Địa hình tích tụ

Một phần của tài liệu biển đông. t.3, địa chất - địa vật lý biển (Trang 51 - 60)

2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO BIỂN VIỆT NAM

2.2.3. Địa hình tích tụ

1. Đồng bng nghiêng trong đới tích t ca sóng cu to ch yếu là cát, bt và sét phát trin ven rìa delta ngm ca các sông chính là Sông Hng, sông Cu Long và mt s nơi khác thuc địa phn ca Malaysia

Nếu tính từ mép nước trở ra thì chiều rộng của kiểu địa hình này thay đổi từ vài trăm mét tới hàng chục km (tới độ sâu 20m nước).

Hình thái đồng bằng thường nghiêng và nhấp nhô gợn sóng do sự có mặt của các hệ thống van cát ngầm. Do có nguồn phù sa cung cấp dồi dào nên quá trình tích tụ có xu hướng nâng cao dần đáy biển.

Sông có một vai trò ảnh hưởng mang tính quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của các kiểu địa hình đồng bằng delta ngầm này, tuy nhiên sóng biển và thuỷ triều là tác nhân luôn luôn làm thay đổi hình thái bề mặt của chúng.

2. Đồng bng phân ct tích t dng vũng, vnh chu tác động ca thu triu cu to ch yếu là cát nh, bùn sét, phát trin trên các vùng st lún ven b

Thực chất, đây là kiểu địa hình tích tụ dạng vũng, vịnh phân bố ven bờ ở các khu vực Hà Tiên, Phú Quốc, Bắc Hải, Lôi Châu (Trung Quốc), vịnh Congponsom (Campuchia), vịnh Băngkok (Thái Lan), vịnh Bruney,...

Quá trình sụt chìm khu vực cùng với quá trình dâng cao của mực nước Biển Đông đã tạo ra đường bờ ở khu vực này có dạng Riat rất đặc trưng. Các khối đá gốc thường là các mũi nhô trước cửa vịnh và cũng là vật cản sóng truyền từ ngoài khơi vào trong vịnh. Trong hoàn cảnh động lực có môi trường năng lượng yếu nên quá trình tích tụ ở đây thường xảy ra ở phần đỉnh vịnh và 2 bên cửa vịnh, do vật liệu được đưa ra từ lục địa và một phần do dòng chảy ven bờ

đưa từ 2 phía của cửa vịnh vào.

Địa hình đáy vịnh thường có dạng trũng lòng chảo, phần xung quanh bờ bề mặt bị phân cắt mạnh do hệ thống các lạch triều hoạt động. Quá trình thuỷ triều là tác nhân quyết định quá trình hình thành và phát triển của bề mặt đáy.

3. Đồng bng nghiêng thoi, tích t trong đới tác động ca sóng và dòng chy đáy cu to ch yếu là cát bt và sét, phát trin ven rìa các khi nâng

Kiểu địa hình này phân bố chủ yếu bao quanh đảo Hải Nam thành một dải nằm ở độ sâu từ 20 - 40m. Chiều rộng của bề mặt có xu hướng lớn dần về 2 phía Đông Bắc và Tây Nam của khối nâng tạo cho ta một cảm giác đó là một vành phân tán trầm tích mang tính chất bất đối xứng do điều kiện động lực của sóng và dòng chảy tạo nên.

Bề mặt khá dốc do bị ảnh hưởng quá trình nâng lên của đảo Hải Nam. Phần trên của đồng bằng (ở độ sâu 20 - 25m) còn chịu ảnh hưởng tác động của sóng đặc biệt là sóng bão nên thành phần vật chất tích tụ ở đây thường là thô hơn, độ dốc bề mặt cũng lớn hơn.

Ngược lại phần dưới của đồng bằng có độ sâu lớn, vai trò của sóng không còn, vật liệu từ trên đưa xuống tích tụ chủ yếu là do dòng chảy đáy.

