Hệ thống các nguyên tắc dạy học

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 62 - 77)

Chương 3. Nguyên tắc dạy học đại học

2. Hệ thống các nguyên tắc dạy học

2.1. Khái quát về sự phân loại các nguyên tắc dạy học

Từ xưa tới nay, trong các tài liệu về lí luận dạy học, các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều hệ thống nguyên tắc dạy học

khác nhau. Trong lịch sử phát triển của giáo dục học, các nguyên tắc dạy học được các nhà nghiên cứu trên cơ sở hoạt động thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm giáo dục đã đề xuất và quán triệt trong dạy học từ khá lâu. Người đầu tiên đưa ra hệ thống các nguyên tắc dạy học tương đối hoàn chỉnh là J.A. Cômenxki (1592 - 1670), nhà sư phạm lỗi lạc, ông tổ của nền giáo dục cận đại. Dựa trên quan điểm giáo dục phải thích ứng với quy luật phát triển của tự nhiên, Cômenxki đã đề xuất các nguyên tắc dạy học như: Đảm bảo tính trực quan trong dạy học; Dạy học phải đảm bảo tính vững chắc; tính vừa sức; phải phát huy tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập cho người học... Tiếp theo là các nhà giáo dục nổi tiếng như J.Lôc-cơ (1632-1704, người Anh), J.J. Rút-xô (1712-1778, người Pháp), IG. Pét-xta-lôzi (1746-1827, người Thụy Sĩ), K.Đ. Usin-xki (1824-1870, người Nga),... Dựa trên các cơ sở triết học, tâm lý học và đạo đức học, các nhà giáo dục đã đưa ra các nguyên tắc dạy học có cơ sở lý luận và thực tiễn như nguyên tắc đảm bảo tính khoa học trong dạy học; nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục; nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn; nguyên tắc đảm bảo tính trực quan; nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc, v.v... Cho đến nay, các nguyên tắc dạy học truyền thống đó vẫn còn có giá trị trong thực tiễn dạy học.

2.2. Các nguyên tắc dạy học

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nhận thức luận, bản chất quá trình dạy học, qui luật khách quan chi phối tâm - sinh lý người học... chúng ta có thể nêu hệ thống các nguyên tắc dạy học ở nhà trường như sau:

2.2.1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, tính giáo dục và tính nghề nghiệp trong dạy học

Nguyên tắc này yêu cầu:

Người học phải nắm vững (một cách tự giác) những tri thức khoa học chân chính, chính xác phản ánh những thành tựu hiện đại của khoa học, kĩ thuật và văn hóa. Phải từng bước trang bị cho người học những phương pháp tự học, có thói quen suy nghĩ và làm việc

một cách khoa học. Trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan khoa học, lí tưởng cách mạng, những phẩm chất đạo đức cần thiết của người công dân, người lao động tương lai. Đồng thời, toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy học phải định hướng theo mục tiêu đào tạo, hướng đến hình thành ở người học năng lực nghề nghiệp theo chuyên ngành đào tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền sản xuất ngày càng phát triển

Một số biện pháp thực hiện

- Trang bị cho người học những một hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo toàn diện, hiện đại và chính xác về mọi lĩnh vực của đời sống con người, được chọn lọc từ các khoa học tương ứng về các mặt tự nhiên, xã hội, tư duy, nghệ thuật... Hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo này được sắp xếp theo một lôgic chặt chẽ thông qua các môn học;

- Đảm bảo tính hiện đại của nội dung dạy học có liên quan đến nghề nghiệp tương lai, nghĩa là phải nắm vững những quan điểm mới, lí thuyết mới, phương pháp mới phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường cũng như với thực tiễn nghề nghiệp và thực tiễn chung của đất nước. Đồng thời đề phòng và chống lại các quan điểm, học thuyết phản động, phản khoa học.

- Thiết kế nội dung dạy học cân đối giữa giáo dục đại cương và giáo dục nghề nghiệp, giữa lý thuyết và thực hành; gắn đào tạo với quá trình sản xuất, kinh doanh ở các doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, thực hành;

- Tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, giáo dục đạo đức, lí tưởng nghề nghiệp, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc... thông qua hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoại khóa khác.

