Chương 3 NHỮNG NỘI DUNG MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ
3.3.2. Những vấn đề đặt ra trong nhận thức lý luận về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm nhân dân thật sự làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện với tình trạng Nhà nước pháp quyền XHCN mới bước đầu xây dựng, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hiệu quả; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên còn hạn chế; Đảng chưa thực sự nêu gương thực hành dân chủ XHCN
Trong nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Theo đó, điều kiện chính trị và nội dung thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực chính trị ở nước ta trước hết là đổi mới, dân chủ hóa tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó trọng tâm là đổi mới nội dung, dân chủ hóa phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Thước đo dân chủ của nhân dân về mặt chính trị trước hết thể hiện ở mức độ hoàn thiện, dân chủ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
Những hạn chế, bất cập về xây dựng điều kiện chính trị và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay có nguyên nhân trực tiếp từ những hạn chế, yếu kém trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Trong nhận thức và thực tiễn, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ còn nhiều vướng mắc. Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN nhưng Đảng chưa thực sự nêu gương thực hành dân chủ XHCN. Nhà nước pháp quyền XHCN mới bước đầu xây dựng, chưa hoàn thiện cả về tổ chức bộ máy và thể chế pháp luật. Nguyên tắc thống nhất, phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước chưa được nhận thức sâu sắc và thể chế hóa đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước còn nhiều mặt yếu kém; tình trạng quan liêu, tham ô, tham nhũng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Vai trò kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên còn nhiều hạn chế... Nếu những bất cập, hạn chế trên đây
không được khắc phục kịp thời thì chúng ta chưa thể có được bước tiến thực sự trong thực tiễn xây dựng điều kiện chính trị và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực chính trị ở nước ta. Và như thế, việc xây dựng điều kiện chính trị và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực chính trị vẫn sẽ tiếp tục chậm hơn, sẽ không đồng bộ, tương thích, hài hòa thậm chí còn kìm hãm, cản trở việc xây dựng điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, nhất là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền XHCN và quyền làm chủ về kinh tế của nhân dân với xu hướng tất yếu phải tuân thủ triệt để các quy luật thị trường trong xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Công cuộc đổi mới 30 năm qua đã xác nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN là con đường, phương thức và điều kiện tất yếu để xây dựng CNXH và phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Trong đó, nổi lên mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, nhất là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền XHCN và quyền làm chủ về kinh tế của nhân dân với xu hướng tất yếu phải tuân thủ triệt để các quy luật thị trường trong xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Xung quanh mâu thuẫn này, trước mắt cũng như về lâu dài cần phải nhận thức và xử lý nhiều khía cạnh, tầng nấc vấn đề và mối quan hệ phức tạp. Đó là nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tuân thủ các quy luật của thị trường với bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển LLSX và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế; giữa bảo đảm tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; giữa khuyến khích làm giàu chính đáng và đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN... Đó là nhận thức và giải quyết vấn đề chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế, trong đó có vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò
động lực quan trọng của kinh tế tư nhân, vai trò nền tảng vững chắc của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong nền kinh tế quốc dân. Đó là vấn đề bảo đảm vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng XHCN; vấn đề giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, giữa nhà nước và doanh nghiệp; vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng; vấn đề thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường... Giải đáp thỏa đáng về lý luận và xử lý thuyết phục về thực tiễn những vấn đề và mối quan hệ phức tạp nói trên thì mới thực sự bảo đảm vững chắc các điều kiện kinh tế và thực hiện có hiệu quả hơn dân chủ XHCN trong lĩnh vực kinh tế ở nước ta khi công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng nền dân chủ XHCN ngày càng đi vào chiều sâu.
