- Khóa luận tốt nghiệp “Nghĩa vụ cảnh báo của nhà sản xuất trong luật trách nhiệm sản phẩm của châu Âu và bài học cho Việt Nam” của Vũ Đức Hưng 2020, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại Học Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại Học Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đồng Thị Giang Thu
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN GÓC NHÌN PHÁP LUẬT SO SÁNH 11
1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm và nguồn luật điều chỉnh 11
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm 11
1.1.2 Nguồn luật điều chỉnh 16
1.2 Bản chất pháp lý và ý nghĩa của trách nhiệm sản phẩm 22
1.2.1 Bản chất pháp lý của trách nhiệm sản phẩm 22
1.2.2 Ý nghĩa của trách nhiệm sản phẩm 24
1.3 Điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm 25
1.4 Hậu quả pháp lý của trách nhiệm sản phẩm 29
1.4.1 Bồi thường thiệt hại bằng một khoản tiền 30
1.4.2 Thu hồi sản phẩm và cảnh báo sau bán hàng 32
1.5 Cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản phẩm 33
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 40
2.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật Việt Nam và nguồn luật điều chỉnh 40
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật Việt Nam 40
2.1.2 Nguồn luật điều chỉnh 45
2.2 Điều kiện cấu thành 46
2.3 Hậu quả pháp lý 51
2.3.1 Bồi thường thiệt hại bằng một khoản tiền 52
2.3.2 Thu hồi và xử lý sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật 53
2.3.3 Một số hậu quả pháp lý khác 55
2.4 Cơ chế miễn trừ 55
Trang 52.5 Một số hạn chế, vướng mắc trong pháp luật trách nhiệm sản phẩm Việt
Nam 59
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 61
3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm 61
3.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm 71
3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm 73
3.3.1 Định hướng chung 73
3.3.2 Kiến nghị cụ thể 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm sản phẩm đã trở thành một bộ phận quan trọng của pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay Việc xây dựng và áp dụng các quy định về trách nhiệm sản phẩm phản ánh nhu cầu cấp thiết trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trước các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hóa Sự phát triển của chế định pháp lý này thể hiện sự tiến bộ của pháp luật trong việc giám sát các hoạt động của các nhà sản xuất và nhà cung ứng sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng Trách nhiệm sản phẩm đòi hỏi các nhà sản xuất và chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm phải chịu trách nhiệm về các hậu quả gây ra cho người tiêu dùng do việc sử dụng sản phẩm của họ, đặc biệt là khi các nguy cơ tiềm ẩn không được công bố trước
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang tích cực mở cửa và tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ trong phạm vi khu vực mà còn trong phạm vi liên khu vực và toàn thế giới Cùng với việc Việt Nam trở thành viên của WTO năm
2007, tham gia các Hiệp định thương mại song phương, đa phương như CPTPP, EVFTA, các hoạt động kinh doanh thương mại, lưu thông hàng hóa tại Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ Các nhà sản xuất có khả năng tiếp cận với các công nghệ, dây chuyền máy móc sản xuất hiện đại tân tiến nhất, nguồn nguyên vật liệu dồi dào
từ trong và ngoài nước Theo đó, các thương nhân cũng tích cực đưa hàng hóa, sản phẩm đến tay người tiêu dùng và thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ Người tiêu dùng Việt Nam, một mặt, được tiếp cận với thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú, bao gồm cả hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu, do đó có khả năng lựa chọn hàng hóa phù hợp với nhu cầu của mình Mặt khác, người tiêu dùng phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn khi có nguy cơ tiêu thụ sản phẩm có khuyết tật, không đảm bảo chất lượng, phải gánh chịu các thiệt hại về vật chất lẫn sức khỏe, tinh thần Bên cạnh đó, khi xảy ra thiệt hại, người tiêu dùng có thể gặp khó khăn trong việc yêu cầu bồi thường do khó xác định chủ thể gây thiệt hại
Trang 7Tuy nhiên, tại Việt Nam, trách nhiệm sản phẩm vẫn là một chế định tương đối mới và non trẻ Các quy định pháp luật điều chỉnh chế định trách nhiệm sản phẩm của Việt Nam chưa được xây dựng thành hệ thống trong một văn bản luật chuyên ngành riêng biệt mà được quy định rải rác tại nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa,… Điều này dẫn đến việc thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam chưa hiệu quả do các quy định còn thiếu tính đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn và chưa bảo vệ được tối đa lợi ích của người tiêu dùng
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm qua góc nhìn luật so sánh là rất cần thiết Thứ nhất, căn cứ nhu cầu
lý luận, việc nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm qua góc nhìn luật so sánh sẽ giúp tiếp thu các kinh nghiệm quý giá từ một số hệ thống pháp luật trên thế giới, góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống lý thuyết về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam Thứ hai, căn cứ nhu cầu thực tiễn, qua nghiên cứu pháp luật so sánh về trách nhiệm sản phẩm, tác giả có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và giá trị gợi mở góp phần hoàn thiện pháp luật thực định về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, qua đó giúp nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà sản xuất, thương nhân trong sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa và bảo vệ tối đa quyền lợi của người tiêu dùng Với tất cả những lý do trên, tác giả đã lựa chọn
“Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm qua góc nhìn luật so sánh” làm đề
tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua rà soát, nghiên cứu, nhận thấy đến nay đã có một khối lượng đáng kể các