- Đảm bảo tính hệ thống, tính sư phạm khi tổ chức quá trình dạy học;

- Sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tạo điều kiện cho người học tự giác, tích cực, độc lập học tập, ngăn ngừa tình trạng học vẹt

2.2.2. Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong quá trình dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, phải làm cho người học nắm được những tri thức lý luận thuộc các lĩnh vực của đời sống, tác dụng của những tri thức này đối với đời sống, đối với thực tiễn và kỹ năng, kỹ xảo vận dụng chúng một cách thành thạo góp phần cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân.

Nguyên tắc này cũng đòi hỏi lý luận nghề nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở thực tiễn nghề nghiệp và quay về chỉ đạo thực tiễn nghề nghiệp để thực tiễn nghề nghiệp kiểm định và làm phong phú thêm lý luận.

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Nó giúp cho người học có điều kiện thuận lợi trong việc nắm vững lí luận nghề nghiệp và tiến hành hoạt động thực tiễn nghề nghiệp một cách có cơ sở, tránh được tình trạng lí thuyết suông hoặc thực tiễn mù quáng. Trên cơ sở đó, chuẩn bị cho người học tham gia hoạt động thực tiễn nghề nghiệp với những cương vị nhất định, phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn đó.

Một số biện pháp thực hiện

Ngày nay sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, liên hệ giữa việc dạy học và đời sống được thực hiện ngày càng đầy đủ trong tất cả các khía cạnh của công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường:

- Trước hết phải xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp với sự phát triển của thực tiễn nghề nghiệp và sự phát triển của khoa học công nghệ

- Khi lựa chọn môn học, nội dung môn học nhằm bảo đảm mối liên hệ giữa tri thức lý thuyết với thực tiễn đời sống và thực tiễn nghề nghiệp. Khi xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương các môn học phải quán triệt chuẩn đầu ra của mỗi nghề

Ở đây cần lưu ý rằng:

Hệ thống tri thức lý thuyết bao gồm các khái niệm, phạm trù, các định lý, định luật, công thức, qui tắc... là sản phẩm của quá trình

nghiên cứu tìm ra chân lý của các nhà khoa học. Hệ thống tri thức lý thuyết này được thể hiện thông qua nội dung các môn học trong nhà trường. Những lý thuyết (tri thức mới) được cung cấp cho người học qua dạy bài mới.

Cùng với hệ thống tri thức lý thuyết nói trên, quá trình dạy học còn phải rèn luyện để hình thành ở người học các thao tác về kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng lý luận đã học vào trong đời sống thực tiễn. Đây chính là một hoạt động thực tiễn của dạy học.

- Hoạt động thực tiễn ở mức độ thấp (thực tiễn mức 1) được thể hiện thông qua các hoạt động thực hành của người học. Đó là giờ luyện tập, ôn tập, thực hành trên lớp, trong phòng thí nghiệm, giải quyết các bài làm về nhà... Mục đích của các hoạt động thực hành này nhằm biến tri thức của nhân loại thành tri thức của bản thân người học. Muốn vậy, người học phải vận dụng một cách thành thạo những tri thức đã lĩnh hội ở mức độ kỹ năng (áp dụng trong tình huống tương tự) và kỹ xảo (tình huống đã biến đổi).

- Song hệ thống tri thức không dừng lại ở các hoạt động thực hành, mà yêu cầu người học phải vận dụng sáng tạo vào trong đời sống thực tiễn (thực tiễn mức 2). Ở đây, mục đích của dạy học được thể hiện nguyên tắc dạy học này bằng hành động trả lời của người học: “học để làm gì” chỉ có như vậy, hoạt động học tập mới có ý nghĩa tích cực đối với người học.

+ Thực tiễn mức 2: người học biết vận dụng những điều đã học vào trong đời sống thực tiễn. Ở đây, các bài tập được nâng cao, đòi hỏi khả năng trí tuệ của người học, từ đó nảy sinh ra các hoạt động sáng tạo của người học.

