CHƯƠNG I. CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ MỘT KHỐI THỐNG NHẤT
2.2. Thành phần của máu
2.2.1. Khối lượng và thành phần của máu
Khối lượng máu được tính theo phần trăm khối lượng cơ thể hay theo đơn vị ml/kg khối lượng cơ thể, thay đổi theo lứa tuổi. Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể ở trẻ em lớn hơn người lớn. Trong quá trình phát triển của trẻ em, tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể giảm dần.
16
Bảng 2.1. Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể của trẻ em.
STT Giai đoạn Tỉ lệ máu so với khối lượng cơ thể (%)
1 Sơ sinh 15
2 1 tuổi 11
3 6-11 tuổi 9
4 Người trưởng thành 7
Ngoài ra khối lượng máu còn thay đổi tùy theo trạng thái sinh lý cơ thể.
Ví dụ: lượng máu tăng lên sau bữa ăn, khi mang thai và giảm khi đói, khi cơ thể bị mất nước, ở trẻ em có tỷ lệ thể tích máu so với trọng lượng cơ thể cao hơn người trưởng thành.
Khi để máu lắng có thể phân biệt máu thành 2 phần. Phần trên trong suốt, có màu vàng nhạt là huyết tương tương chiếm 55-60% thể tích máu toàn phần. Phần dưới có màu đỏ là các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) chiếm 40-45%
thể tích máu toàn phần.
2.2.2. Huyết tương (Plasma)
Huyết tương là một dịch thể lỏng, trong, màu vàng nhạt, vị hơi mặn, chiếm tỷ lệ 55-60% khối lượng máu toàn phần. Độ nhớt của huyết tương so với nước khoảng 1,7-2,2.
Chức năng của huyết tương là tạo dòng chảy trong hệ mạch tạo điều kiện cho sự di chuyển của các tế bào máu, là dung môi hoà tan của các chất hữu cơ và vô cơ nên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng vận chuyển, đảm bảo áp suất thẩm thấu và độ ổn định pH trong máu, tham gia bảo vệ cơ thể.
Thành phần của huyết tương gồm: nước chiếm 90-92%; chất khô chiếm khoảng 8-10%.
* Các chất hữu cơ chủ yếu của huyết tương gồm:
Protein của huyết tương chiếm tỷ lệ 7,5%, gồm 3 loại chủ yếu: albumin, globulin, fibrinogen.
- Albumin chiếm khoảng 54% protein toàn phần, tham gia vào cấu trúc, đặc trưng cho khả năng sinh trưởng phát triển của cơ thể, tham gia tạo ra áp suất thể keo của máu và tham gia vào quá trình vận chuyển các chất trong cơ thể.
- Globulin chiếm khoảng 38% protein toàn phần gồm 4 loại 1, 2, , globulin. Trong đó 1, 2, globulin tham gia vào quá trình vận chuyển các chất lipid như acid béo, phosphatid, steroid…còn globulin tham gia vào chức năng bảo vệ cơ thể, nó là những kháng thể có tác dụng trung hòa các kháng nguyên, tạo khả năng miễn dịch cho cơ thể. Đó là những globulin miễn dịch Ig (immunoglobulin) gồm 5 loại : IgG, IgA, IgM, IgD, IgE. Nồng độ Ig trong huyết tương tăng chứng tỏ cơ thể
17
đang phản ứng lại các kháng nguyên, và giảm trong các bệnh chức năng của các lympho giảm sút như trong các bệnh bạch cầu dòng hạt, bệnh thiếu lympho bẩm sinh…
- Fibrinogen chiếm tỷ lệ 4-5% protien toàn phần, tham gia vào quá trình đông máu của cơ thể.
Lipid của huyết tương không có dạng tự do mà kết hợp với protein tạo thành các hợp chất hoà tan là lipoprotein. Hàm lượng lipoprotein tăng lên sau khi ăn.
Lipid của huyết tương tham gia vào quá trình vận chuyển lipid của thức ăn vào cơ thể thông qua hệ bạch huyết, vận chuyển acid béo, cholesteron, ngoài ra lipid của huyết tương còn là nguyên liệu để tổng hợp các loại lipid, các loại hormone của các tuyến nội tiết.
Glucid của huyết tương hầu hết ở dạng glucose có hàm lượng ổn định ở mức 1,0-1,2g/l và tăng lên sau bữa ăn. Nếu tỷ lệ glucose trong máu cao hơn 1,8g/l thì glucose sẽ được đào thải theo nước tiểu (bệnh đái tháo đường). Glucid là nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho quá trình tổng hợp các chất trong tế bào.
