Khu vực Lâm Trường Tỉnh Đội

Một phần của tài liệu So sánh phương pháp quản lý ba khu đất ngập nước ở an giang (Trang 72 - 78)

3.3 Sinh kế người dân sống xung quanh đất ngập nước

3.3.1 Khu vực Lâm Trường Tỉnh Đội

Hiện trạng kinh tế nông hộ

Tuổi và học vấn chủ hộ: Thông thường chủ hộ là người có ảnh hưởng nhiều và thường quyết định kế hoạch sự phát triển kinh tế của gia đình. Tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ là các chỉ tiêu được xem xét trong quá trình điều tra sinh kế nông hộ.

Kết quả điều tra cho thấy tuổi trung bình của chủ hộ sống xung quanh khu đất ngập nước ở Lâm Trường Tỉnh Đội xấp xỉ 49 tuổi. Trong đó, người có độ tuổi già nhất 80 tuổi và trẻ nhất 29 tuổi. Điều này cho thấy tuổi của các chủ hộ ở khu vực này còn nằm trong độ tuổi lao động, đó là điều kiện thuận lợi cho kế hoạch phát triển sinh kế và cải thiện mức sống nông hộ, đồng thời không ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ khu bảo tồn đất ngập nước. Học vấn của chủ hộ cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế của nông hộ, nó phản ánh khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng vào trong sản xuất, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương của chính quyền địa phương.

17.5%

47.5%

30.0%

5.0% Không biết chữ

Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Hình 17: Trình độ học vấn của chủ hộ khu vực Lâm Trường Tỉnh Đội

Số liệu điều tra cho thấy trình độ học vấn của những chủ hộ khá thấp, không biết chữ và tiểu học lần lượt là 17,5% và 47,5%. Đây là yếu tố trở ngại cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng như định hướng phát triển sinh kế hộ gia đình. Ngoài ra, nó còn là yếu tố cản trở trong công tác tuyên truyền, ý thức bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cũng như ý thức giáo dục thành viên khác trong gia đình không làm tổn hại đến khu bảo tồn đất ngập nước.

Quy mô hộ gia đình: Nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động sinh kế của nông hộ, đặt biệt là những người nằm trong độ tuổi lao động thể hiện khả năng đóng góp sức lao động và giá trị kinh tế cho gia đình và xã hội.

Kết quả điều tra cho thấy hộ dân cư sống xung quanh khu bảo tồn đất ngập nước Lâm Trường Tỉnh Đội có số nhân khẩu trung bình hộ xấp xỉ 05 người, hộ cao nhất là 10 người và thấp nhất là 02 người. Tuy nhiên, hiện tại số người tham gia lao động thường xuyên ở những hộ gia đình trung bình từ 01 đến 02 người, cao nhất là 04 người và thấp nhất 01 người.

Điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt: Hiện trạng nhà ở có thể phản ánh được một phần thực trạng kinh tế hộ gia đình. Kết quả điều tra cho thấy nhà tạm 60% và tuổi của loại nhà này chủ yếu từ 01 đến 05 năm, nhà bán kiên cố và nhà kiên cố lần lượt 35% và 5% hầu hết điều mới được xây cất lại.

Ngoài nhà ở, các tiện nghi sinh hoạt hàng ngày cũng thể hiện vốn vật chất của các hộ gia đình.

20

95 73

53

83 88 10

55

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Radio-Cassette Tivi Đầu VCD Xe đạp Xe gắn máy Quạt điện Tủ lạnh Khác

Hình 18: Tỷ lệ có tiện nghi sinh hoạt của hộ sống xung quanh Lâm Trường Tỉnh Đội Hiện trạng tiện nghi sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình đã được mua sắm rất nhiều, cao nhất là Tivi có đến 95% các hộ mua sắm, thấp nhất tủ lạnh 10% được mua sắm, chủ yếu có ở các hộ kinh tế khá giả và hộ buôn bán. Các loại tiện nghi khác như

%

xe đạp, xe gắn máy, quạt điện, và vật dụng khác (bếp gas, nồi cơm điện…) hơn một nửa các hộ gia đình có các loại vật dụng này.

Công cụ sản xuất: Công cụ phục vụ lao động sản xuất nông nghiệp phản ánh thực trạng cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn, tuy nhiên kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy (Hình 19).

