Định hướng và quan điểm đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở HVCT-

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động đào tạo ở học viện trong bối cảnh hiện nay (Trang 140 - 150)

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

3.1. Định hướng và quan điểm đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở HVCT-

3.1.1. Định hướng đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Nghị quyết số 52 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học của HV trong giai đoạn mới chỉ rõ:

- HVCT-HCQGHCM phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng Bộ Chính trị khẳng định mục tiêu và yêu cầu của HV là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung cao cấp của hệ thống chính trị, góp phần xây dựng đội ngũ những người lãnh đạo chính trị có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới; đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị có trình độ trên đại học, nhằm cung cấp cán bộ chủ chốt cho các cơ quan và các viện nghiên cứu khoa học xã hội, giảng viên lý luận chính trị cho các trường chính trị.

- Về chương trình và nội dung đào tạo: Đổi mới hoàn thiện chương trình các hệ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo.

- Học viện phối hợp với các ban ngành, tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

- Đổi mới nội dung chương trình vừa phải bảo đảm tính khoa học, cơ bản và hệ thống, vừa phải đảm bảo tính hiện đại, thực tiễn và chuyên môn nghiệp vụ.

- Chiêu sinh đúng đối tượng, đảm bảo quy mô hợp lý. Cán bộ thuộc diện quy hoạch lãnh đạo quản lý chủ chốt nhất thiết phải qua đào tạo tập trung.

- Thực hiện lãnh đạo toàn diện, chú trọng nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện năng lực tư duy khoa học, xử lý tình huống, rèn luyện đạo đức lối sống.

- Gắn bồi dưỡng lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, với thực tiễn đổi mới đất nước.

- Áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại, đổi mới phong cách học tập, phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực độc lập của người học.

- Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý đào tạo, cơ chế quản lý học viên, kiểm tra đánh giá kết quả học tập [20].

3.1.2. Quan điểm đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Để thực hiện định hướng đổi mới công tác đào tạo và quản lý hoạt động đào tạo của Học viện theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, việc đề xuất các giải pháp đổi mới cần quán triệt các quan điểm chủ yếu sau:

3.1.2.1. Quản lý hoạt độngđào tạo phải phù hợp với bối cảnh hiện nay

Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hoá không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, đó cũng là quá trình quốc tế hoá về sự trao đổi văn hoá và giao lưu tư tưởng. Quốc tế hoá tạo ra những thị trường rộng lớn và những cơ hội cho sự phát triển to lớn cho các quốc gia. Song, quốc tế hoá cũng làm cho cạnh tranh trở nên toàn cầu, gay gắt và dữ dội hơn, đồng thời lợi thế so sánh bị giảm do các nguồn lực di chuyển dễ dàng hơn. Tận dụng những cơ hội của quá trình quốc tế hoá và đương đầu với cạnh tranh toàn cầu

trở thành thách thức lớn nhất cho sự tồn tại và phát triển của các tổ chức và đây cũng là thách thức lớn nhất đối với công tác quản lý hiện nay. Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học “Tầm nhìn và hành động” (diễn ra từ 5 - 9/10/1999) đã chỉ ra những xu thế lớn của thế giới tác động đến giáo dục đào tạo dẫn đến sự thay đổi lớn trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, buộc nhân loại phải thay đổi không chỉ về mặt nhận thức mà còn cả trong hoạt động trước bối cảnh này.

Sau 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tính định hướng XHCN trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ngày càng sáng tỏ hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới tình hình thế giới diễn biến khá phức tạp. Hội nhập kinh tế quốc tế luôn chứa đựng cả vận hội, thời cơ và thách thức. Về kinh tế tuy đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng không bền vững và hiệu quả thấp, phân hóa giàu nghèo ngày càng giãn ra, tình trạng tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, những vấn đề về xã hội, quản lý tài nguyên môi trường luôn là những vấn đề nóng. Hệ thống thể chế còn thiếu và không đồng bộ. Những vấn đề về chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia luôn là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với xu hướng dân chủ hóa, phân cấp, trao quyền chủ động cho các địa phương đơn vị, cá nhân để chủ động và tự chịu trách nhiệm.

Rõ ràng trong bối cảnh đầy biến động phức tạp đó, ngoài nhận thức quán triệt đường lối chính sách, người lãnh đạo rất cần có phẩm chất chính trị, phẩm chất cá nhân, năng lực nội sinh, tri thức, kỹ năng, thái độ để chủ động thích ứng, vận dụng sáng tạo nhằm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Bối cảnh mới cũng đặt ra một cách nghiêm túc yêu cầu đổi mới quản lý hoạt động đào tạo cán bộ lãnh đạo.

HVCT-HCQGHCM là nơi đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống tổ chức Đảng và bộ máy quản lý Nhà nước, là tổ chức nghiên cứu những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội cũng như những vấn đề khoa học mang tầm vĩ mô và có tính thời đại, không gian học tập nghiên cứu rộng mở.