4. Đồng bng tích t dng tam gác châu thu triu

Nằm giữa đảo Hải Nam, Lôi Châu thuộc khu vực phía tây eo biển Quỳnh Châu (Trung Quốc).

Do địa thế khá đặc biệt của eo biển Quỳnh Châu là nằm giữa đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu nên đã tạo cho eo biển có dạng một kênh lớn với chiều dài khoảng 80km rộng 10 - 15km ăn thông giữa vịnh Bắc Bộ và Biển Đông. Sự chênh lệch về biên độ thuỷ triều ở đây (biên độ triều vịnh Bắc Bộ h = 3,0 - 3,5m, phía đông bán đảo Lôi Châu h = 4,5 - 5,0m) đã biến eo biển thành một kênh dẫn và thoát nước rất lớn. Tốc độ dòng triều tại cửa phía tây của eo biển Quỳnh Châu rất lớn đạt từ 7 - 10 hải lý/giờ, khi nước đổ vào vịnh Bắc Bộ tốc độ giảm, năng lượng triều được giải phóng dẫn đến quá trình tích tụ ở phía trước eo biển. Địa hình tích tụ trước eo biển có dạng một delta ngầm rất điển hình.

Các dạng địa hình trên mặt châu thổ có hướng kéo dài song song

với hướng của dòng triều là một đặc điểm điển hình ta thường gặp trước cửa sông vùng triều.

Khác với các kiểu địa hình tích tụ triều là ở đây vật liệu tích tụ chủ yếu là thành phần hạt thô do chế độ dòng triều lớn tạo nên.

5. Đồng bng nghiêng tích t trong đới tác động ca sóng và dòng chy đáy cu to ch yếu là cát, bt, sét, phát trin trên cu trúc phc tp

Chúng thường là những dải kéo dài gần như song song với đường bờ trong các khu vực đông bắc Quảng Ninh, phía đông Hồng Kông, đông bắc bờ biển Kotakinavalu (Malaysia), và phân bố ở độ sâu từ 15 - 50m.

Khác với các kiểu địa hình mô tả ở trên kiểu đồng bằng này có hình thái đa dạng, mức độ phân dị địa hình lớn. Bề mặt đồng bằng xuất hiện nhiều gò có độ cao 10 - 15m (như ở phía Đông Kotakinavaku). Thành phần vật chất cấu tạo đồng bằng cũng không đồng nhất (nếu như ở phía đông bắc Móng Cái, Hồng Kông vật liệu chủ yếu là bột sét thì ở phía tây bắc Kotakinavaku xuất hiện cả cát và trầm tích mảnh vụn sinh vật và san hô). Các thành tạo trầm tích này phủ trên nền các cấu trúc uốn nếp và đứt gẫy phức tạp.

6. Đồng bng nghiêng thoi, tích t trong đới tác động ca sóng và dòng chy đáy, cu to ch yếu là cát bt, sét phát trin trên khi nhô Korat - Natuna

Kiểu địa hình này chỉ xuất hiện ở thềm lục địa phía Đông Nam.

Chúng là một dải kéo dài hưóng Tây bắc - Đông Nam nằm trên khối nhô Korat. Hướng kéo dài của đồng bằng có lẽ bị khống chế bởi hướng của hệ thống đứt gãy Tây Bắc - Đông Nam chạy từ vịnh Thái Lan đến Nam Côn Sơn. Sự nhô cao của móng Mezozoi làm cho bề dày trầm tích Kainozoi bị hạn chế (thường chỉ đạt 0,5km).

Quá trình hoạt động của sóng tác động tới đáy bị hạn chế do độ sâu nước biển lớn, chỉ có sóng bão mới có khả năng làm xáo trộn vật liệu phân bố trên bề mặt đáy biển. Dòng chảy do sóng đặc biệt là dòng chảy đáy đã mang vật liệu từ phần ven bờ ra cung cấp cho đồng bằng.