3 3 3

5 8

28 15

0 5 10 15 20 25 30

Máy cày Máy xới Máy suốt lúa Tàu Xuồng Máy bơm nước Khác

Hình 19: Tỷ lệ có công cụ sản xuất của hộ ở xung quanh Lâm Trường Tỉnh Đội Ở khu vực này hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa. Tuy nhiên, công cụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất như máy cày, máy xới và máy suốt lúa có 3%

hộ gia đình mua sắm, tỷ lệ này thấp so với nhu cầu của người dân trong vùng. Kết quả này phù hợp với hoạt động PRA, người dân trong vùng cho biết họ gặp khó khăn vào vụ sản xuất, nhất là đầu vụ làm đất chuẩn bị xuống giống và cuối vụ vào lúc thu hoạch lúa vì phải phụ thuộc nhiều các loại công cụ này từ địa phương đến. Máy bơm nước có 28% số hộ trang bị, đây là công cụ mà các hộ có đất sản xuất lúa thường mua sắm, mức đầu tư phù hợp với khả năng tài chính, lý do khác nữa khu vực này chưa có đê bao, chưa có hệ thống trạm bơm nước tập trung, những người có đất sản xuất phải tự đầu tư máy bơm nước để chủ động tưới tiêu trong sản xuất.

Đất sản xuất: Đối với hộ gia đình nông thôn đất sản xuất được xem là tài sản quan trọng, đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế hộ gia đình. Ngược lại, hộ không đất sản xuất thường gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế.

Kết quả hỏi 40 hộ sống xung quanh đất ngập nước Lâm Trường Tỉnh Đội cho thấy 22 hộ có đất sản xuất, trung bình hộ có 0,92 ha. Như vậy, tài nguyên đất đai ở đây phân bố không đều ở các hộ gia đình trong khu vực, nguyên nhân của thực trạng này theo kết quả hoạt động PRA do khu vực này trước đây có rất ít dân cư sinh sống, sau năm

%

1979 có nhiều hộ dân đến định cư, chủ yếu là dân hồi hương từ Campuchia về đây sinh sống bằng nghề làm thuê là chính và khác thác tự nhiên.

Thu nhập: Kết quả điều tra thu nhập trung bình hộ 2,95 triệu đồng/tháng, trong đó hộ có mức thu nhập cao nhất 14 triệu đồng/tháng và thấp nhất 1 triệu đồng/tháng. Hộ gia đình có nguồn thu nhập từ hoạt động sinh kế ở khu vực này chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, làm thuê, buôn bán nhỏ, khai thác nguồn lợi tự nhiên từ đất ngập nước.

1.26 1.10

0.36 0.22 0.01

0.00

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20 1.40

Sản xuất NN Làm thuê Buôn bán Khai thác tự nhiên Khác Lương nhà nước

Hình 20: Cơ cấu nguồn thu nhập bình quân tháng của hộ sống xung quanh đất ngập nước Lâm Trường Tỉnh Đội

Từ Hình 20 cho thấy những hộ gia đình ở vùng này có hai nguồn thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp và làm thuê chiếm lần lượt 1,26 triệu đồng/tháng (43%) và 1,1 triệu đồng/tháng (37%) trong cơ cấu nguồn thu nhập. Kế đến buôn bán nhỏ và khai thác tự nhiên cũng góp phần tạo thu nhập cho các nông hộ, các khoảng thu nhập khác không đáng kể. Điều đáng chú ý là nguồn thu nhập từ khai thác tự nhiên 0,22 triệu đồng/tháng (7,5% nguồn thu nhập) cho thấy nguồn lợi tự nhiên từ đất ngập nước có vai trò khá quan trọng trong đời sống của người dân ở vùng này.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trồng lúa: Hoạt động sản xuất trồng lúa là nghề giử vai trò chủ đạo trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng là hoạt động chính trong vùng, thu hút nhiều lao động tham gia sản xuất và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân.

Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 45% hộ trồng lúa, trong đó hộ trồng lúa nhiều nhất 5,0 ha và ít nhất 0,3 ha, hầu hết đều có kinh nghiệm hơn 10 năm trồng lúa, họ có tham gia khuyến nông ít nhất là một lần trong năm. Nguồn nước để trồng lúa chủ yếu là nước kênh ở vụ Đông – xuân, trong khi vụ Hè – thu sử dụng nước kênh và nước mưa.

Triệu đồng

phí đầu tư để sản xuất lúa khoảng 16 triệu đồng/vụ/ha và lợi nhuận trung bình 9 triệu đồng/vụ/ha.

