Đầu ra của nông nghiệp

Một phần của tài liệu Đặc điểm kinh tế nông thôn việt nam 2010 (Trang 74 - 79)

Bảng 4.11 trình bày sự tham gia của các hộ vào các hoạt động nông nghiệp khác nhau trong năm 2008 và 2010. Có ít thay đổi trong tỷ lệ hộ tham gia vào các hoạt động khác nhau (trồng trọt, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản). Nhìn chung, chỉ có sự sụt giảm nhẹ trong tỷ lệ hộ tham gia trồng trọt, từ 90% xuống 88% và sự sụt giảm này có ý nghĩa thống kê đáng kể. Mặc dù có sự sụt giảm này, tỷ lệ hộ sản xuất trồng trọt vẫn cao hơn so với năm 2006 khi mà còn có tới 86% trong số 2.200 hộ tham gia vào sản xuất trồng trọt. Những xu hướng đó cho thấy sự bình thường hóa mô hình sản xuất sau phản ứng của các hộ đối với giá nông sản tăng lên giữa năm 2006 và 2008. Thống nhất với các xu hướng này, giữa năm 2006 và 2008, có sự sụt giảm đáng kể trong tỷ lệ hộ chăn nuôi nhưng sự sụt giảm này dường như ổn định ở mức tổng số với 70% số hộ sản xuất chăn nuôi trong cả năm 2008 và 2010 (giảm từ 76% trong năm 2006). Sản xuất nuôi trồng thủy sản có tỷ lệ ở mức gần 14% số hộ được chọn mẫu trong cả 3 năm điều tra.

Tại Khánh Hòa, quan sát cho thấy có sự sụt giảm lớn ở mức 11 điểm phần trăm (từ 82% xuống còn 71%) số lượng hộ tham gia vào sản xuất trồng trọt, đối với chăn nuôi thì sự sụt giảm còn lớn hơn từ 66% trong năm 2008 xuống còn 29% trong năm 2010. Tại Lâm Đồng, có sự sụt giảm đáng kể tỷ lệ hộ chăn nuôi (từ 67% xuống còn 42%). Đặc biệt, dường như số hộ số hộ nuôi gà giảm đáng kể giữa năm 2008 và 2010 tại cả hai tỉnh (số liệu không được trình bày). Sự sụt giảm trong chăn nuôi này dường như có liên quan đến sự bùng phát của dịch cúm gia cầm. Tại Long An, tỷ lệ hộ sản xuất nuôi trồng thủy sản tăng 15 điểm phần trăm. Trong năm 2008, chỉ có cá và tôm được quan sát thấy là các sản phẩm thủy sản được sản xuất tại Long An (tỉnh duy nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long được chọn mẫu). Đến năm 2010, không chỉ số lượng hộ nuôi cá tăng lên đáng kể mà số lượng hộ nuôi ngao/sò và đặc biệt là “các sản phẩm thủy sản khác” cũng tăng lên. Sự biến động của ngành nuôi trồng thủy sản được thấy rất rõ trong các số liệu đối với một số tỉnh được chọn mẫu.

Như trong năm 2008, các hộ có chủ hộ nữ ít tham gia hơn vào cả 3 hoạt động nông nghiệp so với các hộ có chủ hộ nam. Điều này đặc biệt rõ ràng trong trường hợp sản xuất chăn nuôi với sự cách biệt là 17 điểm phần trăm giữa các hộ có chủ hộ nam và các hộ có chủ hộ nữ. Số liệu cho thấy sự khác biệt

74

74

này có thể do quy mô của hộ và tuổi của chủ hộ. Những hộ chăn nuôi dường như là các hộ có quy mô nhân khẩu lớn hơn (4,5 người) và có chủ hộ trẻ hơn (52 tuổi) so với các hộ không chăn nuôi. Các hộ có chủ hộ nữ là các hộ nhỏ hơn đáng kể so với các hộ có chủ hộ nam (3,5 người so với 4,6 người) và có chủ hộ nhiều tuổi hơn. Những đặc điểm này có thể có ảnh hưởng đến việc tham gia vào sản xuất chăn nuôi và gây ra bất lợi đối với phụ nữ. Tuy nhiên, nguyên nhân vẫn chưa rõ ràng. Có thể là các đặc điểm quy mô và tuổi của các hộ có chủ hộ nữ gây khó khăn cho các hộ này tham gia vào hoạt động trên nhưng cũng có thể là các khó khăn khác có liên quan đến giới tính quyết định quy mô và tuổi của các hộ chăn nuôi.