Thứ ba, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm phát triển xã hội đoàn kết, đồng thuận, công bằng, an sinh, văn minh theo định hướng XHCN với những biểu hiện xung đột lợi ích, phân tầng xã hội và nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh
Trong đổi mới, tuy đã có những tiến bộ nhất định, song so với yêu cầu, đòi hỏi của quá trình dân chủ hóa XHCN của đất nước thì đến nay vấn đề xây dựng điều kiện xã hội và thực hiện dân chủ XHCN trên lĩnh vực xã hội vẫn chưa có những bước tiến căn bản. Tỷ lệ đói nghèo còn cao; giảm nghèo chưa bền vững; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn và có xu hướng gia tăng. Một bộ phận nhân dân, trong đó đó chủ yếu là công nhân, nông dân và đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số chưa được thụ hưởng tương xứng thành quả của công cuộc đổi mới. Nhiều mâu thuẫn, xung đột trong các quan hệ lợi ích diễn ra gay gắt, trong đó không ít nơi đã bùng phát thành những điểm nóng chính trị, xã hội phức tạp.
Nhận thức và giải quyết nhiều vấn đề xã hội còn lúng túng, chưa hiệu quả, nhất là những vấn đề như: điều kiện lao động, tiền lương; bảo hiểm xã hội, an toàn thực phẩm; bảo đảm nhà ở, an toàn giao thông, đô thị; vấn đề chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường; phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; xóa đói, giảm nghèo, hạn chế phân hóa giàu nghèo…Trong nhận thức và thực tiễn, chưa xác định rõ trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội của cấp ủy, chính quyền các cấp. Chưa nhận thức sâu sắc về xã hội hóa, về cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, về kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm đối với các vấn đề xã hội. Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự trong hoạch định, giám sát thực thi chủ trương, chính sách, thể chế pháp luật về kinh tế, xã hội. Các tổ
chức xã hội tự nguyện, hợp pháp của nhân dân đã, đang tồn tại, phát triển nhưng xã hội dân sự vẫn chưa được thừa nhận.
Tóm lại, việc xây dựng điều kiện xã hội và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực xã hội ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần nhận thức và giải quyết.
Trong đó, thách thức lớn cả về lý luận và thực tiễn hiện nay là bảo đảm đoàn kết, đồng thuận, công bằng, an sinh, văn minh trong điều kiện có sự gia tăng xung đột lợi ích, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Tất nhiên, xây dựng điều kiện xã hội và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực xã hội không chỉ là việc giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh tất yếu do sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng XHCN mà còn là sự phát triển chủ động và dân chủ của chính lĩnh vực xã hội so với các lĩnh vực khác của đời sống. Theo ý nghĩa đó, việc giải quyết mâu thuẫn, thách thức nói trên phải gắn liền với việc chính thức xác định mô hình phát triển xã hội để nó đồng bộ, tương thích, hài hòa với mô hình phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị dân chủ XHCN ở nước ta.
Thứ tư, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước với tình trạng văn hóa, con người Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém
Cũng như lĩnh vực xã hội, 30 năm qua, thành tựu đạt được trong xây dựng điều kiện văn hóa và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực văn hóa còn khiêm tốn, chưa tương xứng so với thành tựu đạt được trong các lĩnh vực kinh tế và chính trị.
Thành tựu đạt được chưa toàn diện, thiếu vững chắc; hạn chế, yếu kém còn nhiều.
Trong đó, có hạn chế, yếu kém mới phát sinh; có hạn chế, khuyết điểm đã kéo dài nhiều năm nhưng chậm được khắc phục, nay có mặt trầm trọng hơn. Văn hóa chưa đủ tầm mức để trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội và chưa thực sự là động lực, là sức mạnh nội sinh quan trọng để đổi mới và phát triển bền vững đất nước. Cả về nhận thức và thực tiễn, chúng ta chưa thấy hết vị trí, vai trò to lớn của vấn đề xây dựng con người và văn hóa Việt Nam XHCN đối với công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN. Tinh thần văn hóa soi đường cho quốc dân đi, xây dựng con người XHCN để xây dựng thành công CNXH trong điều kiện đổi mới chưa được chú trọng. Nhận thức chưa đầy đủ và thực hiện chưa tốt quan điểm xây dựng, phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa; mọi cấp,
mọi ngành, mọi cơ quan, đơn vị, mọi người đều có nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia hoạt động văn hóa; nhân dân là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều thành quả văn hóa; đội ngũ nhân tài, trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Vấn đề xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật bảo đảm để hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, lí tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới giữ vai trò nền tảng và chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội chưa được quan tâm thỏa đáng.
