Đổi mới phương thức hỗ trợ cho các DNN&V Phú Thọ

Một phần của tài liệu Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh phú thọ (Trang 92 - 112)

Chương 4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VƢ̀A TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

4.3. Một số giải pháp kinh tế nhằm phát triển DNN&V ở Phú Thọ

4.3.1 Đổi mới phương thức hỗ trợ cho các DNN&V Phú Thọ

Phú Thọ đã có nhiều biện pháp hỗ trợ cho phát triển DNN&V như hỗ trợ về lãi suất đầu tư, hỗ trợ cho đền bù giải phóng mặt bằng, hỗ trợ về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, hỗ trợ về chuyển giao công nghệ như đã trình bày trong chương 3. Tuy nhiên, như đã phân tích trong phần những hạn chế và nguyên nhân cuối chương 3 thì các chính sách vĩ mô đang áp dụng đối với tỉnh Phú Thọ vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ và hiệu quả trong việc phát triển các DNN&V của tỉnh nhưng trên thực tế còn thiếu, chưa đủ để đẩy mạnh phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

triển DNN&V. Để phát triển DNN&V, Phú Thọ cần phải thay đổi các phương thức hỗ trợ mới và lựa chọn hình thức hỗ trợ sau:

- Phải đơn giản hơn nữa và giảm thời gian thủ tục cấp giấy phép ĐKKD, giải thể và phá sản doanh nghiệp, dễ dàng hơn trong việc tham gia và rút khỏi thị trường.

- Giảm các điều kiện vay vốn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các DN NQD. Thủ tục cấp, cho vay vốn phải đơn giản và dễ hiểu. Để thực hiện tốt các chính sách đã đề ra, cần thường xuyên cập nhật tình hình và các phản hồi từ phía doanh nghiệp, các hiệp hội để có những sửa đổi nhanh chóng và hợp lý.

- Bảo đảm cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ, có chất lượng tốt để tạo môi trường kinh doanh cho các DNN&V. Khuyến khích xã hội hóa việc cung cấp cơ sở hạ tầng, thu hút vốn ĐTNN vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp riêng thông qua các chương trình bồi dưỡng thiết thực, tổ chức các hội thảo về quản lý doanh nghiệp cho các DNN&V.

- Cung cấp thông tin một cách rõ ràng, minh bạch, kịp thời cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các thông tin về thị trường, về cơ chế, chính sách của Nhà nước.

- Thực hiện những ưu đãi về mặt bằng sản xuất cho các DNN&V thông qua các chính sách thuế: Tiền thuê đất, ưu đãi thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu họat động ..

- Thực hiện bảo hộ có trọng điểm đối với một số ngành sản xuất tại địa phương thông qua: Kiểm soát thị trường, chống hàng nhập lậu đặc biệt là hàng hóa từ Trung Quốc, chống hàng giả và bảo vệ bản quyền và thương hiệu sản phẩm.

- Tạo điều kiện cho các DNN&V hợp tác liên doanh liên kết với nước ngoài, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Sử dụng các chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khuyến khích để các DNN&V tỉnh liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc Việt kiều đầu tư về nước. Theo kinh nghiệm của các nước gia nhập WTO, hình thức liên doanh liên kết sẽ phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

4.3.2. Tăng cường thu hút các nguồn lực

- Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, ưu tiên hạ tầng đô thị, vùng đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện giao lưu phát triển kinh tế hàng hoá. Công bố công khai các quy hoạch, danh mục, phương thức đầu tư các dự án để dân và doanh nghiệp lựa chọn. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án, sử dụng có hiệu quả nguồn lực Nhà nước, thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư (Phú Thọ đang thực hiện chính sách 1 cửa, chính sách đầu tư hạ tầng đến chân hàng rào, áp dụng linh hoạt các hình thức đầu tư BT- BOT- BTO, để thu hút nguồn lực).

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNN&V đăng ký hoạt động, tăng vốn đầu tư, các doanh nghiệp trong nước hợp tác liên doanh. Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất vật liệu mới.

- Áp dụng đầy đủ và vận dụng phù hợp các cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển DNN&V, cụ thể hoá chính sách ưu đãi của Nhà nước đầu tư như: ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế thuộc vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các vùng khó khăn và vào khu công nghiệp (ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng như điện nước, giao thông đến chân hàng rào, tiền thuê đất ở mức tối thiểu….

- Hoàn thành quy hoạch về tổ chức không gian sản xuất, giành quỹ đất thoả đáng cho doanh nghiệp đầu tư. Đầu tư nhanh kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp Thuỵ Vân, Trung Hà, Tam nông, Phù Ninh, Lâm Thao, quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông, điện, thuỷ lợi, đồng thời thực hiện công khai các quy hoạch để thu hút vốn đầu tư.

- Sử dụng có hiệu quả nguồn lực Nhà nước, đầu tư hợp lý có tác dụng thu hút các nguồn lực khác (đầu tư các tuyến, trục giao thông, cửa ngõ các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thành phố, thị xã; các khu công nghiệp, đầu tư thủy lợi, hạ tầng làng nghề, dịch vụ ven khu công nghiệp). Thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư, áp dụng linh hoạt các hình thức đầu tư.

4.3.3. Đổi mới quản lý Nhà nước đối với DNN&V Phú Thọ

Thứ nhất, Xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ và hợp lý cho việc quản lý và hỗ trợ các DNN&V Phú Thọ.

- Xác định rõ căn cứ để xác định DNN&V trong thời kỳ trước mắt từ nay đến 2020 làm cơ sở cho việc phân loại và quản lý đối với các doanh nghiệp này.

- Đơn giản hóa các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, giảm thủ tục và thời gian cấp phép đăng ký kinh doanh, triển khai cấp phép ĐKKD qua mạng Internet.

- Tăng cường quản lý Nước nước đối với các DNN&V sau khi đã được cấp ĐKKD với các quy định, chế tài đầy đủ. Yêu cầu các doanh nghiệp này thông báo ngay cho cơ quan ĐKKD khi có những thay đổi. Hướng dẫn các doanh nghiệp nộp báo cáo kinh doanh định kỳ cho cơ quan ĐKKD. Đơn giản hóa việc nộp báo cáo kinh doanh để tránh gây phiền hà cho các doanh nghiệp.

- Xây dựng chiến lược phát triển rõ ràng cho các DNN&V tỉnh đến 2015, 2020 gắn liền với chiến lược phát triển KT-XH, quy hoạch phát triển KT-XH của tỉnh.

- Xây dựng đồng bộ các chính sách hỗ trợ đối với các DNN&V tỉnh đến 2010, tập hợp các quy định, các chính sách này một cách có hệ thống, thuận tiện cho việc quản lý của các cơ quan Nhà nước và cho họat động của các doanh nghiệp.

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách của Nhà nước đã ban hành, không được ban hành các chính sách trái chính sách chung của Nhà nước (xét thấy chính sách chung không phù hợp thì kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, bàn giao cho nhà đầu tư theo đúng cam kết. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong việc tìm kiếm, kêu gọi đối tác đầu tư trên địa bàn (kể cả khai thác thị trường XK hàng hoá và thị trường XK lao động).

Thứ hai, hoàn thiện và tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước đối với các DNN&V tỉnh.

- Nghiên cứu thành lập Hội đồng phát triển DNN&V Phú Thọ, là một cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh về cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích để phát triển các DNN&V tỉnh.

- Các Sở, ban, ngành; UBND các huyện thành thị căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ được UBND tỉnh giao thực hiện quản lý Nhà nước đối với các thành phần kinh tế (khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), giao trách nhiệm kiển tra, kiểm soát theo từng chuyên ngành cụ thể phù hợp với chức năng quản lý Nhà nước nhằm khắc phục tình trạng vừa buông lỏng, vừa chồng chéo của các cơ quan quản lý nhà nước, vừa đảm bảo nguyên tắc DNN&V hoạt động kinh doanh tuân thủ đúng quy định pháp luật.