Bảng 4.11: Đầu tư của hộ vào trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản (phần trăm)

Trồng trọt Chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản

2008 2010 2008 2010 2008 2010

Tỉnh

Hà Tây 89,2 83,5 57,7 52,1 6,0 5,6 Lào Cai 100,0 98,9 97,7 100,0 19,5 25,3

Phú Thọ 94,1 91,5 83,3 86,9 17,7 16,1 Lai Châu 96,4 91,1 87,5 93,8 9,8 3,6

Điện Biên 97,1 98,1 97,1 96,2 46,7 49,5

Nghệ An 81,3 86,5 82,3 84,4 12,5 11,5 Quảng Nam 89,3 87,2 72,1 69,3 2,1 2,4 Khánh Hòa 81,6 71,1 65,8 28,9 5,3 5,3

Đắk Lắk 95,6 91,1 71,1 79,3 18,5 12,6

Đắk Nông 95,1 91,3 60,2 64,1 18,4 9,7 Lâm Đồng 97,0 92,5 67,2 41,8 6,0 1,5 Long An 81,5 82,2 47,6 54,5 22,0 36,7 Chủ hộ

Nữ 83,2 80,0 59,7 56,6 7,2 9,7 Nam 92,0 89,9 73,2 73,7 15,5 15,8 Nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm

Nghèo nhất 95,4 92,6 77,1 80,4 14,2 11,5 Nghèo thứ hai 91,8 91,1 75,4 73,7 9,7 14,2 Nhóm giữa 94,0 88,1 74,3 65,9 14,5 13,3 Giàu thứ hai 89,6 85,5 66,4 66,1 13,1 16,1 Giàu nhất 83,3 81,6 63,4 63,4 16,9 17,3

Tổng 90,1 87,8*** 70,3 70,0 13,8 14,5

Tổngwa 88,6 87,1 72,5 71,2 12,9 13,5

a Tổngw=tổng số có quyền số

N=2.200/1.314 đối với các kết quả có quyền số

*** Năm 2008 và 2010 khác biệt có ýnghĩa thống kê ở mức 1%

Tổng số đối với năm 2006: trồng trọt: 86,2%, chăn nuôi: 75,7%, nuôi trồng thủy sản: 14,3%

75

75

Khi phân tổ theo nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm, số liệu cho thấy sản xuất trồng trọt và chăn nuôi là hoạt động điển hình của các hộ nghèo hơn trong khi có xu hướng khác biệt đôi chút đối với sản xuất nuôi trồng thủy sản, có thể phản ánh đầu tư cao hơn và các yêu cầu về kiến thức đối với hoạt động này. Sự cách biệt giữa các hộ nghèo nhất (12% tham gia vào sản xuất nuôi trồng thủy sản) và các hộ giàu nhất (17% tham gia vào sản xuất nuôi trồng thủy sản) là không lớn nhưng có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê và so với năm 2008 phần nào cho thấy các hộ trong nhóm nghèo nhất rời bỏ hoạt động này.

Tóm tắt số liệu thống kê trong Bảng 4.2 cho thấy, lúa vẫn là cây trồng quan trọng nhất trong mẫu với 82% số hộ trồng lúa. Sau đó là trồng cây ăn quả (34%), ngô (31%) và rau (25%). Kể từ năm 2008, không có sự khác biệt lớn, chỉ có sự sụt giảm nhỏ trong trồng ngô, khoai lang, rau và các cây trồng hàng năm khác và sự sụt giảm nhỏ trong trồng hạt tiêu. Tại các tỉnh miền Bắc, hầu hết các hộ trồng lúa, và thường trồng thêm ngô hoặc rau và các cây trồng hàng năm khác với mức độ ít hơn. Đối với rau và các cây trồng hàng năm khác thì phạm vi không lớn tại các tỉnh miền núi của vùng Tây Bắc nhưng tại các tỉnh này thì đặc trưng là tỷ lệ hộ trồng sắn cao. Bình quân, sự tập trung vào trồng lúa thấp hơn tại các tỉnh miền Nam trong mẫu của chúng tôi mà thay vào đó là canh tác cây lâu năm.34 Đặc biệt, các hộ tại Tây Nguyên chủ yếu trồng cây lâu năm với tỷ lệ cao trồng cà phê.

Không có sự khác biệt lớn về giới mặc dù gạo, ngô và cà phê chủ yếu được các hộ có chủ hộ nam trồng trọt. Đối với các nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm, có một số loại cây trồng đặc trưng hơn đối với các hộ nghèo hơn và ngược lại. Ví dụ, các hộ trồng lúa, ngô và sắn thường thuộc các nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm thấp trong khi cây ăn quả và cà phê là cây trồng chủ yếu của các hộ thuộc nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm cao.

