Các yếu tố chủ quan

Một phần của tài liệu Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam (Trang 57 - 61)

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

2.3.1. Các yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan là những yếu tố tồn tại bên trong ý thức của các chủ thể GDPL và đối tượng tiếp nhận GDPL, chi phối quan niệm, nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ; từ đó, ảnh hưởng tới hiệu quả GDPL cho PN. Các yếu tố chủ quan đó bao gồm ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức, thực hiện, đạo đức, lối sống của chủ thể GDPL cho PN và trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức pháp luật của bản thân các PN.

2.3.1.1. Ý thc trách nhim, năng lc t chc, thc hin, đạo đức ca ch th giáo dc pháp lut cho phm nhân

a) Ý thức trách nhiệm của chủ thể giáo dục pháp luật

Theo quy định của pháp luật, việc triển khai GDPL cho PN thuộc trách nhiệm của TG mà trực tiếp là lãnh đạo, chỉ huy, CBGDPL và cán bộ quản giáo. Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm đó như thế nào lại phụ thuộc chủ yếu vào ý thức trách nhiệm của từng chủ thể. Điều đó nói lên rằng, ý thức trách nhiệm của chủ thể GDPL có ảnh hưởng rất quan trọng tới chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho PN trong các TG.

Ý thức trách nhiệm của chủ thể GDPL cho PN thể hiện ở quan niệm, sự nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng, sự tác động của công tác GDPL đối với PN; ở sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành công tác chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ GDPL; xây dựng, phê duyệt kế hoạch, chuẩn bị bài giảng theo nội dung chương trình GDPL; lựa chọn phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với nội dung bài giảng về pháp luật, đặc điểm của đối tượng PN... Ý thức trách nhiệm của chủ thể còn biểu hiện ở sự đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện chương trình; ở việc đánh giá kết quả thực hiện của CBGDPL, đánh giá hiệu quả, sự tác động của GDPL đối với PN tại TG.

Nếu chủ thể có ý thức trách nhiệm cao đối với công tác GDPL cho PN: Đảng ủy, từng chi bộ thuộc TG có sự quan tâm, lãnh đạo sâu sát công tác này; lãnh đạo TG có sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt việc thực hiện kế hoạch, chương trình, dành thời gian để trực tiếp đứng lớp; chỉ huy các phân trại, đội nghiệp vụ giáo dục có sự đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra thường xuyên; từng CBGDPL có sự nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao... thì chắc chắn công tác GDPL cho PN trong các TG sẽ đạt được chất lượng, hiệu quả cao, tác động tích cực tới việc hình thành, củng cố và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của PN. Ngược lại, khi chủ thể GDPL thiếu tinh thần, ý thức trách nhiệm, thiếu sự phối hợp, thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, CBGDPL chỉ lên lớp làm cho xong nhiệm vụ được giao, ít quan tâm tới chất lượng, hiệu quả công việc... thì công tác GDPL cho PN sẽ chỉ mang tính hình thức, hoạt động cầm chừng, không đạt được hiệu quả như mong muốn.

Như vậy, ý thức trách nhiệm của chủ thể GDPL có ảnh hưởng rất quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho PN trong các TG.

b) Năng lực tổ chức, thực hiện, đạo đức của chủ thể giáo dục pháp luật Cùng với ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức, thực hiện và đạo đức của chủ thể GDPL cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho PN trong các TG. Giữa ý thức trách nhiệm của chủ thể và năng lực tổ chức thực hiện của chủ thể GDPL có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở chỗ: nếu chủ thể GDPL cho PN có ý thức trách nhiệm mà không có năng lực tổ chức, thực hiện thì đó chỉ là ý thức trách nhiệm suông, vô giá trị; ngược lại, nếu chủ thể có năng lực tổ chức, thực hiện nhưng không có hoặc thiếu ý thức trách nhiệm thì công tác GDPL cho PN sẽ không được thực hiện đến nơi, đến chốn, nảy sinh tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Về cơ bản, năng lực tổ chức, thực hiện GDPL cho PN trong các TG là phẩm chất, tiêu chuẩn nghiệp vụ cần thiết và phải có ở từng chủ thể trực tiếp làm công tác GDPL cho PN. Năng lực đó chủ yếu thể hiện ở trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luậtkỹ năng nghiệp vụ sư phạm của chủ thể GDPL.