Nhận thức và xử lý chưa tốt vấn đề quan hệ giữa bảo tồn và phát triển văn hóa;
giữa văn hóa dân tộc và tiếp biến, hội nhập văn hóa; vấn đề văn hóa mạng, thị trường văn hóa, chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, công nghiệp văn hóa. Việc xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc còn nhiều yếu kém, bất cập. Việc xây dựng giá trị, tiêu chí, tiêu chuẩn văn hóa, đạo đức công bộc;
văn hóa, đạo đức công dân; văn hóa phục vụ khách hàng, phục vụ xã hội của các tầng lớp nhân dân; văn hóa phục vụ nhân dân của công chức, cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế. Đời sống tinh thần nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và giữa các tầng lớp nhân dân còn xa. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng, Nhà nước và trong xã hội đã đến mức nghiêm trọng trở thành một trong những nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN.
Như vậy, việc xây dựng điều kiện văn hóa và thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực văn hóa ở nước ta hiện nay cần phải giải quyết mâu thuẫn lớn đặt ra đó là:
mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước với tình trạng văn hóa, con người Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém. Đây là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn vừa cấp bách vừa có tầm chiến lược đối với công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta. Vì cùng với lĩnh vực xã hội, đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu cả về lý luận và thực tiễn, trong khi đây lại là những lĩnh vực quan trọng có thể trực tiếp thể hiện rõ bản chất tốt đẹp, sự ưu việt của chế độ XHCN và của nền dân chủ XHCN.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Từ Đại hội VI (1986) đến nay, tư duy, nhận thức lý luận của Đảng ta về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN đã từng bước đổi mới và có những bước tiến quan trọng. Cùng với công cuộc đổi mới, dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước, nhận thức lý luận của Đảng về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN không ngừng được bổ sung, phát triển. Theo đó, trong công cuộc đổi mới, từ thực tiễn đổi mới và thực tiễn thực hành dân chủ XHCN trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước trong 30 năm qua, Đảng ta đã bước đầu hình thành một hệ thống quan điểm lý luận mới về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam.
Về dân chủ XHCN, với cách tiếp cận toàn diện, Đảng ta đã có những nhận thức mới đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn nhiều so với trước đổi mới. Theo đó, đã hình thành hệ thống quan điểm lý luận mới về dân chủ XHCN ở Việt Nam bao gồm: lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị XHCN ở Việt Nam được tổ chức, vận hành theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; các quan điểm về sự thống nhất, hài hòa giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại của nền dân chủ XHCN; các quan điểm về dân chủ XHCN với tư cách là thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng CNXH; hệ thống quan điểm lý luận mới về cơ chế, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt dân chủ, cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam; các quan điểm về dân chủ XHCN với tư cách là giá trị xã hội, giá trị nhân văn, văn minh phản ánh mức độ giải phóng con người trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước.
Gắn liền với việc đổi mới tư duy, nhận thức về dân chủ XHCN, trong tiến trình đổi mới, Đảng ta đã có bước tiến vượt bậc trong việc đổi mới tư duy, phát triển nhận thức lý luận về xây dựng các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và thực hiện dân chủ XHCN trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Những nội dung này đã được nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc và sát hợp với thực tiễn đất nước và phù hợp với những biến đổi khách quan tiến bộ của thời đại. Đó là quan điểm lý luận về xây dựng, phát triển xã hội đoàn kết, đồng thuận, công bằng, an sinh, văn minh;
quan điểm lý luận về xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà