Hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở đại học

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 107 - 135)

Chương 5. Các hình thức tổ chức dạy học ở đại học

2. Hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở đại học

Căn cứ vào mục tiêu và nội dung đã được xác định, việc tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học phù hợp cũng là một khâu quan trọng tác động lớn tới hiệu quả dạy - học. Có nhiều cách phân loại các hình thức tổ chức dạy học: theo cấu trúc (lên lớp lí

thuyết, làm việc nhóm, làm việc tại phòng thí nghiệm, hoạt động ngoài lớp học v.v.), theo qui trình (qui trình về thời gian, cho miễn học/phụ đạo, địa điểm học tập (trong trường, ngoài trường), theo cách cấp chứng chỉ môn học v.v. và theo công nghệ (máy tính, các loại bảng, website v.v).

2.1. Bài học với toàn lớp - hình thức dạy học cơ bản của quá trình dạy học

2.1.1. Khái quát về bài học

Bài học với toàn lớp (hình thức lên lớp) là hình thhức tố chức dạy học có những đặc điểm cơ bản sau:

- Công việc được tiến hành theo lớp với số lượng người học phù hợp với khả năng lãnh đạo và điều khiển của người dạy và đặc điểm môn học. Những người học này cùng độ tuổi, trình độ nhận thức tương đương, đảm bảo cho việc giảng dạy theo trình độ chung của cả lớp;

- Hoạt động học tập được tiến hành theo tiết học. Các tiết học được sắp xếp khoa học thành thời khóa biểu.

- Người dạy trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học cả lớp, có chú ý đến đặc điểm riêng của từng người học.

Ưu điểm của hình thức lên lớp:

- Tạo điều kiện đào tạo hàng loạt người học đáp ứng được nhu cầu học tập của người học và yêu cầu của đất nước về dân trí và nhân lực;

- Đảm bảo cho người học lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo một cách có kế hoạch, có hệ thống phù hợp với yêu cầu của khoa học giáo dục

- Đảm bảo sự thống nhất trên toàn quốc về kế hoạch, nội dung dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người học trong học tập cũng như trong việc giáo dục người học những phẩm chất đạo đức.

Nhược điểm của hình thức lên lớp:

- Không đủ thời gian, điều kiện để người học nắm vững ngay tất cả những tri thức cũng như rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo trên lớp theo chương trình học tập.

- Không có điều kiện để người dạy chú ý đầy đủ đến các đặc điểm nhận thức riêng của từng người học.

- Không có điều kiện để người học thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết rộng rãi và sâu sắc về những tri thức trong chương trình và vượt ngoài chương trình

Với những ưu và nhược điểm trên ta cần thấy hình thức lên lớp là hình thức tổ chức dạy học cơ bản nhưng không phải là duy nhất, cần sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức dạy học khác.

2.1.2. Các loại bài học và cấu trúc của các loại bài học

Trong quá trình lên lớp, người ta thực hiện các loại bài học khác nhau. Hiện nay, vấn đề phân loại các bài học dựa trên mục đích của bài học. Trên cơ sở đó, có thể xác định các loại bài học sau:

- Bài lĩnh hội tri thức mới.

- Bài rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.

- Bài củng cố, hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo - Bài kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo - Bài hỗn hợp.

Mỗi loại bài học có cấu trúc riêng của nó. Cấu trúc của bài học có những dấu hiệu sau: có những yếu tố nhất định, những yếu tố được sắp xếp theo một trình tự nhất định; những yếu tố có mối liên hệ với nhau. Cấu trúc của bài học bao gồm cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô.

Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc, trong đó đề cập tới những yếu tố cơ bản của của bài học. Ví dụ, các yếu tố: tổ chức lớp, tích cực hóa tri thức, giảng bài mới...

Cấu trúc vi mô là cấu trúc, trong đó đề cập đến những yếu tố góp phần thực hiện yếu tố vĩ mô. Những yếu tố vĩ mô bao gồm các phương pháp, phương tiện dạy học.

Cấu trúc của bài học là cấu trúc động, nghĩa là cấu trúc được biến một cách linh hoạt trong những tình huống cụ thể: có thể thay đổi trình tự thực hiện các yếu tố vĩ mô, hoặc có thể thực hiện các yếu tố vĩ mô xen kẽ nhau và đặc biệt là thâm nhập vào nhau. Có thể xác định và vận dụng các yếu tố vi mô, tức là xác định và vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học không giống nhau trong những tình huống khác nhau.

Sự biến đổi linh hoạt trong cấu trúc vĩ mô và trong cấu trúc vi mô của bài học được thực hiện khi thiết kế bài học và ngay trong khi tiến hành bài học.

2.1.2.1. Cấu trúc của bài lĩnh hội tri thức mới

Mục đích của loại bài này: là tổ chức, điều khiển người học lĩnh hội tri thức mới.

Cấu trúc vĩ mô của bài học:

- Tổ chức lớp: Nắm số người học có mặt, vắng mặt, ổn định trật tự, chuẩn bị làm việc;

- Tích cực hóa tri thức làm chỗ dựa cho việc nắm tri thức mới.

- Thông báo đề tài, mục đích và nhiệm vụ của bài học.

- Giảng bài mới: Đây là khâu trung tâm của bài học. Nó chiếm khoảng thời gian nhiều nhất, thu hút trí lực của thầy và trò nhiều nhất. Thực chất của khâu này là giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học để tổ chức điều khiển người học nắm tri thức mới.

- Củng cố tri thức mới - Tổng kết bài học - Ra bài tập về nhà.

2.1.2.2. Cấu trúc của bài rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo

Mục đích: Tổ chức, điều khiển người học luyện tập kĩ năng, kĩ xảo (cả lao động trí óc và tay chân);

Cấu trúc vĩ mô của bài học:

- Tổ chức lớp

- Thông báo đề bài, mục đích và nhiệm vụ của bài học (cần rèn luyện những kĩ năng nào, yêu cầu luyện tập đến mức độ nào?)

- Tích cực hoá những tri thức và những kinh nghiệm thực hành cần thiết cho việc luyện tập.

- Giới thiệu lí thuyết luyện tập kĩ năng, kĩ xảo (có thể kết hợp với đàm thoại và làm mẫu nếu cần).

- Tổ chức, điều khiển người học tự mình luyện tập, theo dõi, giúp đỡ người học khắc phục khó khăn, uốn nắn sai sót.

- Tổng kết bài học: Nhận xét, đành giá kết quả luyện tập cũng như tinh thần thái độ làm việc của người học.

- Ra bài tự học: thường là tự luyện tập để hoàn thiện kỹ năng.

2.1.2.3. Cấu trúc của bài củng cố, hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Mục đích: Tổ chức, điều khiển người học củng cố, khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã học.

Cấu trúc vĩ mô của bài học:

- Tổ chức lớp;

- Thông báo đề bài, mục đích và nhiệm vụ của bài học;

- Kích thích người học nhớ lại những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, khái quát hóa, hệ thống hóa chúng;

- Tổng kết bài học;

- Ra bài tập tự học.

2.1.2.4. Cấu trúc của bài kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Mục đích: tổ chức, điều khiển người học kiểm tra, đánh giá kết quả nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học.

Cấu trúc vĩ mô của bài học:

- Tổ chức lớp;

- Thông báo đề bài, mục đích và nhiệm vụ của bài học;

- Tổ chức, điều khiển người học độc lập hoàn thành nội dung kiểm tra theo thời gian qui định;

- Thu bài (nếu là kiểm tra viết) hoặc sản phẩm thực hành;

- Tổng kết bài học.

2.1.2.5. Bài hỗn hợp

Mục đích: thường nhằm vào nhiều mục đích như: lĩnh hội tri thức mới; luyện tập kĩ năng, kĩ xảo; ôn tập cho nên cấu trúc vĩ mô của nó có những yếu tố cơ bản lấy từ các loại bài học khác nhau.

2.1.3. Những yêu cầu đối với bài học

Trong quá trình lên lớp bất cứ bài học nào cũng đảm bảo những yêu cầu sau:

Yêu cầu về mặt tư tưởng:

Trong quá trình dạy học, thông qua việc võ trang tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần bồi dưỡng cho người học cơ sở của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và những phẩm chất của người công dân, người lao động đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như nền kinh tế tri thức hiện nay.

Việc giáo dục người học được thực hiện thông qua nội dung, phương pháp, tổ chức dạy học. Ở đây có điều cần chú ý là, phải gắn chặt giáo dục tư tưởng với nội dung bài học, làm cho nó mang tính tự nhiên, không gò bó.

Yêu cầu về mặt lý luận dạy học:

Trước hết, căn cứ vào chương trình, giáo trình, cần xây dựng một hệ thồng bài học khác nhau, tùy theo mục đích, nhiệm vụ của môn học, cũng như của từng bài học, từ đó có kế hoạch thực hiện nghiêm túc.

