liệu hướng dẫn về vấn đề này được phổ biến cho công chúng. Điều này một phần là vì khu vực tư nhân rất đa dạng, trong khi mục đích phổ quát của BaP về mặt nội tại phụ thuộc vào từng nội dung và dự án cụ thể. Ngay cả trong cùng một doanh nghiệp, điều kiện dự án và quá trình đánh giá là khác nhau, và BaP được sử dụng để đáp ứng nhu cầu khác nhau. Hơn nữa, thuật ngữ “BaP” chưa được định nghĩa rõ ràng cho mục đích sử dụng trong khu vực tư nhân, và chưa có khuôn khổ được công nhận rộng rãi và có khả năng áp dụng trong nhiều lĩnh vực để sử dụng (ví dụ như đối với Kế hoạch hành động tái định cư).

Kế hoạch quản lý đa dạng sinh học

BMP được xây dựng khi dữ liệu kỳ gốc, quá trình đánh giá tác động và biện pháp giảm nhẹ được xây dựng phù hợp và chỉ còn có việc tổng hợp thông tin trên thành Kế hoạch quản lý có khả năng được triển khai và kiểm toán. Kế hoạch phải nêu rõ biện pháp giảm nhẹ, các bên có trách nhiệm triển khai (là doanh nghiệp, nhà thầu, chính phủ), giám sát quy định và lịch trình giám sát (hành tuần, tháng hoặc hai lần một năm). Cũng giống như các Kế hoạch quản lý môi trường và xã hội khác, BMP phải được tích hợp trong ESMS của doanh nghiệp và được nằm ngoài hệ thống. Xem tham khảo Tích hợp đa dạng sinh học vào trong hệ thống quản lý môi trường do Sáng kiến năng lượng và đa dạng sinh học xuất bản.4 Trong trường hợp bồi hoàn đa dạng sinh học, Kế hoạch quản lý có thể ở dưới dạng Kế hoạch triển khai chi tiết hơn, và sẽ cần có chuyên gia bên ngoài để xây dựng (đặc biệt là nếu sự bồi hoàn là do bên thứ ba quản lý). Xem Cẩm nang thực hiện bồi hoàn đa dạng sinh học do Chương trình doanh nghiệp và bồi hoàn đa dạng sinh học (Xu thế rừng, 2009) để tham khảo.5

Có sự khác biệt trong quy định giám sát trong BMP so với Chương trình giám sát và đánh giá đa dạng sinh học.

BMP là tập quán hoạt động tiêu chuẩn đối với mọi Kế hoạch quản lý, trong đó quy định giám sát đối với việc triển khai các biện pháp giảm nhẹ được xác định bên trong Kế hoạch. Đối với dự án có tác động tiêu cực đáng kể và chưa có tiền lệ, các chỉ tiêu hoạt động chính thường được xác định trong mọi Kế hoạch làm cơ sở giám sát.

Tuy nhiên, Chương trình giám sát và đánh giá đa dạng sinh học là quan niệm và phạm trù kỹ thuật khác trong lĩnh vực sinh vật học bảo tồn. quá trình giám sát đa dạng sinh học không thể chỉ căn cứ vào các biện pháp được tiêu chuẩn hóa như các biện pháp đã được xác định đối với việc giám sát không khí, tiếng ồn hoặc nước thải.

Chương trình giám sát và đánh giá đa dạng sinh học (để sử dụng tại hiện trường trong khu vực tư nhân) đòi hỏi phải xây dựng hệ đo lường để giám sát, ví dụ như sự tồn tại của loài cụ thể trong cảnh quan mặt đất/mặt biển hoặc sự sinh tồn của quần thể động thực vật dưới tác động liên quan tới dự án. Trong bối cảnh đa dạng của các loài và hệ sinh thái, việc xây dựng hệ đo lường chuẩn xác đòi hỏi kinh nghiệm của chuyên gia. Cũng giống như đối với BaP, điều có ý nghĩa cơ bản đối với Chương trình giám sát và đánh giá đa dạng sinh học là việc xác định mục đích và mục tiêu. Đối với dự án khu vực tư nhân, mục đích/mục tiêu luôn phải gắn liền với giá trị đa dạng sinh học có thể được đo lường và chịu tác động của dự án.

Xem thêm Chỉ tiêu đa dạng sinh học để giám sát tác động và có biện pháp bản tồn do Sáng kiến Năng lượng và đa dạng sinh học xuất bản.6

vì tính phức tạp của môi trường sống tự nhiên (và nhiều môi trường sống điều chỉnh), quản lý đa dạng sinh học phải được cân nhắc để có tính thích nghi cao.

doanh nghiệp phải nghiên cứu kết quả của chương trình giám sát và điều chỉnh biện pháp quản lý và giảm nhẹ ở mức cần thiết để bảo vệ được các giá trị đa dạng sinh học được xem xét một cách hiệu quả.

2 Hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động đa dạng sinh học cho ngành dầu khí (2005). Xem http://www.ipieca.org/publication/guide-developing-biodiversity-ac- tion-plans-oil-and-gas-sector.

3 Xem tham luận của Maguire và những người khác, 2010. Xây dựng kế hoạch hành động đa dạng sinh học thông qua cách tiếp cận được phân đoạn tích hợp. Hội các kỹ sư dầu khí (SPE) Hội nghị quốc tế về sức khỏe và môi trường (HSE) trong thăm dò và khai thác dầu khí, 12-14 tháng 4 2010, Rio de Janeiro, Brazil; Tham luận số 127208- MS (miêu tả kinh nghiệm của dự án lNG Peru, Hunt Oil); và Croucher, T và dholoo, E. 2010. Tiến tới BaP hoặc không BaP? Thách thức và cơ hội trong việc áp dụng kế hoạch hành động đa dạng sinh học trong ngành dầu khí. Hội nghị quốc tế SPE về HSE trong thăm dò và khai thác dầu khí, 12-14 tháng 4 2010, Rio de Janeiro, Brazil; Tham luận số 127133-MS.

4 http://www.theebi.org/products.html Xem thêm hệ thống quản lý đa dạng sinh học: Đề xuất về quản lý đa dạng sinh học tích hợp tại khu vực Holcim, IUCN, Gland, Thụy sỹ (2010) về ví dụ trong ngành xi-măng. http://cmsdata.iucn.org/downloads/

biodiversity_management_system___final.pdf

5 http://bbop.forest-trends.org/guidelines/. 6 http://www.theebi.org/products.html

Một phần của tài liệu tiêu chuẩn hoạt động môi trường và xã hội (Trang 196 - 212)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(244 trang)