* Các hợp chất hữu cơ không phải là protein
Các hợp chất hữu cơ không phải là protein trong huyết tương gồm:
- Nhóm có chứa N bao gồm các chất như acid uric, acid amin tự do, creatin, bilirubin và amoniac…
- Nhóm không có chứa N gồm các chất như glucose, lipid, cholesteron, acid lactic...
* Các thành phần vô cơ.
Các chất vô cơ trong huyết tương chiếm 0,75% khối lượng của huyết tương, trong đó thành phần quan trọng nhất là muối NaCl, ngoài ra còn có muối calci, kali, magie…Các muối trong huyết tương thường ở dạng clorua, phosphat, bicarbonat.
Hàm lượng muối trong huyết tương thường không cao và được coi như là hoàn toàn phân li thành các ion như: Na+, K+, PO43-, HCO3- …
2.2.3. Hồng cầu
2.2.3.1. Hình dạng hồng cầu
Tế bào hồng cầu ở người dạng hình tròn lõm 2 mặt, đường kính khoảng 7 - 8
m, dày khoảng 2 m ở xung quanh và 1m ở phần lõm, thể tích trung bình khoảng 77 ± 5 m3.
Thành phần chung của hồng cầu gồm: nước 63-67%, chất khô 33-37% trong đó: protein 28%; các chất có nitơ 0,2%, ure 0,02%, glucid 0,075%, lipid và lecithin, cholesterol 0,3%.
Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều là hemoglobin (Hb) và màng hồng cầu.
18
- Mỗi hồng cầu có khoảng 200-300 triệu phân tử Hb, chiếm khoảng 1/3 khối lượng hồng cầu. Mỗi phân tử Hb gồm 1 phân tử globin (gồm 4 chuỗi polypeptid ) và 4 nhân hem. Globin gồm 4 chuỗi polypeptid giống nhau từng cặp là α, β, γ, δ. Hb ở bào thai là HbF (gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi γ). Hb ở người trưởng thành gồm HbA1 (gồm 2 chuỗi α và 2 chuỗi β), HbA2 ( 2 chuỗi α và 2 chuỗi δ). Mỗi phân tử Hb có thể gắn với 4 phân tử oxy. 1g Hb gắn với 1,34 ml oxy. Ở trẻ em lứa tuổi tiểu học hàm lượng Hb khoảng 128±10g/l máu đối với nam và 128±0,9g/l máu đối với nữ.
- Màng hồng cầu có khả năng đàn hồi và có tính thấm chọn lọc. Màng hồng cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu.
Số lượng hồng cầu được tính bằng triệu/mm3 máu thay đổi tuỳ thuộc vào độ tuổi, trạng thái hoạt động, trạng thái sinh lý. Ở trẻ em giai đoạn 7 - 17 tuổi, số lượng hồng cầu 4,78 ± 0,44 triệu/mm3 máu ở nam và 4,80 ± 0,40 triệu/mm2 máu ở nữ.
2.2.3.2. Chức năng của hồng cầu
- Chức năng vận chuyển O2 và CO2 được thực hiện bởi huyết cầu tố Hb.
O2 liên kết Fe2+ của nhân Hem bằng liên kết hydro theo phản ứng sau:
Hb + O2 HbO2
CO2 liên kết với gốc NH2 của chuỗi polypeptid theo phản ứng sau:
R-NH2 +CO2 R-NHCOOH
(Hb + CO2 HbCO2)
Trong trường hợp Hb gặp CO (carbon monoxide) sẽ xảy ra phản ứng sau.
Hb + CO HbCO
HbCO là dạng liên kết bền do đó hàm lượng Hb tự do giảm, không đủ để vận chuyển O2 và CO2 kết quả dẫn đến hiện tượng ngộ độc khí CO (bị ngạt).
- Chức năng miễn dịch: hồng cầu giữ lấy các phức hợp kháng thể - kháng nguyên - bổ thể tạo thuận lợi cho quá trình thực bào (các phức hợp miễn dịch có khả năng bám vào hồng cầu nhiều gấp 500-1000 lần so với bạch cầu).
- Chức năng điều hoà cân bằng acid - base trong máu thông qua hệ đệm protein.
2.2.3.3. Đời sống hồng cầu trong cơ thể
Ở giai đoạn bào thai, trong những tuần đầu của phôi hồng cầu được sản sinh ở lá phối giữa; từ tháng thứ hai trở đi, hồng cầu được sinh ra ở gan và lách; cuối giai đoạn bào thai về sau, hồng cầu được sinh ra ở tuỷ đỏ của xương.
Phổi
Mô bào Phổi Mô bào
19
Thời gian tồn tại của hồng cầu người khoảng 90-120 ngày. Khi hệ thống enzyme của hồn cầu giảm đi, màng hồng cấu trở nên dễ vỡ. Khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách, hồng cầu vỡ ra và giải phóng Hb. Hb sau khi được giải phóng sẽ bị các đại thực bào của gan, lách và tủy xương thực bào. Có 150 triệu hồng cầu bị tiêu huỷ trong 1 phút.
2.2.4. Bạch cầu
2.2.4.1. Hình dạng, số lượng bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào máu có nhân điển hình, không có hình dạng xác định, có khả năng di chuyển theo kiểu amip và có khả năng chui ra khỏi mạch.
Kích thước bạch cầu biến động từ 5-25m. Hình thái nhân, cấu trúc nguyên sinh chất thay đổi tuỳ loại bạch cầu.
Số lượng bạch cầu thay đổi tùy tuổi và trạng thái sinh lý. Số lượng BC của trẻ ở giai đoạn 7-17 tuổi đạt giá trị 9700±2400 bạch cầu/mm3 máu đối với nam và 9200±2100 bạch cầu/mm3 đối với nữ. Bạch cầu tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mãn tính, sau khi ăn. Bạch cầu giảm trong trường hợp bị nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy hoặc tuổi già.
2.2.4.2. Phân loại bạch cầu
Dựa vào kích thước tế bào, cấu tạo hình thái nhân, sự có hạt hay không hạt trong nguyên sinh chất, độ lớn của các hạt và sự bắt màu các hạt đối với thuốc nhuộm toan kiềm, bạch cầu được chia thành 2 nhóm gồm 5 loại:
Nhóm bạch cầu không hạt, đơn nhân: trong bào tương không có hạt và có nhân không phân thuỳ được chia làm 2 loại:
- Bạch cầu mono (monocyte) có kích thước lớn nhất với đường kính khoảng 15-15m, nhân lớn chiếm hết khoảng nội bào, bào tương không có hạt.
- Bạch cầu lympho (lymphocyte) có kích thước khoảng 5-15m, nhân có dạng hình tròn hay dạng hình hạt đậu chiếm hết khoang nội bào, bắt màu đậm.
Nhóm bạch cầu có hạt đa nhân: nhân chia làm nhiều thuỳ, bào tương có các hạt bắt màu đặc trưng khi nhuộm giemsa.
- Bạch cầu trung tính (neutrophil) có kích thước khoảng 10-15 m, nhân chia làm 3, 4 hay 5 thùy, trong bào tương có các hạt bắt màu đỏ nâu khi nhuộm giemsa.
- Bạch cầu ưa acid (eosinophil) có kích thước 10-15m, nhân phân đoạn như bạch cầu trung tính, trong bào tương có các hạt bắt màu hồng đỏ khi nhuộm giemsa.
- Bạch cầu ưa base (basophil) có kích thước khoảng 10-15 m, nhân chia làm 2-3 thuỳ, bào tương có các hạt bắt màu xanh tím khi nhuộm giemsa.
Công thức bạch cầu là tỷ lệ phần trăm của các loại bạch cầu trong máu.
2.2.4.3. Chức năng bạch cầu
20
Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách sau:
Thực bào là khả năng mà bạch cầu sẽ tiêu hóa những chất lạ hoặc các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, tạo cho cơ thể có sức đề kháng tự nhiên dẫn tới hình thành sự miễn dịch bẩm sinh. Quá trình thực bảo gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn gắn: các kháng nguyên, vi khuẩn, các chất lạ… sẽ được gắn vào các điểm tiếp nhận của bạch cầu.
- Giai đoạn nuốt: bạch cầu hình thành chân giả bao vây lấy kháng nguyên, vi khuẩn, vật lạ…
- Giai đoạn tạo thành hốc: chất nguyên sinh sẽ lõm vào để tạo các hốc và các lisosom sẽ tiết enzyme vào các hốc đó.
- Giai đoạn tiêu diệt: kháng nguyên, vi khuẩn và chất lạ sẽ bị phân giải dưới tác dụng của các enzyme.
Bạch cầu trung tính có khả năng thực bào các loại vi khuẩn và các vật thể có kích thước nhỏ (1 tế bào có khả năng thực bào khoảng 5-26 vi khuẩn).