7. Đồng bng tích t dng vũng, vnh trong đới tác động ca dòng chy đáy cu to ch yếu là cát mn, bt sét, phát trin trên các cu trúc bn trũng

Trên bản đồ kiểu địa hình này phân bố chủ yếu là ở bồn trũng Cô Tô - Lôi Châu và bồn trũng Cửu Long. Chúng có hình dạng khá đẳng thước nằm kẹp giữa các khối nhô, do đó trong lịch sử hình thành, chúng đã từng là các hồ và vịnh điển hình.

Đồng bằng trũng Cô Tô - Lôi Châu bị kẹp một bên là khối nâng Hải Nam, một bên là khối nâng Bạch Long Vĩ, còn đồng bằng trũng Cửu Long thì khống chế bởi dải nâng địa luỹ Côn Sơn ở phía Đông và Đông Nam, và khối nâng Cù Lao Thu ở phía Đông Bắc.

Quá trình tích tụ ở đây chủ yếu diễn ra theo cơ chế lấp đầy do đó trong suốt Kainozoi đã tạo được một bề dày trầm tích 5.000 – 8.000m. Đồng bằng trũng này nằm ở độ sâu từ 30 - 50m nước do đó không chịu ảnh hưởng tác động của sóng, quá trình dòng chảy đáy là tác nhân chính đưa vật liệu từ đới sóng biến dạng và phá huỷ xuống để tích tụ.

Các khối nâng ở hai bên và phía ngoài của đồng bằng trũng đóng vai trò vừa là nơi cung cấp vật liệu trầm tích vừa là vật chắn các dòng bồi tích từ phía lục địa đưa ra. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ nâng cao dần đáy của đồng bằng.

8. Đồng bng nghiêng, phân ct tích t trong đới tác động ca dòng chy đáy cu to ch yếu là thành phn ht mn, phát trin trên cu trúc chuyn tiếp ca Rift Sông Hng

Đồng bằng phân bố từ độ sâu trên 20 m đến độ sâu 50m, nó là phần chuyển tiếp giữa châu thổ ngầm của Sông Hồng xuống trũng vịnh Bắc Bộ.

Bề mặt đồng bằng bị phân cắt bởi các hệ thống sông nối tiếp từ Sông Hồng, sông Thái Bình chảy ngầm dưới đáy biển, ở đây có 2 nguồn chính cung cấp vật liệu đó là do các hệ thống sông lục địa mang ra và các dòng chảy đáy vận chuyển vật chất từ đới sóng biến dạng và phá huỷ đưa xuống.

Lớp phủ của đồng bằng được hình thành trên cấu trúc chuyển tiếp giữa trũng Đông Quan có bề dày trầm tích gần 8 km với trũng Sông Hồng có bề dày trầm tích đạt 14km.

Móng của đồng bằng bị chia cắt thành nhiều khối do 2 hệ thống đứt gãy có hướng vuông góc với nhau tạo nên.

Đứt gãy hướng Tây Bắc - Đông Nam là đứt gãy Sông Hồng

khống chế ở phía Tây Nam và đứt gãy Hải Dương - Bạch Long Vĩ chiếm lĩnh ở phía Đông Nam. Quá trình sụt chìm không đều của móng đã tạo ra các gờ phân cách giữa 2 bồn trũng Đông Quan và trũng Sông Hồng.

Đồng bằng tích tụ nằm trên một khu vực có chế độ địa động lực không ổn định làm cho hình thái địa hình trở nên phức tạp và đa dạng.

9. Đồng bng nghiêng tích t dng vũng, vnh trong đới tác động ca dòng chy đáy cu to bi các thành phn vt liu ht mn phát trin trên cánh nâng ca đới rift Sông Hng

Diện tích phân bố của đồng bằng tương đối lớn chiếm hầu hết phần ngoài của vịnh Diễn Châu từ độ sâu 20 - 50m nước.

Bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng và đồng nhất, nguồn vật liệu của Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cả, được vận chuyển về đây để tích tụ. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tạo hạt mịn như cát nhỏ, bột và sét, người ta còn thấy xuất hiện các vật liệu hạt thô như sạn, dăm, phân bố ở độ sâu 20 - 25m. Các dải hạt thô đó là tàn dư của đường bờ Pleistocen muộn - Holocen sớm còn được bảo tồn trên bề mặt đồng bằng.

Quá trình nâng lên ở cánh phía Tây của trũng Rift Sông Hồng làm cho bề mặt đồng bằng có độ nghiêng thoải ở phía trong và độ dốc tăng lên ở phía ngoài trước khi chuyển xuống đáy trung tâm vịnh Bắc Bộ.

Hoạt động của hệ thống đứt gãy Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cả và hệ thống đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam đã làm cho móng của đồng bằng bị phân dị thành các khối không đều. Quá trình nâng lên của cánh Tây Nam bể Sông Hồng khiến cho bề dày trầm tích Kainozoi ở đây bị giảm đáng kể (chỉ đạt 0,5km).

Do tính chất đồng bằng nằm trong vịnh nên ngoài nguồn cung cấp vật liệu từ lục địa đưa ra còn có dòng bồi tích đưa từ phía Bắc xuống và phía Nam lên làm cho bề mặt đồng bằng được bồi đắp xoá nhoà các rãnh phân cắt của các canhon ngầm dưới đáy.

10. Đồng bng nghiêng, phân ct tích t dng delta c, trong đới di chuyn bi tích cu to ch yếu là bt - sét, phát trin trên trũng Rift

Đồng bằng có dạng một châu thổ phân bố trước cửa vịnh Bắc Bộ, từ độ sâu 80 đến 100m. Trong lịch sử hình thành vịnh Bắc Bộ nếu xem chúng là kết quả chồng lấn của các châu thổ Sông Hồng trong nhiều

giai đoạn khác nhau thì đồng bằng châu thổ này là một châu thổ được hình thành khá sớm, ít nhất cũng xuất hiện vào đầu Pleistocen.

Hoạt động của sông cổ còn để lại trên bề mặt châu thổ các dải trũng kéo dài 5 đến 35km với độ sâu vài mét tới hàng chục mét so với bề mặt đáy. Từ các trũng này cho phép ta nối thành một hệ thống các nhánh sông đổ ra cửa vịnh Bắc Bộ rất giống với phần hạ lưu Sông Hồng hiện tại đổ ra biển.

Quá trình sụt lún Rift Sông Hồng cùng với sự lấp đầy không bù trừ của vật liệu đã tạo cho bề mặt móng của đồng bằng có bề dày đạt tới 14km. Quá trình bồi đắp hiện đại được thực hiện bởi các dòng chảy đáy từ trong vịnh đưa vật liệu ra và từ hai phía cửa vịnh đưa tới.

11. Đồng bng trũng dng lòng máng, tích t trong đới di chuyn bi tích cu to ch yếu là bt sét phát trin trung tâm các rift Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan. Quá trình hình thành đồng bằng gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống rift. Hệ thống đứt gãy Tây Bắc - Đông Nam nằm ở hai phía của Rift có vai trò định hướng hai dải đồng bằng. Quá trình sụt chìm lâu dài đã tạo nên các cấu trúc bồn trũng với bề dày trầm tích Kainozoi đạt từ 10 - 14km. Bên cạnh đó quá trình tách dãn của đáy biển tạo cho địa hình đồng bằng mở rộng ở phần hạ lưu nhiều hơn. Đồng bằng được thành tạo theo cơ chế lấp đầy bồn trũng của các vật liệu từ Sông Hồng và các sông khác đưa ra đồng thời có sự tham gia của các quá trình vận chuyển vật liêu phá hủy từ sườn bờ ngầm của hai cánh nâng Tây Nam và Đông Bắc của Rift đưa xuống.

