2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO BIỂN VIỆT NAM
2.2.2. Địa hình tích tụ - mài mòn
19. Trũng dạng thung lũng ngầm tích tụ - xâm thực, trong đới di truyền bồi tích cấu tạo chủ yếu là bột sét, phát triển rìa thềm lục địa Trũng có hình thái giống với một thung lũng sông bắt nguồn từ phần ngoài của thềm lục địa đổ xuống sườn lục địa. Kiểu địa hình duy nhất này chỉ gặp ở phía Đông Bắc Natuna.
Trũng có dạng kéo dài hướng gần Bắc - Nam, chiều rộng chỗ hẹp nhất là 20km, chiều sâu cách bề mặt đáy của thềm lục địa từ 100 - 240m. Trắc diện ngang của “thung lũng” có dạng chữ “U” đặc trưng cho giai đoạn trưởng thành của một con sông ngầm.
Bờ vách dốc và sự chênh sâu lớn giữa bề mặt đáy biển thềm lục địa với đáy thung lũng tạo điều kiện cho việc xâm thực mở rộng thung lũng về các phía. Toàn bộ vật liệu trên thềm lục địa đưa xuống được dòng chảy ngầm vận chuyển xuống sườn lục địa. Căn cứ vào hình thái thung lũng có thể thấy dòng sông ngầm tại đây vẫn đang hoạt động khá tích cực.
20. Đồng bằng nghiêng, tích tụ - mài mòn trong đới tác động của sóng cấu tạo chủ yếu là vật liệu thô cát, bột, phát triển ven rìa khối nâng
Đây là dải đồng bằng hẹp phân bố từ mép nước đến độ sâu 20m, bề mặt nghiêng thoải về phía biển. Trên bản đồ chúng thể hiện ở ven biển miền Trung, quanh đảo Hải Nam, tây Campuchia, đông bắc Malaysia,...
Do độ sâu của đáy biển không lớn nên quá trình tác động của sóng làm cho bề mặt đáy bị biến đổi thường xuyên. Sóng có vai trò xếp sắp lại vật liệu từ phía lục địa đưa ra, đồng thời sóng cũng tham gia vào quá trình mài mòn bờ và sườn bờ ngầm.
Đặc trưng của kiểu địa hình này là được cấu tạo chủ yếu là cát, trên bề mặt đồng bằng xuất hiện nhiều hệ thống van cát ngầm do dòng chảy rối hình thành. Các dạng vi địa hình trên bề
mặt đáy luôn luôn bị biến đổi do sự thay đổi của điều kiện động học, do đó nhìn chung hình thái địa hình trở nên phức tạp và rất đa dạng.
21. Đồng bằng nghiêng thoải, tích tụ - mài mòn trong đới tác động của sóng cấu tạo chủ yếu là sạn cát, bột, phát triển trên cấu trúc vòm nâng
Thực tế kiểu đồng bằng này là phần ngập nước bao quanh các đảo Bạch Long Vĩ và đảo Lý Sơn, độ dốc bề mặt có thể đạt tới 3 - 50.
Phần trên của bề mặt thường tích tụ các vật liệu thô từ cuội, sỏi, sạn cát do sóng phá huỷ từ xung quanh đảo đưa xuống, phần dưới tích tụ thành phần hạt thô. Các bề mặt mài mòn đá gốc nằm ở độ sâu 18 - 20m ở Bạch Long Vĩ, Lý Sơn xen kẽ với các bề mặt tích tụ tạo cho bề mặt địa hình mang tính đa nguồn gốc.
Quá trình nâng lên của cấu trúc vòm này đã làm cho bề mặt tích tụ gia tăng về diện tích, song chúng thường bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy, ví dụ ở Bạch Long Vĩ, đồng bằng bị gián đoạn bởi hai hệ thống đứt gãy có hướng gần như vuông góc với nhau trong khi đó ở khu vực Lý Sơn chúng bị gián đoạn bởi hai đứt gãy gần song song hướng kinh tuyến. Đặc biệt trắc diện của các đồng bằng này thường có hai phần, phần tiếp giáp với đảo thường dốc, gẫy khúc, phần dưới sâu thoải và mềm mại hơn. Quá trình tích tụ và mài mòn có xu hướng san bằng dần trắc diện tạo cho đáy biển có hình dáng mềm mại hơn phù hợp với điều kiện động học.