Như vậy, hoạt động thực hành cần rèn luyện cho người học đang học tập bao gồm cả kỹ năng tư duy, kỹ năng thực hành sáng tạo. Trước hết là các thao tác, các kỹ năng, kỹ xảo thu lượm, phân tích và tổng hợp các thông tin để thông hiểu và ghi nhớ chính xác, diễn đạt mạch lạc những điều đã lĩnh hội; tiếp theo là các hành động thực hành, vận dụng tri thức đã học vào giải quyết các bài tập thực

hành; tất nhiên cao hơn nữa là áp dụng được vào đời sống, từ đó phát hiện ra cái mới, sáng tạo ra sản phẩm mới. Ở đây, chúng ta thấy, chính thông qua hoạt động thực tiễn này, người học được khắc sâu hơn, nắm được bản chất hơn cơ sở lý luận ban đầu, và được soi sáng bởi nguồn gốc thực tiễn.

- Cần chú trọng vận dụng phương pháp để người học được gần gũi với thực tiễn: phương pháp thực nghiệm, trực quan, luyện tập, dạy học qua trải nghiệm.

- Tiến hành các hình thức tổ chức dạy học đa dạng như dạy học ở vườn thí nghiệm, ruộng thí nghiệm, phòng thí nghiệm, xưởng trường...

- Làm cho người học hiểu rõ quá trình ra đời và phát triển của các khoa học nói chung nhất là các khoa học về nghề nghiệp tương lai của mình nói riêng, từ đó sẽ làm nảy sinh ý thức tham gia tích cực góp phần thúc đẩy sự tiến bộ các khoa học này.

- Làm cho người học thấy rõ đặc điểm của nghề, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay để từ đó người học sẽ không bỡ ngỡ khi bước vào đời, ý thức được nghề nghiệp tương lai và tích cực tham gia hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực chuyên môn của mình.

- Coi trọng đúng mức việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp trên cơ sở nắm vững lý thuyết.

- Coi trọng đúng mức hoạt động thực tập - thực hành môn học;

thực tập nghề nghiệp tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang sử dụng nghề nghiệp

2.2.3. Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học

Nguyên tắc này yêu cầu: phải làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong mối liên hệ lôgic và tính kế thừa, phải giới thiệu cho họ hệ thống những tri thức khoa học hiện đại, mà hệ thống đó được xác định không chỉ nhờ vào cấu trúc của lôgic khoa học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức của người học. Tính tuần tự phát triển

những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức của người học khác rất nhiều (đặc biệt là ở lứa tuổi) với hệ thống tri thức khoa học do những nhà bác học trình bày, nhưng nó phải dựa trên cơ sở khoa học nhất định.

Một số biện pháp thực hiện:

- Xây dựng hệ thống môn học, chương, chủ đề và những tiết học phụ thuộc vào lý thuyết làm cơ sở cho sự khái quát.

- Khi xây dựng nội dung dạy học phải tính tới những mối liên hệ giữa các môn học, mối liên hệ giữa những tri thức trong bản thân của từng môn và tính tích hợp tri thức của các môn học.

- Tính hệ thống và tính tuần tự không những được thể hiện trong hoạt động của người người dạy mà ngay cả trong công việc học tập của người học. Chính vì vậy, điều hết sức quan trọng là phải hình thành cho người học thói quen lập kế hoạch một cách hợp lý hoạt động học tập của mình, thói quen lập dàn bài một cách lôgic cho những câu trả lời miệng, những bài tập làm văn và thực hiện những công tác trong phòng thí nghiệm.

2.2.4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong quá trình dạy học

Nguyên tắc này yêu cầu:

Trong quá trình dạy học, phải làm cho người học tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng, hay các hình tượng của chúng, để từ đó dễ dàng nắm các khái niệm, các quy luật. Ngược lại có thể để người học nắm những cái trừu tượng, khái quát rồi xem xét các sự vật, hiện tượng cụ thể. Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu phải bảo đảm mối liên hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.

