Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2. Những ưu điểm, hạn chế và nhân tố ảnh hưởng đến DNN&V
DNN&V có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn những nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự linh hoạt, nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ, do đó có những ưu điểm sau:
- DNN&V dễ dàng khởi sự và nhạy bén, năng động, linh hoạt trong kinh doanh: DNN&V chỉ cần một số vốn hạn chế, một diện tích nhỏ là có thể khởi sự SXKD. Do có quy mô vừa và nhỏ, mô hình tổ chức quản lý gọn nhẹ nên các DNN&V khá năng động, linh hoạt, dễ chuyển đổi sang những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh khác khi cần thiết. Việc chuyển địa điểm SXKD, cơ sở vật chất cũng dễ dàng và ít tốn chi phí...
- DNN&V thu hút nhiều lao động, hoạt động có hiệu quả với chi phí ổn định thấp: Các DNN&V có nguồn vốn ít, do đó vốn đầu tư vào tài sản cố định cũng ít, họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt là các nước có lực lượng lao động lớn và giá nhân công thấp như nước ta, để tiến hành SXKD.
Do đó, sự phát triển của các DNN&V đã tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế - xã hội.
- DNN&V có thể dễ dàng phát huy tiềm lực thị trường trong nước: Sự phát triển DNN&V ở giai đoạn ban đầu là phương thức tốt để sản xuất thay thế nhập khẩu. Đối với những nước đang phát triển như nước ta hiện nay, chỉ
cần sự lựa chọn một số mặt hàng thay thế nhập khẩu với mức chi phí và vốn đầu tư thấp, kỹ thuật không phức tạp, sản phẩm có thể cải tiến phù hợp với nhu cầu của dân chúng, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và sức mua của thị trường.
- DNN&V nhanh chóng nắm bắt, đổi mới trang thiết bị công nghệ hiện đại: Với việc cải tiến, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất sẽ giảm thiểu được chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm và sản xuất được những sản phẩm có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
giá trị cao, tăng năng suất lao động... do đó máy móc thiết bị luôn cần được đổi mới. Vì vậy, với quy mô nhỏ và vừa, vốn đầu tư ban đầu không lớn, các DNN&V có thể dễ dàng đổi mới thiết bị công nghệ hơn các doanh nghiệp lớn, tốn ít chi phí hơn.
- DNN&V ít có xung đột giữa người sử dụng lao động với người lao động: Do quy mô vừa và nhỏ nên sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và người lao động không lớn, người chủ doanh nghiệp luôn theo sát công việc của người lao động, do đó nếu có mâu thuẫn, xung đột cũng dễ dàng giải quyết để cân bằng giữa lợi ích của người lao động với lợi ích của người sử dụng lao động.
1.1.2.2. Hạn chế, khó khăn của DNN&V
Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, DNN&V cũng có những hạn chế nhất định:
- DNN&V có nguồn tài chính hạn chế: Để có thể SXKD, mua máy móc thiết bị, thuê nhân công lao động, doanh nghiệp phải cần vốn, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nguồn vốn lại càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Quy mô của các DNN&V thường nhỏ, nguồn vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng khó khăn nên nhiều DNN&V phải tìm các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao để tài trợ cho hoạt động của mình.
- DNN&V thường công nghệ, thiết bị lạc hậu và thủ công hơn so với các doanh nghiệp lớn, điều này càng thể hiện rõ nhất DNN&V của Việt Nam về công nghệ lạc hậu chiếm tỷ trọng rất lớn là đặc điểm khác biệt của các DNN&V ở Việt Nam so với các DNN&V ở các nước công nghiệp phát triển.
Hơn nữa, tốc độ đổi mới công nghệ lại rất chậm. Vì thế, khả năng sản xuất, chất lượng sản phẩm của các DNN&V của các nước phát triển thường khá cao, một số các DNN&V của các nước phát triển có thể tập hợp thành một quần thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
những liên hiệp sản xuất khu vực có chất lượng sản phẩm cao, có tham gia cạnh tranh trên thị trường.
- DNN&V thường có thị trường hẹp và khả năng cạnh tranh thấp hơn:
Trong những năm gần đây, cùng với sự quản lý được đổi mới trong cơ chế chính sách và Luật về doanh nghiệp được ban hành nhiều. Tuy nhiên, do sự manh mún về số lượng cũng như về chất lượng, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thấp hơn và thị trường nhỏ hẹp. Lý do là sự uy tín của các doanh nghiệp, tâm lý của người tiêu dùng và trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp.