Trồng rẫy: Theo số liệu điều tra trong số những người được hỏi chỉ có 01 hộ có trồng hoa màu, ở khu vực này loại cây màu được trồng là Dưa hấu và diện tích không đáng kể, thời gian trồng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, năng suất thấp và lợi nhuận cũng không cao khoảng 7 triệu đồng/ha/vụ thấp hơn so với trồng lúa. Do đó ít được nông hộ lựa chọn cây màu để phát triển kinh tế gia đình.

Nuôi trồng thủy sản: Kết quả điều tra ở khu vực này không phát hiện có hộ tham gia sản xuất. Nguyên nhân theo phân tích PRA do khu vực này có yếu tố tự nhiên như nguồn nước, đất đai nhiễm phèn không thích hợp cho hoạt động sản xuất loại hình này, có một số nông hộ cũng nuôi thử nghiệm các loài cá nước ngọt nhưng không mang lại hiệu quả kinh tế.

Chăn nuôi: Chăn nuôi là hoạt động sản xuất nhằm tạo thêm thu nhập cho các hộ gia đình để trang trải thêm chi phí sinh hoạt hàng ngày và cải thiện bữa ăn. Vật nuôi chủ yếu mà người dân lựa chọn là lợn, bò, và gà vịt. Tuy nhiên, số hộ có tham gia chăn nuôi cũng không nhiều, kết quả điều tra cho thấy.

Chăn nuôi gà, vịt có 38% số hộ tham gia, trong khu vực không hộ nào nuôi quy mô lớn, phương thức nuôi hầu hết truyền thống, chỉ nuôi với số lượng rất ít khoảng 04 - 20 con/hộ nhằm cải thiện bữa ăn, ít có thu nhập từ hoạt động này, thời gian nuôi diễn ra quanh năm nhưng số lượng đàn gà vịt mùa khô cao hơn mùa mưa.

Số hộ nuôi lợn 18%, thời gian nuôi lợn thường diễn ra từ tháng 11 đến 6 năm sau (dương lịch), hình thức nuôi hầu hết theo phương pháp truyền thống, số lượng đàn heo hộ nhiều nhất 15 con và hộ ít nhất 02 con, chi phí đầu tư cho chăn nuôi heo khoảng 2,5 triệu đồng/con/vụ (năm 2010) và lợi nhuận trung bình 400 ngàn/con/vụ.

Trong số những hộ được hỏi chỉ thấy 01 hộ nuôi bò, hoạt động chăn nuôi bò thường diễn ra quanh năm, lao động tham gia vào chăn nuôi bò là nam giới trong độ tuổi lao động, ngoài ra còn có sự tham gia của trẻ em vào công việc chăm sóc hoặc tìm thức ăn cho bò. Nguyên nhân số hộ tham gia chăn nuôi bò rất ít, do vốn đầu tư cao, nếu nuôi số lượng nhiều ngoài khả năng tài chính của nông hộ, đặc biệt hộ nghèo và cận nghèo và theo nhận định từ hoạt động PRA người dân nhận xét, nếu chỉ nuôi một hoặc hai con bò thì không mang lại hiệu quả kinh tế so với làm thuê.

Hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên

Đánh bắt cá: Đây là một trong những hoạt động sinh kế của người dân ở khu vực nhằm cải thiện bữa ăn, tạo thu nhập cho gia đình từ việc thu được sản lượng cá. Qua điều tra phỏng vấn nông hộ tham gia khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên nhận thấy sự khác nhau về thời điểm đánh bắt trong năm.

Các hộ gia đình đánh bắt thủy sản tự nhiên chủ yếu vào mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 11) có 63% hộ tham gia, vì mùa này nước lũ tràn đồng không làm được các hoạt trồng trọt, chăn nuôi, mùa lũ nhiều cá. Mùa khô có 8% hộ tham gia đánh bắt vì sản lượng cá ít, địa điểm đánh bắt bị thu hẹp chỉ còn ở kênh hoặc phải vào rừng, đánh bắt không hiệu quả kinh tế so với các hoạt động sinh kế khác.