12. Đồng bng trũng tích t lp đầy, trong đới tác động ca dòng chy đáy cu to ch yếu là bt - sét, phát trin trên các bn trũng sâu

Kiểu địa địa hình này phân bố chủ yếu ở trung tâm vịnh Thái Lan và ven bờ Malaysia với độ sâu từ 60 - 80m. Hình thái đồng bằng là các trũng kéo dài, chiều rộng từ 80 - 100km ở trung tâm vịnh Thái Lan và 30 - 40km ở phía Đông Bắc Malaysia chiều dài từ 200 - 350km. Quá trình sụt chìm lâu dài trong thời kỳ tân kiến tạo cộng với quá trình lấp đầy vật liệu đã tạo cho bồn trũng có bề dày trầm tích Kainozoi đạt từ 6 - 8km.

Đồng bằng lấp đầy bồn trũng Patani (Thái Lan) có bề dày trầm tích Kainozoi khoảng 6200m phủ trên móng granit có tuổi Mezozoi,

trong khi đó đồng bằng lấp đầy trũng Malaysia có móng granít ở độ sâu 8km. Các cấu tạo trầm tích không chỉ giới hạn trong Neogen mà có cả trầm tích trước Neogen. Phía Đông Bắc và Tây Nam của hai đồng bằng bị khống chế bởi hai cấu tạo nâng kéo dài theo hai cánh của bồn trũng.

Quá trình lấp đầy hai bồn trũng này đã diễn ra trong ba chu kỳ khác nhau kể từ Oligocen. Bắt đầu mỗi chu kỳ bằng việc lắng đọng trầm tích trong môi trường hồ hoặc biển nông ven bờ và kết thúc mỗi chu kỳ bằng việc hình thành các đồng bằng tích tụ aluvi. Tuy nhiên chu kỳ thứ ba bắt đầu từ Pliocen muộn kéo dài hết kỷ Đệ tứ và đến nay vẫn chưa kết thúc.

13. Đồng bng li, gn sóng, tích t trong đới tác động ca dòng chy đáy cu to ch yếu là bt, sét, phát trin trên g nâng phân cách gia các bn trũng

Trên bản đồ chúng phân bố thành dải hẹp chạy theo hướng kinh tuyến giữa bồn trũng Patani và Malaysia. Dải đồng bằng này nổi cao 25 đến 30m so với các khu vực xung quanh tạo cho ta cảm giác là các bề mặt sót của một châu thổ cổ. Với độ sâu nói trên, có lẽ vào cuối Pleistocen muộn, hai dải nổi cao này đã từng là đê cát chắn phía ngoài của bồn trũng Patani, tách hai bồn trũng Patani và Malaysia biệt lập với nhau. Quá trình thành tạo của chúng có liên quan đến vật liệu phù sa của sông Cửu Long mang xuống tích tụ giống như cơ chế hình thành mũi Cà Mau hiện tại còn đang bị ngập dưới nước.

14. Đồng bng nghiêng thoi, gn sóng vi nhiu gò đồi tích t trong đới di chuyn bi tích, phát trin trên các cu trúc phc tp Đồng bằng phân bố thành dạng dải kéo dài từ phía Đông đảo Hải Nam tới vùng biển phía Nam Hồng Kông. Ranh giới của kiểu địa hình này bắt đầu từ độ sâu 50m và ranh giới dưới đến mép ngoài của thềm lục địa giáp với quần đảo Hoàng Sa. Quá trình tích tụ của vật liệu từ lục địa đưa ra và từ các đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa mang tới đã san phẳng một loạt các bỗn trũng Nam Hải Nam, bồn trũng Châu Giang... (dải bồn trũng này liên kết với nhau thành địa hào chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam). Quá trình san lấp địa hào trong Đệ tứ đã vượt trội so với tốc độ sụt lún của vỏ Trái đất và do đó địa hình đáy biển hiện tại hầu như đã xoá nhoà những nét cấu trúc trước kia của một địa hào. Sự xuất hiện gờ nhô cao 10m so với đáy kéo dài song song với đường đẳng sâu 50m có thể là những phần

Một phần của tài liệu biển đông. t.3, địa chất - địa vật lý biển (Trang 51 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(542 trang)