- DNN&V thường có trình độ quản lý hạn chế, nắm pháp luật chưa vững; trình độ lao động hạn chế: Điều này càng thể hiện rõ nhất của Việt Nam hiện nay (nhiều chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo qua một trường lớp nào, thiếu những kiến thức cơ bản, chưa hiểu biết pháp luật cặn kẽ, thiếu ý thức tuân thủ pháp luật. Phần lớn các chủ doanh nghiệp quản lý dựa trên kinh nghiệm. Nhiều chủ doanh nghiệp không lập được kế hoạch tài chính, không xây dựng được phương án SXKD khả thi, dẫn tới thua lỗ và thất bại trên thị trường). Các DNN&V khả năng phát triển khó, nhiều doanh nghiệp không phát huy cũng như không tạo sự cạnh tranh lớn trên thị trường, điều hành không những thiệt hại cho bản thân các doanh nghiệp mà còn gây nhiều lãng phí cho nền kinh tế xã hội.
Một trong những khó khăn nữa liên quan tới nguồn nhân lực là các DNN&V ít có khả năng thu hút những cán bộ có tay nghề giỏi, cán bộ có trình độ quản lý tốt như các tập đoàn, doanh nghiệp lớn; một mặt do điều kiện làm việc hạn chế, mặt khác việc chế độ đãi ngộ đối với lao động còn bị hạn chế so với các tâp đoàn, doanh nghiệp lớn.
- DNN&V thường có chiến lược sản xuất kinh doanh còn mang tính thời vụ, chưa có hướng tới mục tiêu lâu dài: Phần lớn các DNN&V của Việt Nam đều chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường; do đó, các doanh nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
này thường không chủ động trên thị trường. Các DNN&V thường chỉ đưa ra được những kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ đáp ứng nhu cầu tức thì trên thị trường tại một thời điểm nào đó, chưa mang tính ổn định và phát triển lâu dài. Nếu DN không đưa ra được một định hướng phát triển lâu dài thì khi thị trường xảy ra những biến cố, doanh nghiệp rất khó khăn để thích nghi với hoàn cảnh và có thể dẫn tới nguy cơ phá sản, đổ vỡ.
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DNN&V a) Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới đang diễn ra rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động của mọi chủ thể kinh tế, trong đó có các DNN&V. Nước ta đang trong quá trình hội nhập thông qua việc tham gia khối và tổ chức như: ASEAN, APEC, WTO, IMF, WB và các tổ chức khu vực và quốc tế khác. Đây vừa là một thách thức nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội rất lớn và là một điều kiện rất thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có DNN&V. Đó là việc có cơ hội tiếp cận với thế giới bên ngòai để thu nhập thông tin, phát triển công nghệ, tăng cường hợp tác cùng có lợi, mở rộng thị trường đầu vào và thị trường xuất khẩu. Còn thách thức đó là cùng với quá trình hội nhập thì sự bảo hộ đối với sản xuất trong nước thông qua các hàng rào thuế quan và phí thuế quan sẽ giảm dần, trong khi khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNN&V nói riêng trên thị trường quốc tế còn rất hạn chế. Nếu không vượt qua được thách thức đó thì các DNN&V sẽ khó tồn tại ngay cả trên chính thị trường trong nước chứ chưa nói đến thị trường thế giới.
Bên cạnh đó thị trường vốn và sự phân công lao động quốc tế là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình hội nhập... về vốn, chúng ta vẫn xác định vốn trong nước là quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là quan trọng cho phát triển kinh tế. Hiện nay và trong những năm tới, nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư trên thế giới ngày càng thiếu. Trong khi đó, các nước trong khu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vực và rất nhiều nước trên thế giới tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách đưa ra các chính sách hấp dẫn. Việc thu hút vốn ĐTNN vừa tạo thuận lợi nhưng sẽ tăng mức độ cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nói chung và các DNN&V nói riêng. Một giải pháp là phải phát triển các DNN&V thông qua tự do hóa việc thành lập doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế nhằm huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi.Chính điều này đã tạo ra nguồn vốn đối ứng trong nước khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây chính là cơ hội cho DNN&V phát triển.
b) Môi trường pháp lý và các chính sách vĩ mô đối với DNN&V.
Khu vực DNN&V là khu vực rất phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Các nước đó đều có chính sách riêng, khuôn khổ luật pháp riêng và rõ ràng cho DNN&V, có cơ quan Nhà nước chuyên soạn thảo chính sách đối với DNN&V. Trong những năm qua, thông qua các tổ chức quốc tế, các cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp của Việt nam đã có nhiều dịp tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm phát triển DNN&V với các nước trong khu vực, trao đổi về nhu cầu hợp tác, đào tạo cán bộ, cũng như các kỹ năng tư vấn hỗ trợ DNN&V. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam chưa có khung khổ chính sách thích hợp cho loại hình DNN&V. Một số cơ quan, địa phương đã tự ban hành tiêu chí để xác định DNN&V tùy theo mục đích hoạt động của các tổ chức và cơ quan đó. Đến nay Chính phủ mới ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP, định nghĩa về DNN&V làm cơ sở cho việc phân loại, nghiên cứu và đề xuất cơ chế chính sách đối với khu vực này. Về môi trường pháp lý và các chính sách vĩ mô liên quan đến DNN&V hiện nay, có một số hạn chế chủ yếu sau:
- Chính sách ưu đãi đầu tư: Nhà nước đã ban hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước, trong đó có các lĩnh vực, vùng ưu tiên cho các nhà đầu tư.