Bạch cầu mono có khả năng thực bào vi khuẩn, các vật có kích thước lớn hơn và hồng cầu già (1 tế bào có khả năng thực bào khoảng 100 vi khuẩn). Ngoài ra bạch cầu mono còn có khả năng kích thích bạch cầu lympho sản xuất kháng thể.
Bạch cầu ưa acid có khả năng thực bào nhưng yếu và chủ yếu tập trung ở vùng viêm nhiễm vào giai đoạn cuối để dọn sạch sản phẩm viêm nhiễm.
Đáp ứng miễn dịch: kháng nguyên lạ khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra một đáp ứng miễn dịch bằng cách sản sinh ra các kháng thể tương ứng đặc hiệu với kháng nguyên để bảo vệ cơ thể. Đáp ứng miễn dịch gồm 2 dạng:
Miễn dịch dịch thể: do lympho B tiết ra IgG hoà tan huyết thanh, huyết thanh này được dùng để phòng chữa bệnh như huyết thành phòng dại, huyết thanh chống uốn ván…
Miễn dịch tế bào: do lympho T bị kích thích bới các kháng nguyên, độc tố…
Lympho bào T trở thành lympho cảm ứng. Nhờ đó lympho T tiêu diệt được các tác nhân xâm nhập vào cơ thể bằng con đường trực tiếp hay gián.
Tạo interferon do bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính sản sinh ra khi có các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể. Interferon có tác dụng ức chế sự sản sinh ra các virut hạn chế hiện tượng ung thư.
2.2.4.4. Đời sống bạch cầu
Thời gian sống của bạch cầu trong điều kiện sinh lý bình thường khoảng 8-12 ngày. Bạch cầu có hạt sống được từ 4-5 ngày trong các mô; bạch cầu mono lớn thời gian sống khoảng 10-20 giờ trong máu lưu thông sau đó xuyên qua mạch máu để đến các mô và sống ở đó (có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm); bạch cầu lympho sống
21
được khoảng 4 - 24 giờ tuy nhiên tùy theo nhu cầu cơ thể có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm. Bạch cầu có hạt đa nhân được sinh ra từ tủy ở xương, bạch cầu lympho được sinh ra từ tổ chức lưới của lách và ống tiêu hóa và bạch cầu mono có có giả thuyết cho rằng được sinh ra ở hệ võng mạc nội mô. Khi già, bạch cầu bị phá huỷ ở mọi nơi trong cơ thể như gan, lách, tủy xương và các hạch bạch huyết.
3.2.5. Tiểu cầu
2.2.5.1. Hình dạng và số lượng tiểu cầu
Tiểu cầu là những tế bào nhỏ, kích thước khoảng 2-4m, không nhân, có hình dạng không ổn định.
Số lượng tiểu cầu thay đổi tuỳ theo độ tuổi, trạng thái cơ thể. Số lượng tiểu cầu tăng khi bữa ăn có nhiều thịt, lúc chảy máu và khi bị dị ứng. Tiểu cầu giảm trong các trường hợp thiếu máu ác tính, ban xuất huyết, choáng, khi bị nhiễm phóng xạ…. Ở trẻ giai đoạn từ 7-17 tuổi số lượng tiểu cầu khoảng 339.000±91.000 tiểu cầu/mm3 máu đối với nam và 338.000 ±103.000 tiểu cầu/mm3 đối với nữ.
2.2.5.2. Tính chất tiểu cầu
Tiểu cầu có khả năng dính kết vào các tiểu phần khác nhau và vào vi khuẩn lạ. Tiểu cầu có khả năng ngưng kết, tạo thành đám không có hình dạng nhất định.
Tiểu cầu rất dễ vỡ và giải phóng thromboplastin, seretonin...
2.2.5.3. Chức năng của tiểu cầu
Tiểu cầu có chức năng sinh lý sau
Chức năng co các mạch máu: seretonin được giải phóng khi tiểu cầu vỡ tham gia vào chức năng làm co mạch máu khi cơ thể bị tổn thương
Chức năng đông máu: thromboplastin do tiểu cầu giải phóng là yếu tố tham gia vào quá trình đông máu.
Chức năng co cục máu: tiểu cầu có tính chất ngưng kết, củng cố sự cầm máu khi bị thương.
2.2.5.4. Đời sống của tiểu cầu
Tiểu cầu được sinh ra từ các tế bào có nhân khổng lồ (mẫu tiểu cầu), đường kính 40-100m có khả năng vận động bằng giả túc ở tuỷ xương và có thể ở phổi.
Thời gian sống của tiểu cầu khoảng 9-11 ngày và bị phá huỷ ở lách…