Đối với mỗi bài học, cần xây dựng và thực hiện linh hoạt cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô một cách hợp lý nhất. Cần phê phán và khắc phục cả hai quan niệm cực đoan về cấu trúc bài học: quan niệm thứ nhất cho rằng cấu trúc của bài học là cấu trúc không thể thay đổi được; quan niệm thứ hai cho rằng, bài học không cần cấu trúc.

Trong quá trình lên lớp, người dạy cần vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học

nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, nhận thức của người học dưới vai trò chủ đạo của mình.

Yêu cầu về mặt tâm lý:

Người dạy cần nắm được các đặc điểm tâm lý chung của cả lớp và của riêng từng người học để có thể đối xử thích hợp. Trên cơ sở đó, cần quan tâm bồi dưỡng cho người học thái độ tích cực đối với việc học tập, vì đây là một điều kiện có ý nghĩa quan trọng đối với việc tự giác, tích cực nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Thái độ của người học đối với việc học tập thể hiện ở sự chú ý và hứng thú đối với việc học tập. Muốn vậy, người dạy cần vận dụng linh hoạt nội dung, phương pháp dạy học, tổ chức hợp lý nhịp điệu làm việcvà ngăn ngừa những yếu tố nhiễu từ bên ngoài. Bên cạnh đó, cần giáo dục cho người học ý thức đầy đủ đối với việc học tập. Cần hiểu rằng một sự học tập mà người học chẳng có hứng thú gì cả và chỉ biết hành động do sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của cá nhân.

Đứng về mặt tâm lý, còn có một điều cần quan tâm nữa là, người dạy cần có thái độ thân mật nhưng nghiêm túc, chan hòa nhưng không suồng sã, vui vẻ nhưng không đùa cợt, tự tin nhưng biết tự chủ... Có thể nói thái độ và phẩm chất của người dạy có ảnh hưởng rất lớn đến người học trong quá trình dạy học nói chung và quá trình lên lớp nói riêng.

Yêu cầu về mặt vệ sinh:

Khi lên lớp cần đảm bảo những yêu cầu về vệ sinh học đường, như những yêu cầu về ánh sáng, nhiệt độ, không khí, tiếng ồn…;

những yêu cầu về tổ chức thời khóa biểu, về tổ chức hoạt động chân tay và trí óc. Có như vậy, thầy và trò mới có thêm điều kiện duy trì khả năng làm việc, lâu mệt mỏi, nâng cao hiệu suất dạy và học.

2.1.4. Việc chuẩn bị lên lớp của người dạy

Công việc chuẩn bị của người người dạy bao gồm chuẩn bị dài hạn (phát triển chương trình môn học, xây dựng kế hoạch năm) và chuẩn bị ngắn hạn (soạn giáo án).

Công tác chuẩn bị chung cho năm học là việc làm bắt buộc đối

với mỗi người dạy. Nó giúp người người dạy hình dung rõ nét toàn bộ chương trình, nắm được toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo môn học cần phải dạy trong suốt năm học; ngăn ngừa tình trạng trùng lặp kiến thức một cách không cần thiết, hoặc tình trạng thiếu sót những kiến thức cần thiết.

Soạn giáo án (kế hoạch bài dạy): Giáo án của người dạy là kế hoạch làm việc của thầy và trò trong suốt tiết học theo những mục đích và yêu cầu định sẵn. Trong thời đại công nghệ người ta gọi giáo án là bản thiết kế việc làm của thầy và trò. Giáo án là kế hoạch làm việc của thầy và trò trong suốt tiết học vì vậy khi thiết kế giáo án nên theo cấu trúc chuỗi hoạt động (HĐ) như sau: HĐ1... HĐ2... HĐ3... HĐn.

Quá trình lập kế hoạch cho một bài học (qui trình xây dựng giáo án) bao gồm:

Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học của bài dạy

Việc xác định mục tiêu dạy học (mục đích, yêu cầu) của bài dạy có ý nghĩa quan trọng, mục tiêu dạy học của bài lên lớp càng được xác định cụ thể, càng tạo điều kiện dễ dàng cho việc tìm ra con đường tối ưu để đạt được nó.

Mục tiêu dạy học cần đảm bảo 3 mặt:

- Về kiến thức - Về kỹ năng - Về thái độ

Hoặc theo tiếp cận năng lực - hình thành những năng lực gì, ở mức độ nào.

Bước 2: Xác định nội dung của bài. Đây là khâu trung tâm của giáo án. Căn cứ vào yêu cầu của chương trình môn học (mục tiêu bài học), bài viết trong sách giáo trình, người dạy xác định:

- Trọng tâm của bài;

- Phân tích những kiến thức nào là cơ bản, cần cho người học nắm vững ở lớp, những nội dung kiến thức nào có thể hướng dẫn người học tự nghiên cứu.