Bởi vậy, hơn ai hết trong thời gian tới, HV phải là tổ chức tiên phong và sáng tạo trong việc đổi mới quản lý hoạt động đào tạo, gắn công tác đào tạo với sử dụng kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, mở rộng không gian cho sự chọn lựa các quyết sách vĩ mô, gắn quản lý đào tạo với hợp tác quốc tế để mở rộng tầm nhìn đổi mới tư duy và tiếp cận với những thành tựu mới về khoa học xã hội nhân văn, khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo quản lý, đảm bảo cho học viên có thể thích nghi nhanh chóng với môi trường nhiều biến động và thách thức như hiện nay. Có rất nhiều vấn đề và nhiều cơ hội để trao đổi học tập: xây dựng hệ thống chính trị, dân chủ hoá, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền hành chính trong sạch, quản lý dịch vụ công... Trong nội dung chương trình đào tạo cán bộ cần dành một thời lượng nhất định cho việc nghiên cứu học tập ở nước ngoài bổ sung cho chương trình chính khoá. So với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội có độ bão hoà hơn nhưng không có nghĩa là bất biến mà luôn vận động biến đổi. Vì vậy hàng năm hoặc 5 năm một lần cần đánh giá những tri thức không còn phù hợp để bổ sung, thay thế.

3.1.2.2. Quản lý hoạt động đào tạo phải gắn với sứ mệnh và mục tiêu của Học viện

Để tồn tại và phát triển, các tổ chức đều phải xác định sứ mệnh và mục tiêu đặc biệt là các mục tiêu chiến lược. Ở nước ta hiện nay vấn đề này còn nhiều quan điểm khác nhau về lý luận và chưa được quan tâm thoả đáng trong thực tiễn. Theo chúng tôi, sứ mệnh là một khái niệm để chỉ ý nghĩa, lý do tồn tại và hoạt động của tổ chức; còn mục tiêu được hiểu là kết quả mong muốn cuối cùng mà tổ chức cần đạt được, là đích mà các hành động phải hướng tới. Xác định đúng sứ mệnh và mục tiêu sẽ là định hướng chiến

lược cho hoạt động của tổ chức, là cơ sở cho việc triển khai các kế hoạch hoạt động.

HVCT-HCQGHCM có lịch sử lâu dài, trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều lần thay đổi tên gọi, mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ.

Song, sứ mệnh của Học viện về cơ bản không thay đổi đó là Trung tâm quốc gia đứng đầu về nghiên cứu và đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, kiến thức và năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức kinh doanh thuộc khu vực Nhà nước phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện CNH, HĐH đất nước… Sứ mệnh trên chi phối toàn bộ hoạt động quản lý của Học viện từ việc xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng kế hoạch chiến lược cho đến xây dựng chương trình, nội dung, phương thức đào tạo, phương thức quản lý và các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và các khâu của quá trình quản lý đào tạo.

HVCT-HCQGHCM là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lý luận chính trị có vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống chính trị, là trung tâm hàng đầu quốc gia về đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cho các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội liên quan đến hình thành luận cứ khoa học và quan điểm đường lối đổi mới, hoạch định điều hành chính sách vĩ mô. Với quy mô lớn và có nhiều điểm khác biệt so với các Học viện, các Trường đại học và các tổ chức đào tạo khác, vì vậy việc xác định rõ sứ mệnh, mục tiêu của HV có ý nghĩa hết sức quan trọng không những làm rõ định hướng phát triển mà còn góp phần làm tăng lợi thế và năng lực cạnh tranh của HV so với các tổ chức đào tạo khác ở trong nước và trên thế giới.

Đây là điều mà các nhà quản lý phải đặc biệt quan tâm trong quá trình đổi mới công tác quản lý đào tạo ở HV.

3.1.2.3. Quản lý hoạt động đào tạo phải tập trung nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo

Mục đích của quản lý đào tạo là phải góp phần tạo ra những sản phẩm đào tạo có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu xã hội, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động và các nhà sử dụng. Chất lượng giáo dục đào tạo là vấn đề được quan tâm không chỉ ở nước ta mà ở hầu hết các nước trên thế giới. Để xác định thế nào là chất lượng giáo dục đào tạo thì còn nhiều ý kiến tranh luận với nhiều trường phái khác nhau, nhưng theo chúng tôi, sản phẩm có chất lượng là khi chúng đạt được những chuẩn mực được quy định từ trước, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội. Các chuẩn mực này được các nhà đào tạo xác định theo yêu cầu của khách hàng, của nhà sử dụng. Sản phẩm, dịch vụ được coi là có chất lượng khi chúng “phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai”.

Xã hội và các nhà sử dụng sản phẩm đào tạo là người phán xét chất lượng cuối cùng của sản phẩm đào tạo. Trước đó người sản xuất, các nhà đào tạo phải tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ với những chuẩn mực nhất định.

Những chuẩn mực này phải phù hợp với những chuẩn mực của khách hàng.

Vấn đề là làm thế nào để chuẩn mực của nhà đào tạo đặt ra phải phù hợp với chuẩn mực của các nhà sử dụng để tạo ra sự hài lòng cho họ. Điều này đòi hỏi các nhà đào tạo phải nghiên cứu nhu cầu khách hàng, phân loại nhu cầu và thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu của các nhóm khách hàng.