Địa điểm mà người dân đánh bắt chủ yếu là ở ruộng, kênh. Phương tiện và dụng cụ đánh bắt cá khá đa dạng như lưới, lọp, chài, câu, xiệc và dớn. Nhưng dụng cụ được sử dụng nhiều nhất là lưới giăng và kế đó là câu. Công cụ lọp và chài ít được người dân lựa chọn để đánh bắt cá do loại dụng cụ này bắt ít cá và mất nhiều thời gian, riêng xiệc và dớn là dụng cụ cấm sử dụng để đánh bắt cá nhưng người dân vẫn sử dụng do loại dụng cụ cụ này đánh bắt được nhiều cá. Sản lượng bắt được mùa mưa bình quân 114,6 kg/tháng/hộ, mùa khô số lượng cá bắt được chỉ khoảng 26,3 kg/tháng/hộ. Mục đích đánh bắt hầu hết là để ăn, hộ bắt được nhiều để ăn và bán tạo thêm thu nhập. Những hộ gia đình đánh bắt cá để bán tạo được nguồn thu nhập trung bình 600 ngàn đồng/tháng vào mùa mưa, trong khi mùa khô chỉ khoảng 150 ngàn đồng/tháng.

Đánh bắt lưỡng cư – bò sát: Hoạt động này có 15% số hộ tham gia vào mùa mưa và 5% mùa khô, dụng cụ dùng để đánh bắt chủ yếu bằng lưới giăng, xiệc. Địa điểm đánh bắt chính ở ruộng, với mục đích bắt để cải thiện bữa ăn.

Săn bắt chim cò: Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 01 hộ tham gia săn bắt chim cò, thời gian săn bắt trong năm chủ yếu vào mùa mưa, vào khoảng tháng 10 và tháng 11 hàng năm và số lượng bắt được không nhiều. Địa điểm chính ở ruộng và công cụ dùng để bắt chim cò cũng đơn giản là bẫy và thuốc. Thuốc là phương thức bắt được nhiều chim cò, tuy nhiên sẽ gây nguy hiểm cho người ăn nhằm những chim bị thuốc chết, việc làm này cho thấy sự hiểu biết của người dân về an toàn thực phẩm còn hạn chế.

Mục đích việc bắt các loài chim cò chủ yếu để ăn và bán, nhưng nguồn thu nhập từ hoạt động này không đáng kể.

Nguyên nhân có ít hộ săn bắt chim do hoạt động này không mang lại hiệu quả kinh tế so với các hoạt động sinh kế khác. Mặc dù dân cư ở đây sống tiếp giáp với rừng, nhưng rừng là khu vực cấm vào nên họ không thể xâm nhập trái phép vào rừng để săn bắt, người dân thường săn bắt chim cò khoảng thời gian lũ rút có nhiều chim cò ra đồng kiếm thức ăn. Như vậy, hoạt động săn bắt chim cò của những hộ gia đình ở khu vực này chỉ mang tính thời vụ.

Hái rau dại: Kết quả điều tra hoạt động khai thác rau tự nhiên từ đất ngập nước cho thấy người dân tham gia thu hái tất cả các tháng trong năm, phần lớn họ thu hái vào mùa mưa 43%, mùa khô chỉ còn 18% hộ hái rau và địa điểm thu hái là ruộng, bờ kênh. Những hộ thu hái rau bình quân 21,5 kg/tháng chủ yếu để cải thiện ăn, hầu hết không có thu nhập từ hoạt động này.

Tín dụng và ý kiến của người dân

Nguồn vốn sẵn có trong cộng đồng dân cư cũng rất ít, đa số các hộ gia đình vay tiền để sản xuất, kết quả điều tra có 60% hộ vay vốn. Nguồn vốn vay ở đây chủ yếu từ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, ngân hàng Chính sách xã hội huyện, hình thức vay thuế chấp đối với những hộ có đất sản xuất và nguồn từ ngân hàng chính sách xã hội huyện huyện dành cho các hộ nghèo không có đất sản xuất.

Kết quả tham vấn ý kiến cộng đồng có đến 92,5% hộ cho rằng cần bảo vệ rừng, theo giải thích của người dân mặc dù rừng họ không được khai thác trực tiếp, nhưng nhận được những lợi ích gián tiếp các sản phẩm từ rừng như tôm cá, bò sát, giảm tác hại gió bão… Tuy nhiên, điều đáng chú ý có 7,5% số hộ cho rằng nhà nước nên phá rừng giao đất cho dân sản xuất lúa, ở khu vực này có nhiều hộ còn rất nghèo và không đất sản xuất. Như vậy, ở khu vực này còn một số bộ phận người dân nhận thức còn hạn chế về giá trị và lợi của rừng (đất ngập nước). Nhận thức hạn chế đó sẽ là yếu tố trở ngại cho công tác quản lý, bảo vệ rừng hay đất ngập nước trong thời gian tới.

Một phần của tài liệu So sánh phương pháp quản lý ba khu đất ngập nước ở an giang (Trang 72 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(145 trang)