Chính sách ưu đãi đầu tư thể hiện thông qua việc miễn, giảm thuế VAT, thuế TNDN, các ưu đãi về tín dụng...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Về chính sách đất đai: Nhiều DNN&V thiếu mặt bằng sản xuất, nhất là ở các tỉnh và các trung tâm công nghiệp. Hiện này ở Việt Nam còn thiếu quy hoạch các khu công nghiệp tập trung dành riêng cho DNN&V và chưa có chính sách cụ thể và rõ ràng về đất đai cho hoạt động sản xuất của các DNN&V.
+ Về chính sách công nghệ: Các DNN&V gặp phải những khó khăn liên quan đến thông tin như: Không hiểu biết kỹ đối tác, nhất là đối tác nước ngoài; không biết xuất xứ của công nghệ của nước ngoài cũng như các thông tin để đánh giá sự phù hợp của công nghệ đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó chất lượng nguồn nhân lực nói chung và kỹ năng của người lao động nói riêng cũng là yếu tố quan trọng để có thể tiếp thu được công nghệ chuyển giao.
Chính sách hiện nay mới chỉ dừng lại ở những phương hướng, chưa có chính sách, chương trình thật cụ thể cho việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài nhiều khi không có lợi cho doanh nghiệp mà còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, các chính sách vĩ mô về công nghệ vẫn còn mâu thuẫn với nhau. Thí dụ, Nhà nước luôn khẳng định khuyến khích các DN đối mới công nghệ, nhưng chế độ khấu hao tài sản đối với DN lại không phù hợp.
- Chính sách lãi suất và tín dụng của các ngân hàng: cùng với chính sách đất đai và chính sách công nghệ , chính sách tài chính tín dụng là một chính sách quan trọng đối với sự phát triển của các DNN &V. Trong tổng dư nợ tín dụng của các ngân hàng , tỷ lệ dành cho các doanh nghiệp NQD đã có chiều hướng tăng lên xong chưa tương xứng với số lượng doanh nghiệp NQD cũng như đóng góp của các doanh nghiệp này trong nền kinh tế. Hiện nay các thủ tục vay tín dụng của các ngân hàng nhìn chung còn quá phức tạp. Việc thiếu các quy định về đăng ký tài sản cá nhân là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong việc thế chấp, cầm cố khi vay mượn. Ngoài ra các thủ tục thế chấp này vẫn có nhiều điểm chưa hợp lý như quy định về công chứng, đánh giá tài sản…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Một thực tế đó là các ngân hàng thương mại không muốn cho các DNN&V vay vì khối lượng vốn vay nhỏ, độ tin cậy thấp, các ngân hàng không đủ cán bộ để quản lý các khoản cho vay nhỏ này. Ngoài ra, các DNN&V lại thường gặp khó khăn trong việc thế chấp tài sản, năng lực lập dự án để vay vốn… do vậy, đa số các DNN&V thường phải huy động vốn trong khu vực tài chính phi chính thức với lãi suất cao, gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chính sách thuế: Hệ thống thuế hiện nay đã được cải cách theo hướng đơn giản hóa để dễ thực hiện, đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế và đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và cạnh tranh được. Tuy nhiên, các chính sách thuế hiện hành vẫn còn phức tạp, còn tồn tại tình trạng phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp và tỷ suất thuế cao, chưa khuyến khích nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn mà mục tiêu chủ yếu là tăng thu trong ngắn hạn.
- Chính sách xuất nhập khẩu và tỷ giá: về chính sách tỷ giá, Việt Nam theo đuổi chính sách tỷ giá cố định so với đồng USD. Điều này tạo nhiều thuận lợi cũng như gây ra khó khăn nhất định cho các doanh nghiệp Việt Nam. Về điều kiện xuất nhập khẩu: chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua có một số điểm gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là các DNN&V. Thủ tục XNK vẫn còn phức tạp, đặc biệt là thủ tục hải quan chưa thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các DNN&V nói riêng. Các DNN&V chủ yếu thực hiện thông qua hoạt động ủy thác. Điều này đã làm cho chi phí XNK cao, các doanh nghiệp không được tiếp cận trực tiếp với bạn hàng nước ngoài nên khó nắm bắt chính xác và kịp thời về nhu cầu và thị hiếu của thị trường xuất khẩu.
- Chính sách cạnh tranh và bảo vệ thị trường: Thị trường Việt Nam tuy có dân số lớn nhưng lại là một thị trường nhỏ do thu nhập của người dân vẫn còn thấp. Ngoài ra, thị trường đang bị ảnh hưởng rất lớn của hàng hóa nhập