22. Cánh đồng Karst, tích tụ xâm thực mài mòn, trong đới tác động của sóng và thuỷ triều, phát triển trên các cấu trúc phức tạp Bề mặt đáy biển vịnh Hạ Long được hình thành do quá trình chìm ngập của khu vực đồi và núi đá vôi trong Holocen. Các thung lũng Karst, các phễu và hang động Karst còn được bảo tồn dưới lớp nước biển. Quá trình chìm ngập làm cho toàn bộ hệ thống thung lũng bị vùi dưới lớp trầm tích bùn sét hiện đại, các khối Karst sót nhô cao thành các đảo là bằng chứng của quá trình phá huỷ Karst lục địa trước kia.
Trong điều kiện nước biển, quá trình Karst hoá diễn ra chậm hơn so với điều kiện nước ngọt, do đó hầu hết các hang động, các bậc mài mòn dưới nước vẫn tồn tại theo nhiều thế hệ tuổi khác nhau.
23. Máng trũng tích tụ - xâm thực mài mòn trong đới tác động của sóng thuỷ triều cấu tạo chủ yếu là cát, sạn sỏi, phát triển giữa hai khối nâng
Móng trũng tích tụ - xâm thực này chiếm hầu hết eo biển Quỳnh Châu (Trung Quốc) nằm giữa khối nâng Hải Nam và bán đảo Lôi Châu. Chiều dài trũng 100km, chiều rộng 20 - 30km, khoét sâu xuống 20 - 25m so với đáy biển vịnh Bắc Bộ nói riêng và Biển Đông nói chung. Phần sâu nhất của trũng là ở trung tâm đạt trên 50m và nâng dần về hai phía: phía đông và phía tây chỉ còn trên 20m. Do biên độ triều giữa vịnh Bắc Bộ và Biển Đông Hải (Trung Quốc) chênh lệch khá lớn (1 - 2,0m) nên khi triều lên và xuống qua eo biển Quỳnh Châu tạo thành dòng triều có tốc độ khá lớn, trũng eo biển Quỳnh Châu trở thành một kênh tiêu thoát nước giữa vịnh Bắc Bộ và Biển Đông Hải. Do hai bên bờ bán đảo Lôi Châu và Hải Nam có cấu tạo từ các thành tạo rắn cho nên khả năng xâm thực ngang để mở rộng lòng bị hạn chế, toàn bộ năng lượng dòng triều dư thừa tập trung cho xâm thực sâu, đào lòng dần thành một máng trũng có độ sâu như mô tả ở trên. Do cơ chế xâm thực đặc biệt này mà ở hai đầu phía tây và phía đông của bồn trũng chủ yếu là tích tụ nâng cao dần đáy, còn khu vực trung tâm bị xâm thực rất mạnh và trở thành nơi cung cấp vật chất cho hai phía của bồn trũng.
24. Đồng bằng phân cắt, tích tụ - mài mòn trong đới tác động của sóng cấu tạo bởi cát, bột phát triển trên khối nâng địa lũy
Chúng phân bố giữa hai đứt gãy hướng Đông Bắc - Tây Nam, bề mặt nổi cao so với xung quanh tạo thành một gờ chắn bồn trũng Cửu Long với trũng Nam Côn Sơn. Địa luỹ này vừa đóng vai trò ngăn cản nguồn vật liệu từ bờ đưa ra, đồng thời chúng cũng là nơi cung cấp vật liệu trầm tích cho hai bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn.
Ở độ sâu đến 20m, bề mặt đáy biển bị tác động trực tiếp của sóng, do đó vật liệu phân bố ở đây thường là thô. Phần tiếp giáp với đảo bị mài mòn và trở thành nơi cung cấp vật liệu cho khu vực dưới sâu. Quá trình nâng lên trong giai đoạn tân kiến tạo làm cho móng của đồng bằng dâng cao và bề dày trầm ích Kainozoi giảm chỉ còn 400 - 500m.