34 Cần nhớ rằng chỉ có một tỉnh có trong VARHS tại Đồng bằng Sông Cửu Long, so vậy các tỉnh miền Nam ở đây không phải là các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long.

76

76

Bảng 4.12: Các loại cây trồng được sản xuất (phần trăm các hộ gia đình nông nghiệp) Lúa Ngô Khoai

tây

Khoai

lang Sắn Lạc Rau Cây hàng năm khác

Cây ăn

quả Cà phê Chè Ca

cao Điều Mía Tiêu Tỉnh

Hà Tây 95,0 12,8 1,8 2,8 7,3 6,8 15,1 28,1 18,8 0,0 0,8 0,0 0,3 0,8 0,0 Lào Cai 88,4 62,8 0,0 2,3 33,7 8,1 60,5 23,3 24,4 0,0 8,1 0,0 0,0 0,0 0,0 Phú Thọ 85,4 43,9 0,7 1,1 20,0 12,9 68,6 8,6 57,9 0,4 18,2 0,0 0,0 0,4 0,0 Lai Châu 99,0 79,0 0,0 0,0 41,0 3,0 6,0 2,0 6,0 0,0 3,0 0,0 0,0 0,0 0,0

Điện Biên 97,1 72,8 0,0 0,0 41,7 1,9 6,8 5,8 59,2 0,0 0,0 0,0 0,0 1,0 0,0

Nghệ An 79,0 43,2 0,6 10,5 9,9 22,2 13,6 14,2 30,9 0,0 8,6 0,0 0,0 8,0 0,0 Quảng Nam 89,9 17,3 0,4 11,3 15,3 14,1 20,6 12,1 12,9 0,0 0,4 0,0 0,8 0,4 0,8 Khánh Hòa 72,0 12,0 0,0 0,0 8,0 0,0 8,0 20,0 44,0 0,0 0,0 0,0 8,0 12,0 0,0 Đắk Lắk 58,5 39,8 0,0 0,8 13,0 2,4 39,0 15,4 65,9 60,2 1,6 0,8 11,4 4,1 11,4 Đắk Nông 33,0 25,5 0,0 0,0 9,6 0,0 7,4 14,9 20,2 72,3 1,1 1,1 23,4 1,1 7,4 Lâm Đồng 29,0 11,3 0,0 0,0 1,6 0,0 11,3 1,6 8,1 66,1 14,5 0,0 12,9 0,0 1,6 Long An 76,5 3,6 0,0 0,0 0,0 4,1 6,3 8,1 56,1 0,0 0,0 0,0 0,0 2,7 0,0 Chủ hộ

Nữ 74,5 21,5 1,3 4,0 11,4 6,9 25,5 15,4 33,8 5,3 4,0 0,0 1,6 1,6 0,8 Nam 83,3 33,1 0,4 3,1 15,6 8,7 24,4 14,2 34,1 10,8 5,0 0,1 2,8 1,8 1,4 Nhóm chi tiêu lương thực thực phẩm

Nghèo nhất 88,7 50,4 0,7 2,5 23,6 7,6 27,5 13,5 23,3 5,4 6,1 0,0 1,7 1,7 0,2 Nghèo thứ hai 88,6 32,0 0,5 5,6 20,1 9,6 24,9 14,2 27,4 9,4 4,6 0,0 2,5 1,0 1,0 Nhóm giữa 81,9 23,8 0,3 3,7 13,4 9,2 22,3 14,1 33,5 9,4 4,7 0,3 1,6 1,6 0,8 Giàu thứ hai 77,2 23,3 0,5 2,7 9,8 7,3 24,1 14,6 40,4 10,6 3,8 0,3 4,3 2,7 2,7 Giàu nhất 69,4 22,3 0,9 1,7 5,1 7,7 24,0 15,7 47,7 14,3 4,6 0,0 2,9 2,0 1,7

Tổng 2010 81,5 30,8* 0,6 3,3** 14,7 8,3 24,6*** 14,4*** 34,0 9,7 4,8 0,1 2,6 1,8 1,3***

Tổng 2008 83,1 33,6 0,6 4,8 15,2 8,7 28,9 19,0 31,7 9,2 4,9 0,0 2,6 1,5 2,4

Tổng 2006 86,2 34,5 26,8 9,2 39,2 21,0 30,2 9,0 5,0 0,1 1,9 1,6 2,4

Tổng 2010w 77,9 32,2 0,5 4,3 12,6 10,7 26,1 13,8 36,3 12,0 5,1 0,1 2,7 3,5 1,7 N 2010=1.902, N 2008=1.946, N 2006=1.896, N 2010w=1.152