- Thu thập những tài liệu cần thiết phục vụ cho sự phát triển, làm sáng tỏ những phần trọng tâm (cần lưu ý là phải lựa chọn cẩn thận, vừa đủ, không nên tham lam làm ảnh hưởng xấu đến kết quả lĩnh hội của người học).

Bước 3: Lựa chọn hình thức, phương pháp và phương tiện dạy học.

Thực chất đây là quá trình lựa chọn cách tổ chức để biến nội dung tri thức, kỹ năng mà thầy đã chọn thành tri thức, kỹ năng của người học. Bước này bao gồm:

- Lựa chọn hình thức: Học theo lớp, hay nhóm nhỏ, cá nhân.

- Lựa chọn phương pháp: Theo qui trình đã nêu ở phần lựa chọn phương pháp - sao cho phù hợp với mục đích và nội dung học vấn. Cần lưu ý rằng một bài học có thể sử dụng nhiều phương pháp, vì thế trong giáo án cần dự kiến trước (viết vào giáo án) những câu hỏi, những câu gợi ý, những ví dụ, chỗ nào cần ghi bảng/slides, chỗ nào sử dụng phương pháp nào. Nói tóm lại là người dạy phải hình dung trước toàn bộ các tình huống diễn ra trên lớp trong mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò.

- Xác định những đồ dùng dạy học: trong giáo án cần ghi rõ cả những đồ dùng dạy học, dùng vào lúc nào, qui trình sử dụng chúng.

- Cuối cùng - tương ứng với các bước trên lớp cần chuẩn bị (ghi rõ) thời gian tiến hành.

Bước 4: Viết giáo án - thực chất là thể hiện 3 bước trên thành văn bản (có thể theo các thể thức khác nhau).

2.1.5. Lên lớp và sau khi lên lớp

Khi lên lớp nhiệm vụ cơ bản của người dạy là thực hiện một cách nghiêm túc và linh hoạt sáng tạo bản thiết kế (giáo án).

Ngoài những yêu cầu chung của bài ở đây cần chú ý một số điểm sau:

- Đảm bảo được tiến trình dự kiến, không rơi vào tình trạng

“cháy” giáo án.

- Duy tri bầu không khí làm việc suốt từ đầu đến cuối, thu hút

người học tham gia hoạt động tích cực, ngăn chặn hiện tượng vi phạm kỷ luật.

- Phân phối và sử dụng thời gian hợp lý, giảm tới mức tối thiểu thời gian tổ chức lớp, rút ngắn thời gian kiểm tra bài viết ở nhà và thời gian hỏi cá nhân.

- Bao quát, nhạy cảm, linh hoạt, kịp thời nêu các tình huống xảy ra, không rơi vào thế bị động.

- Có tư thế, tác phong đàng hoàng, có thái độ nghiêm túc chan hoà, có giọng nói dễ nghe với nhịp điệu và ngữ điệu thích hợp.

- Kết thúc tiết học trong không khí phấn khởi.

Sau khi lên lớp nhiệm vụ cơ bản của người dạy là đánh giá, tự rút kinh nghiệm của người dạy.

Nếu việc tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm được tiến hành thường xuyên, đều đặn sau mỗi bài lên lớp (và ghi lại) thì sau một số năm người người dạy có thể tích luỹ được nhiều điều có giá trị, giúp đoán trước được nhiều tình huống, chủ động khi lên lớp.

Tự rút kinh nghiệm về kết quả của tiết học là tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm về:

- Kết quả về mặt nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trí tuệ cũng như kết quả về mặt giáo dục được thể hiện ở người học. Những hạn chế về nguyên nhân.

- Những ưu điểm về việc sử dụng phương pháp, về thái độ, tác phong, tư thế của bản thân, những hạn chế và nguyên nhân.

- Những ưu điểm về mặt sử dụng và phân phối thời gian; đánh giá chung và các bài học kinh nghiệm.

Thực chất đó là việc đối chiếu giữa bản thiết kế (đầu ra mong muốn) và quá trình thực hiện (kết quả thực tế) để từ đó rút ra những bài học thành công, nhằm nâng cao hiệu quả của các bài học sau.

2.2. Dạy học theo nhóm

Hình thức dạy học theo nhóm tại lớp là hình thức dạy học có sự kết hợp tính tập thể và tính các nhân, trong đó người học trong nhóm

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 107 - 135)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(302 trang)