Đối với đào tạo, phải coi trọng công tác quản lý chất lượng trong tất cả các khâu: quản lý đào tạo, quản lý nghiên cứu khoa học, quản lý dịch vụ công cộng, quản lý đội ngũ cán bộ, quản lý học viên, quản lý các nguồn lực và tài sản, quản lý các dịch vụ hỗ trợ…

Trong những năm qua HVCT-HCQGHCM đã thực hiện nhiều hoạt động điều tra khảo sát nhu cầu đào tạo, đặc biệt là điều tra khảo sát trực tiếp từ người học để trên cơ sở đó thiết kế chương trình và nội dung đào tạo phù hợp với các loại đối tượng đào tạo. Tuy nhiên, các hoạt động đó chưa được

thực hiện một cách toàn diện, triệt để vì thế ít có tác dụng trong việc làm thay đổi công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Hiện tại HV chưa có cơ chế và thước đo để đánh giá một cách toàn diện, chính xác chất lượng đào tạo của HV. Đây cũng là hạn chế chung của hệ thống giáo dục đào tạo cả nước. Nếu không xác định được chất lượng thì khó có thể nói đến việc nâng cao chất lượng.

Chúng tôi cho rằng, chất lượng đào tạo cán bộ ở HVCT-HCQGHCM có thể được thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu trên 4 nhóm lớn:

Một là, phù hợp với sứ mệnh và mục tiêu của Học viện

Hai là, kết quả học tập của học viên bao gồm kiến thức, kỹ năng để sáng tạo trong nhận thức, vận dụng vào thực tiễn

Ba là, sự chuyển hoá kiến thức vào những cương vị cụ thể, những công việc cụ thể

Bốn là, quá trình đào tạo là quá trình tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, tác phong

Khác với chất lượng của các sản phẩm hàng hoá, chất lượng sản phẩm đào tạo có độ trễ về thời gian. Vì vậy, để đánh giá một cách đầy đủ là một quá trình và rất cần sự kết nối giữa Học viện và các cơ quan sử dụng.

3.1.2.4. Đổi mới quản lý hoạt động đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của học viên

Một quy trình đào tạo gồm 3 khâu chủ yếu: Đầu ra, công nghệ đào tạo và đầu vào. Các khâu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó khâu đầu ra chi phối các khâu còn lại. Trước hết, cần phải xác định rõ đặc điểm của sản phẩm đào tạo. Sản phẩm đó được xác định căn cứ vào nhu cầu của xã hội, của nhà sử dụng và được thể hiện trong bản tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu của Học viện. Sau đó, căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm như vị trí công việc, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, đạo đức, phẩm chất chính trị... để thiết kế công nghệ đào tạo và quản lý phù hợp. Công nghệ đào tạo và do đó

công tác quản lý đào tạo ít nhất bao gồm 6 thành tố: chương trình và học liệu, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, dịch vụ đào tạo, tài chính, quản lý. Các thành tố này phải hướng vào đáp ứng yêu cầu sản phẩm đầu ra và phải tương thích với nhau. Có thể nói, xây dựng và quản lý tốt nội dung và chương trình đào tạo là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công cho công tác đào tạo. Nhìn vào nội dung chương trình đào tạo người ta có thể hình dung được đặc điểm của sản phẩm đào tạo, tính phù hợp của sản phẩm đào tạo với thị trường lao động, với nhu cầu của các nhà sử dụng. Khi có được chương trình đào tạo và nội dung đào tạo chuẩn thì đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là thành tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình đào tạo. Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo các giảng viên phải chủ động cung cấp những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp mà nhà sử dụng cần chứ không phải dựa vào những kiến thức sẵn có và ý muốn chủ quan của người giảng viên. Ngoài ra tổ chức và quản lý một quá trình đào tạo không thể không tính đến một điều kiện về cơ sở vật chất và một nguồn lực tài chính thích hợp, không thể có chất lượng đào tạo tốt nếu cơ sở vật chất thiếu thốn và nguồn lực tài chính hạn hẹp.

Sản phẩm đào tạo của HV là cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều nét đặc thù so với sản phẩm các Trường đại học, các Học viện khác như đã nêu ở các phần trước vì vậy công tác quản lý đào tạo của HV phải rất linh hoạt và sáng tạo. Học viên của HV là những người có mặt bằng kiến thức cao từ bậc đại học trở lên, có nhiều kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý và rất đa dạng. Vì vậy, công tác quản lý đào tạo phải rất chú trọng quan điểm lấy học viên làm trung tâm, phải biết khai thác tri thức thực tiễn từ học viên. Một phương pháp giảng dạy thụ động, dạy chay, nặng về lý thuyết, thiếu tình huống thực tế là không thể chấp nhận được ở HV. Các kiến thức đào tạo ở Học viện là kiến thức hai chiều: một là sự truyền đạt tiếp nhận kiến thức của Học viện, hai là thực tiễn lãnh đạo quản lý của các địa phương, vừa kiểm

Một phần của tài liệu Quản lý hoạt động đào tạo ở học viện trong bối cảnh hiện nay (Trang 140 - 150)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(242 trang)