Để có thể lên lớp giảng dạy về pháp luật cho PN thì trước hết, bản thân lãnh đạo, chỉ huy, CBGDPL của các TG phải có trình độ kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật. Kiến thức pháp luật là nền tảng để CBGDPL nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công việc mà mình đảm nhiệm, về nội dung, tinh thần của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự, thi hành án hình sự và các văn bản QPPL khác có liên quan đến quá trình PN chấp hành án phạt tù nói riêng; về tác động thực tế của các văn bản QPPL đó đối với PN... Trên nền tảng kiến thức, hiểu biết pháp luật sẵn có, CBGDPL mới có thể xác định, lựa chọn những nội dung pháp luật cụ thể, thiết thực, tác động trực tiếp tới PN để giảng dạy, truyền đạt nhằm cung cấp kiến thức pháp luật cho họ một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu kiến thức pháp luật của đội ngũ CBGDPL ở trình độ thấp, không được tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề pháp luật thường xuyên thì họ sẽ bị động, lúng túng khi đứng lớp giảng bài; thiếu tự tin khi giải thích những nội dung pháp luật mà PN chưa rõ. Kiến thức, hiểu biết pháp luật của CBGDPL ở trình độ thấp sẽ có tác động tiêu cực tới hiệu quả GDPL cho PN.

Có kiến thức, hiểu biết pháp luật rồi, chủ thể GDPL còn phải có và (nếu có thể) thành thạo kỹ năng nghiệp vụ sư phạm - nhân tố quyết định tạo nên bài giảng pháp luật sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người nghe. Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của chủ thể GDPL thể hiện ở khẩu khiếu thuyết trình, đối thoại, ở sự lựa chọn và sử dụng phối kết hợp các phương pháp giảng dạy, truyền đạt thông tin, nội dung pháp

luật; ở việc đưa ra những tình huống pháp lý, sự kiện pháp luật thực tế liên quan đến nội dung pháp luật đang truyền đạt để giúp PN dễ nhớ, dễ hiểu; ở sự vận dụng công nghệ thông tin để soạn giáo án/bài giảng điện tử phục vụ quá trình giảng dạy... Có được những kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cơ bản là điều kiện tiên quyết để CBGDPL thu hút, lôi cuốn PN vào nội dung bài giảng mà không cần đến bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nào. Ngược lại, CBGDPL thiếu hoặc không có những kỹ năng nghiệp sư phạm cần thiết thì dù có dùng tới biện pháp bắt buộc PN ngồi im lặng, trật tự trong hội trường hay phòng học, tâm hồn họ vẫn rất có thể đang “treo ngược cành cây” trong khi CBGDPL vẫn đang thuyết trình, độc thoại. Ngoài ra, phẩm chất đạo đức lành mạnh, trong sáng của người thầy cũng ảnh hưởng tích cực tới PN.

Sự phân tích, lý giải trên đây cho thấy năng lực tổ chức, thực hiện GDPL của chủ thể GDPL có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng, mạnh mẽ tới chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho PN trong các TG ở Việt Nam hiện nay.

2.3.1.2. Trình độ hc vn, kh năng tiếp nhn thông tin, kiến thc pháp lut ca các phm nhân

Trình độ học vấn là khái niệm chỉ hệ thống những kiến thức, hiểu biết về tự nhiên, xã hội, về chính bản thân con người mà mỗi cá nhân tiếp nhận và tích lũy được trong quá trình tham gia học tập, nghiên cứu ở những cấp học, bậc học nhất định thuộc nền giáo dục của một quốc gia. Trình độ học vấn là khái niệm có nội hàm rất rộng, trong đó bao hàm cả trình độ hiểu biết xã hội nói chung và trình độ hiểu biết pháp luật nói riêng [56, tr.180].

Trong hoạt động GDPL cho PN, trình độ học vấn của PN có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiếp thu kiến thức pháp luật của họ. Quá trình tham gia giáo dục, học tập ở các cấp học, bậc học trước đây đã giúp PN tiếp thu, tích lũy được những tri thức, hiểu biết khoa học nhất định. Những tri thức, hiểu biết đó là cơ sở để PN lĩnh hội, ghi nhớ các nội dung pháp luật được truyền đạt trên lớp và thông qua những hình thức giáo dục pháp luật khác; từ đó, họ có thể vận dụng những kiến thức pháp luật hấp thụ được vào quá trình chấp hành án phạt tù trong TG cũng như sau khi mãn hạn tù. Trình độ học vấn có được càng cao thì PN càng dễ tiếp thu, hiểu được những khái niệm pháp lý được sử dụng trong các văn bản QPPL mà họ được học. Ngược lại, trình độ học vấn của PN thấp, thậm chí mù chữ thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức pháp luật; bởi lẽ, bản thân PN chưa

hiểu hết ngữ nghĩa của những thuật ngữ, khái niệm thông thường thì làm sao họ có thể hiểu được các khái niệm pháp luật.

Chẳng hạn, một PN trước đây đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã tốt nghiệp đại học, thậm chí sau đại học, sẽ dễ dàng tiếp thu, lĩnh hội thông tin, kiến thức pháp luật hơn so với một PN mới chỉ học xong tiểu học hoặc mù chữ; có nghĩa là sự khác biệt nằm ở nền tảng trình độ học vấn. Điều đó chứng tỏ trình độ học vấn có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức pháp luật của các PN; từ đó, ảnh hưởng đến hiệu quả GDPL cho PN tại các TG.

Một phần của tài liệu Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam (Trang 57 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(243 trang)