- Cấp huyện và cấp xã có trách nhiệm phối hợp với các cấp tỉnh, quản lý DNN&V trong địa phương mình, trong việc giám sát, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn các trường hợp vi phạm; có trách nhiệm củng cố trật tự trị an, tạo môi trường lành mạnh, để các DNN&V yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh.

- Định kỳ hàng năm tiến hành họp giao ban giữa các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành, thị với Hiệp hội và đại diện các DNN&V để kiểm điểm, đánh giá hoạt động và trao đổi rút kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với DNN&V trên địa bàn….

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp hợp lý giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đối với các DNN&V và các tổ chức, các Hiệp hội DNN&V trên địa bàn tỉnh.

- Phân định rõ ràng chức năng quản lý Nhà nước của các cơ quan công quyền đối với các DNN&V để tránh sự chồng chéo và buông lỏng quản lý đối với các doanh nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Xây dựng cơ chế họat động rõ ràng cho các Hiệp hội, các tổ chức của DNN&V. Phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức này có thể kết hợp tốt để bảo vệ quyền lợi và phát triển DNN&V tỉnh cả về số lượng và chất lượng, đồng thời không có sự chồng chéo trong họat động.

4.3.4. Khuyến khích thành lập và nâng cao hiệu quả họat động của các Hiệp hội DNN&V ở Phú Thọ

Qua phân tích trong Chương 3, trong thời gian vừa qua, các DNN&V Phú Thọ đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, tính đến cuối năm 2008, ở Phú Thọ mới bắt đầu thành lập Hiệp hội DNN&V, đây là tổ chức duy nhất đại diện cho các DNN&V. Hiệp hội này đến nay mới chỉ có 36 thành viên, mới ra mắt và hoạt động từ đầu năm 2009. Ngoài ra chưa có một tổ chức, hiệp hội, hay câu lạc bộ riêng của DNN&V của tỉnh. Các DNN&V thời gian qua họat động chủ yếu mang tính tự phát, thiếu định hướng, cạnh tranh lẫn nhau, không có khả năng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Do đó để tiếp tục phát triển DNN&V, Phú Thọ khuyến khích thành lập các hiệp hội, các câu lạc bộ của riêng các DNN&V tỉnh, khuyến khích xây dựng cơ chế họat động hợp lý và hiệu quả cho các Hiệp hội và các tổ chức của DNN&V. Cụ thể:

Thứ nhất, thành lập trung tâm xúc tiến DNN&V Phú Thọ.

Nhiều địa phương như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đã thành lập ra trung tâm này và có những hỗ trợ thiết thực cho họat động của các DNN&V địa phương. Chức năng của trung tâm xúc tiến DNN&V là: Xây dựng hoặc tham gia xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ kế hoạch và đầu tư về xúc tiến phát triển DNN&V; Tổng hợp chương trình trợ giúp DNN&V; Thực hiện điều phối, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện các chương trình trợ giúp sau khi được duyệt. Định kỳ 6 tháng 1 lần, tổng hợp báo cáo tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp về phát triển DNN&V và các vấn đề cần giải quyết. Phối hợp với các ngành, bộ tổ chức liên quan thực hiện xúc tiến, phát triển DNN&V theo quy định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thứ hai, thành lập các tổ chức trợ giúp cho các DNN&V Phú Thọ Nhà nước và tỉnh đã và đang có nhiều sự quan tâm đối với việc phát triển DNN&V và đã có các giải pháp, các chính sách đồng bộ cho phát triển DNN&V. Tuy nhiên, như đã phân tích trong Chương 3, nhiều chính sách vẫn chưa hiệu quả hoặc chưa kịp thời với sự phát triển của DNN&V. Điều này đã hạn chế sự phát triển DNN&V Phú Thọ, chưa phát huy được những thế mạnh vốn có của các doanh nghiệp này. Các giải pháp, các chính sách hỗ trợ mà Chính phủ và tỉnh đưa ra nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn, thiếu thôn tin, thiếu phương hướng sản xuất kinh doanh, thiếu mặt bằng sản xuất ... cho các DNN&V. Nhưng các chính sách này đến với từng đối tượng doanh nghiệp chủ yếu thông qua họat động của các câu lạc bộ, các hiệp hội của DNN&V.