*N ăm 2010 và 2008 khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 10%; **Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%; *** Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

77

77

Bây giờ chúng tôi chuyển sang phân tích tỷ lệ sản phẩm được mua bán trao đổi (bán hoặc trao đổi) so với tiêu dùng và dự trữ của hộ. Chúng tôi không trình bày tỷ lệ tổng sản phẩm được mua bán trao đổi mà thay vào đó là tỷ lệ trung bình của tất cả nông dân, theo đó các hộ sản xuất lớn và nhỏ đều được tính quyền số như nhau. Hình 4.1 cho thấy bình quân khoảng 40% “tất cả các loại cây trồng” (trừ lúa) và 35% lúa gạo được buôn bán trao đổi. Có một số xu hướng đáng lưu ý quan sát thấy theo thời gian, đặc biệt chúng tôi thấy trong khi tỷ lệ lúa gạo được mua bán trao đổi tăng lên thì tỷ lệ này lại giảm đối với các loại cây trồng khác. Tỷ lệ lúa gạo và các cây trồng khác được mua bán trao đổi đã thu hẹp lại trong năm 2010 với sự cách biệt chỉ ở mức 7 điểm phần trăm trong khi trong năm 2008 thì sự cách biệt là 17 điểm phần trăm. Tính bình quân, phần lớn sản lượng vẫn dành cho tiêu dùng của gia đình, kể cả lúa gạo và tất cả các sản phẩm cây trồng khác.

Hình 4.1: Tỷ lệ giá trị sản xuất trồng trọt được mua bán (phần trăm bán hoặc trao đổi)

N 2010=1.881 đối với “tất cả các loại cây trồng”, 1.536 N 2008=1.954 đối với “tất cả các loại cây trồng”, 1.616 N 2006=1.896 đối với “tất cả các loại cây trồng”, 1.635

Lưu ý: Đồ thị cho thấy tỷ lệ sản lượng bình quân được bán, với quyền số như nhau cho tất cả các hộ không tính xem các hộ đó sản xuất được bao nhiêu. Do đó, đồ thị ước tính thấp đi tỷ lệ tổng sản xuất được bán (tỷ lệ này khoảng 62% đối với lúa gạo và 76% đối với tất cả các loại cây trồng khác). Tổng phần trăm này được xây dựng là 100 nếu tổng này lớn hơn 100. Điều này xảy ra khi các hộ bán cả lượng dự trữ từ năm trước.

Các hộ giàu hơn dường như có xu hướng thương mại hóa cao hơn một chút so với các hộ nghèo hơn. Sự khác biệt giữa nhóm nghèo nhất và giàu nhất có ý nghĩa thống kê quan trọng cả trong năm 2010 và 2008 nhưng đối với tất cả các loại cây trồng thì cách biệt nhỏ hơn nhiều trong năm 2010 do sự sụt giảm lớn trong sản lượng được bán trong nhóm hộ giàu nhất (kết quả không được trình bày). Đối với việc sản xuất tất cả các loại cây trồng, các hộ có chủ hộ nam có tính thương mại hơn so với các chủ hộ có chủ hộ nữ (đây không phải là tình trạng năm 2008 khi vào năm đó không có sự cách biệt có ý

78

78

nghĩa thống kê đáng kể giữa hai nhóm). Trong thương mại hóa lúa gạo, không có sự khác biệt giữa các hộ có chủ hộ nam và các hộ có chủ hộ nữ.

Mặc dù trong mẫu điều tra VARHS lúa là cây trồng có tỷ lệ được trồng ít hơn tại các tỉnh miền Nam, nhưng tỷ lệ lúa gạo hàng hóa lại cao hơn nhiều so với các tỉnh miền Bắc và so với toàn bộ các loại cây trồng khác của cùng các hộ trên. Tại Long An, lúa gạo dường như được trồng chủ yếu để bán.

Khác biệt này trong thương mại hóa lúa gạo có thể được quyết định bởi các nhân tố không được thu thập thông tin ở đây như các điều kiện lịch sử và văn hóa nhưng cũng có thể do cách trở/khoảng cách (thương mại). Điều này sẽ được phân tích trong Phần 4.3. Đối với tất cả các loại cây trồng, điều không gây ngạc nhiên là tỷ lệ được bán cao hơn tại các tỉnh miền Nam. Có nhiều loại cây lâu năm hơn được trồng tại các tỉnh này và các loại cây này thường được trồng để bán hơn là các loại cây hàng năm (xem Phụ lục của chương này về tỷ lệ tất cả các loại cây trồng được bán riêng lẻ).

Một phần của tài liệu Đặc điểm kinh tế nông thôn việt nam 2010 (Trang 74 - 79)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)