25. Đồng bằng nghiêng thoải, tích tụ - mài mòn trong đới tác động của sóng và dòng chảy cấu tạo bởi cát, bột, phát triển trên cấu trúc đơn nghiêng
Độ sâu phân bố của chúng từ 20 - 50m nước tạo thành một dải bao quanh phía ngoài của lục địa Bắc Trung Bộ và Malaysia. Bề mặt đồng bằng có độ dốc biến dổi từ 2 đến 40. Hoạt động của hệ thống sông lục địa tiếp tục chảy ngầm dưới nước có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành đồng bằng. Hệ thống sông ngầm này đóng vai trò vận chuyển vật liệu từ lục địa ra và từ đới động lực phía trên đưa xuống tạo ra các vật tích tụ. Quá trình tích tụ đóng vai trò chủ đạo đã tạo cho bề mặt đáy biển các hệ thống vi địa hình, đó là các nếp nhăn dòng. Ở khu vực có độ sâu 20 - 25m bề mặt đáy chỉ bị tác động khi có sóng lớn (sóng bão). Quá trình mài mòn mang tính thất thường này đã để lộ ra trên bề mặt đáy lớp sét cổ.
Với tốc độ sụt lún tân kiến tạo từ 0,125 - 0,2mm/năm đã tạo điều kiện cho việc tích tụ trầm tích Kainozoi có bề dày từ 0,5 - 1km. Các lớp trầm tích này có độ nghiêng chung cắm về phía trung tâm trũng Rift, và chúng thường bị vát mỏng dần khi vào gần bờ. Kiểu địa hình này thực chất chỉ là phần chuyển tiếp giữa khối nâng lục địa với vùng sụt lún của Rift.
26. Đồng bằng nghiêng tích tụ - mài mòn trong đới tác động của dòng chảy đáy cấu tạo bởi cát bột sét, phát triển trên đới cấu trúc chuyển tiếp giữa khối nâng địa luỹ với bồn trũng
Trên bình đồ dải đồng bằng này phân bố ở phía Đông Nam khối nâng Côn Sơn độ sâu từ 30 - 50m, trên bề mặt xuất hiện một số gò, đồi nhô cao khỏi đáy 15 - 28m ví dụ như bãi Đông Sơn, bãi Cảnh Dương,… và các dải trũng kéo dài có độ sâu 5 - 7m so với bề mặt đáy. Các gò đồi, các dải trũng có lẽ là những dạng địa hình sót có nguồn gốc sông đã từng trải qua thời kỳ là đới ven bờ. Về mặt cấu tạo, đồng bằng được tích tụ trên móng trước Kainozoi có độ sâu từ 0,5 - 1,5km, bề mặt móng nghiêng dần về phía bồn trũng Nam Côn Sơn. Quá trình sụt lún của bể Nam Côn Sơn đã kéo theo chuyển động âm của khu vực này chìm dần với tốc độ 0,2 - 0,3mm/ năm.
Các khối nâng địa phương như Đông Sơn - Cảnh Dương (60N - 1070E) làm cho địa hình đáy nhô cao, chịu tác động mài mòn của sóng biển đặc biệt là sóng bão. Hoạt động của hệ thống đứt gãy dạng vòng cung ở phía Tây Bắc và đứt gãy Đông Nam cùng với sự có mặt của phun trào bazan phía Đông Bắc của đồng bằng chứng tỏ
hoạt động tân kiến tạo khu vực này rất tích cực. Dấu vết đường bờ cổ là các thành tạo hạt thô phân bố ở độ sâu 45 - 50m chứng tỏ đồng bằng này bị chìm ngập trong thời gian không lâu (có lẽ là sau Pleistocen muộn?).
27. Đồi, núi lửa mài mòn, trong đới tác động của sóng, phát triển trên các vòm nâng hoặc các khối nhô
Trên thềm lục địa Biển Đông, sự xuất hiện của các đồi, núi lửa chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực Lý Sơn, Cù Lao Thu, Hòn Hải, Catwit,... các núi lửa này phun dưới biển theo nhiều giai đoạn khác nhau từ Neogen đến hiện đại. Chúng thường phân bố ở khu vực giao nhau của các hệ thống đứt gãy và nơi giao nhau của các cấu trúc kiến tạo. Tại Lý Sơn phun trào bazan đã xuyên qua trầm tích cát kết Neogen tạo nên cấu trúc vòm rất điển hình. Phần bazan nổi cao tạo thành đảo, phần ngập nước là đỉnh vòm cấu tạo bằng cát kết Neogen. Hiện tại chúng bị mài mòn tạo ra bậc mài mòn bao quanh đảo. Nhiều đồi bazan chưa vươn tới mặt nước như khu vực Catwit, Hòn Hải, Hòn Tro đã bị sóng mài mòn phần đỉnh và phá huỷ các sườn tạo ra các vách dốc (cliff).