Một số biện pháp thực hiện:

- Cần làm cho người học thấy được sự cần thiết đặc biệt của tri thức lý thuyết;

- Sử dụng phối hợp nhiều loại phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là các phương tiện nhận thức và các nguồn nhận thức;

- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói, nghĩa là kết hợp 2 hệ thống tín hiệu với nhau;

- Rèn luyện cho người học óc quan sát và năng lực rút ra những kết luận có tính khái quát;

- Tổ chức, điều khiển người học trong những trường hợp nhất định, nắm những cái trừu tượng, khái quát (khái niệm, qui tắc...) rồi từ đó đi đến những cái cụ thể riêng biệt (lấy ví dụ minh họa, vận dụng qui tắc để giải bài tập cụ thể...);

- Cho người học làm các bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa cụ thể hóa và trừu tượng hóa, giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.

2.2.5. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức với tính mềm dẻo của tư duy trong quá trình dạy học

Nguyên tắc này yêu cầu:

Trong quá trình dạy học, phải làm cho người học nắm được vững chắc hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và khi cần, có thể nhớ lại và vận dụng linh hoạt vào các tình huống nhận thức hay thực tiễn khác nhau.

Tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có nghĩa là hệ thống tri thức này người học đã lĩnh hội được, và chúng được vận dụng trong những tình huống tương tự (thao tác kỹ năng, cũng như các tình huống khác nhau đã biến đổi (thao tác kỹ xảo). Người học lĩnh hội vững chắc tri thức, kỹ năng, kỹ xảo làm nền tảng, cơ sở để lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tiếp theo.

Tính mềm dẻo của tư duy là mức độ nhận thức cao hơn, dựa trên tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đối với người học.

Tính mền dẻo của tư duy ở người học là muốn nhấn mạnh cách thức vận dụng linh hoạt của người học trước các tình huống khác nhau trong quá trình nhận thức. Chính trong quá trình vận dụng này, sẽ nảy sinh hoạt động sáng tạo của người học. Như vậy, hoạt động sáng tạo của người học không tự nhiên mà có, mà nó phải được hình thành dựa trên hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học đã lĩnh hội được một cách vững chắc.

Mục đích tối ưu của quá trình dạy học là phải hình thành và rèn luyện cho người học có tính linh hoạt trong hoạt động học tập. Ở đây tính linh hoạt được thể hiện ở chỗ, người học tiến hành hoạt động trí tuệ không những nhanh chóng mà còn di chuyển nhạy bến hoạt động này từ tình huống nọ sang tình huống kia. Ví dụ, người học từ chỗ giải nhanh chóng, chính xác các bài tập trong giáo trình đến chỗ giải nhanh các bài tập thực tiễn. Tính linh hoạt giúp cho người học thích ứng với những tình huống nhận thức khác nhau một cách nhanh chóng, bảo đảm nắm tri thức mới nhanh hơn, có hiệu quả hơn.

Tóm lại tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻo của tư duy có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau. Tính mềm dẻo của tư duy chỉ hình thành ở mỗi người học khi người học đã lĩnh hội được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách vững chắc và chính thông qua hoạt động sáng tạo điển hình (vận dụng linh hoạt tri thức đã học trong các tình huống) sẽ giúp người học củng cố vững chắc những điều đã lĩnh hội.

Một số biện pháp thực hiện

Để đảm bảo được sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻo của tư duy, phải hình thành cho người học năng lực:

- Biết lựa chọn những tri thức cơ bản cần ghi nhớ lâu dài và vững chắc;

- Biết sử dụng nhiều loại ghi nhớ một cách khoa học;

- Phải tập luyện, vận dụng một cách có hệ thống những tri thức đã nắm được vào các tình huống học tập cũng như những tình huống thực tiễn khác nhau;

- Phải ôn tập tích cực, có hệ thống, có kế hoạch, với nhiều hình thức khác nhau, luôn luôn mở rộng, đào sâu tri thức đã lĩnh hội được.

2.2.6. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong quá trình dạy học

Nguyên tắc này yêu cầu:

Trong QTDH phải lựa chọn, phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp với trình độ chung của cả lớp, đồng thời phù hợp với trình

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 62 - 77)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(302 trang)