Thông qua các hiệp hội và các tổ chức của DNN&V, các doanh nghiệp này sẽ cùng nhau hội thảo, diễn đàn, trao đổi học hỏi kinh nghiệm... mục đích nhằm khắc phục tình trạng: Thiếu thông tin, khó khăn về vốn, về cạnh tranh. Trên thực tế của một số địa phương, có nhiều hiệp hội, hội, đoàn thể khác nhau đã hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp thành viên như: Hiệp hội các nhà thầu, Hội nông dân, hội của những người làm công tác xuất khẩu... Các hội, hiệp hội này họat động là một thực tế khách quan. Do đó, việc thành lập các hiệp hội, hội, các câu lạc bộ của DNN&V, nâng cao hiệu quả họat động của các tổ chức này là một đòi hỏi khách quan. Việc tổ chức hiệp hội này phải trên cơ sở các đòi hỏi khách quan đó và việc tham gia các tổ chức này phải mang tính tự nguyện đối với các DNN&V. Các Hiệp hội phải có hình thức họat động hiệu quả và các DNN&V phải có được lợi ích khi tham gia. Phú

Thọ cần phải học hỏi các mô hình tổ chức hiệp hội ở các tỉnh như Hà Nội, tỉnh Hồ Chí Minh kết hợp với kinh nghiệm của các nước trong khu vực, để vận dụng thích hợp với điều kiện của tỉnh. Để thực hiện được điều này, tỉnh cần thực hiện các công việc cụ thể:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Thành lập thêm các tổ chức trợ giúp DNN&V của từng ngành hoặc từng lĩnh vực, từng sản phẩm nhằm thực hiện các chương trình trợ giúp cụ thể và có hiệu quả hơn.

- Các hiệp hội, câu lạc bộ DNN&V Phú Thọ phải triển khai được các họat động ở nước ngoài nhằm trợ giúp một cách thiết thực và trực tiếp cho các DNN&V của tỉnh. Bởi vì như đã phân tích ở chương 3, các DNN&V Phú Thọ với tiềm lực vốn yếu, năng lực quản lý hạn chế khó có khả năng tự tìm kiếm và mở rộng thị trường, khó khăn trong việc tìm kiếm công nghệ thích hợp để thực hiện chuyển giao công nghệ.

- Thành lập Trung tâm tư vấn, hỗ trợ thông tin về mọi mặt cho các DNN&V tỉnh, là đầu mối cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp này, thực hiện giải đáp các câu hỏi và tư vấn cho việc giúp đỡ các DNN&V.

- Thành lập quỹ khởi tạo doanh nghiệp. Nguồn của quỹ này được hình thành từ nguồn vốn quyên góp từ các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân và một phần từ ngân sách của tỉnh. Quỹ này sẽ thúc đẩy phát triển DNN&V về số lượng, dùng quỹ này để thực hiện ưu đãi về lãi suất cho các DNN&V mới thành lập của tỉnh.

- Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng DNN&V Phú Thọ với nguồn được hình thành từ một phần vốn trích từ ngân sách tỉnh, vốn góp của các doanh nghiệp, của các ngân hàng và vốn của quỹ bảo lãnh tín dụng Trung ương. Quỹ này dùng để bảo lãnh cho các DNN&V của tỉnh trong trường hợp không có đủ tài sản thế chấp để vay vốn của các tổ chức tín dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh.

Tóm lại, việc thành lập Trung tâm xúc tiến, hỗ trợ DNN&V Phú Thọ và các tổ chức hỗ trợ khác phải thực hiện được các mục tiêu:

+ Đẩy mạnh phát triển DNN&V về số lượng và chất lượng

+ Tăng cường khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường họat động.

+ Cải thiện tình hình khó khăn về thông tin thị trường, thông tin chính sách.

Một phần của tài liệu Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh phú thọ (Trang 92 - 112)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)