đề tài nghiên cứu về chế định trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam ở nhiều cấp độ khác nhau như các giáo trình, sách chuyên khảo, bài đăng trên tạp chí khoa học, khóa luận, luận văn, luận án,… Có thể đề cập đến một số tài liệu như sau:
Trang 8(1) Về giáo trình, sách chuyên khảo, bài đăng trên tạp chí khoa học:
- Giáo trình “Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” do Nguyễn Thị Vân Anh
và Nguyễn Văn Cương đồng chủ biên, xuất bản bởi Nxb Chính trị Quốc gia (2021),
đã đề cập đến thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng
- Sách chuyên khảo “Chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam” do Lê Hồng Hạnh chủ biên (2013), xuất bản bởi Nxb Chính trị Quốc gia –
Sự thật (2013), đã trình bày khung lý thuyết tương đối toàn diện về trách nhiệm sản phẩm, với các phần chính như: Tổng quan về chế định trách nhiệm sản phẩm; Pháp luật của một số nước trên thế giới về trách nhiệm sản phẩm: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan; Nêu và đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam hiện nay
- Đề tài “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – Công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng” của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2010), đã bước đầu trình bày, phân tích một cách tương đối toàn diện về chế định trách nhiệm sản phẩm, từ việc nêu tổng quan về trách nhiệm sản phẩm, giới thiệu pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của một số nước trên thế giới, đến nêu thực trạng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam
- Bài đăng "Một số vấn đề chung về chế định trách nhiệm sản phẩm và vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng" của các tác giả Trần Thị Quang Hồng và Trương Hồng Quang (2010) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 12/2010, đã giới thiệu về lịch sử hình thành, khái niệm và bản chất, cơ sở và chức năng của chế định trách nhiệm sản phẩm, cũng như đánh giá vai trò của chế định này
- Bài đăng “Chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của tác giả Ngô Thu Trang trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật (2016), bằng cách tiếp cận từ việc phân tích các chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm nghiêm ngặt, bài viết đã trình bày các đặc
Trang 9điểm và bản chất pháp lý của chế định trách nhiệm sản phẩm, đồng thời đưa ra kiến nghị để hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề này
- Bài đăng “Lí luận về chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng” của các tác giả Khuất Quang Phát, Ngô Thu Trang trên Tạp chí Luật học số 8 (2017), đã phân tích và so sánh các chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm nghiêm ngặt theo Bộ luật Dân sự, cùng với các nguyên lý cơ bản của hệ thống luật tư trên thế giới và tại Việt Nam Từ
đó, bài viết chỉ ra những đặc điểm và bản chất pháp lý của chế định trách nhiệm sản phẩm
- Bài đăng “Yêu cầu pháp lý của trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật Liên minh châu Âu” của Nguyễn Hữu Phúc trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 3(112) năm 2017, đã phân tích các yêu cầu pháp lý cho trách nhiệm sản phẩm của pháp luật Châu Âu, chỉ ra những điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này và đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của pháp luật Liên minh Châu Âu
- Bài đăng “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Trường Ngọc trên Tạp chí Công thương (2018), đã tập trung khái quát tình hình và đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam
- Bài đăng “Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm: Từ lí thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam” của các tác giả Nguyễn Thị Quế Anh và Nguyễn Bích Thảo trên Tạp chí Khoa học ĐHQG: Chuyên san Luật học quyển 36, số 3 (2020), đã khái quát sự phát triển của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trên thế giới, khảo sát pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu nhằm so sánh với pháp luật Việt Nam Đặc biệt, bài viết đã phân tích thực tiễn xét xử một số vụ án về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Trang 10- Bài đăng “Sự phát triển của chế định về trách nhiệm sản phẩm Hoa Kỳ trước thách thức của mô hình kinh tế nền tảng và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả
Đỗ Giang Nam trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2022, đã nghiên cứu sự phát triển của chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Hoa Kỳ khi đối diện với các thách thức mới của mô hình kinh tế nền tảng, từ đó bước đầu so sánh và đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện chế định về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam
- Bài đăng “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm trước yêu cầu mới của thời đại” của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm trên Tạp chí Khoa học ĐHQG: Chuyên san Luật học quyển 39, số 1 (2023) đã nhận diện, phân tích các vấn đề pháp lý xoay quanh chế định trách nhiệm sản phẩm trước yêu cầu của thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0, qua đó luận giải những vướng mắc và nhu cầu cải cách pháp luật Việt Nam để đáp ứng với sự vận động của xã hội
(2) Khóa luận, luận văn, luận án:
- Khóa luận tốt nghiệp “Các quy định về trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Anh Ngọc (2020), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu lý thuyết tổng quan về trách nhiệm sản phẩm, về thực tiễn pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định về chế định này
- Khóa luận tốt nghiệp “Nghĩa vụ cảnh báo của nhà sản xuất trong luật trách nhiệm sản phẩm của châu Âu và bài học cho Việt Nam” của Vũ Đức Hưng (2020), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung nghiên cứu, phân tích nghĩa vụ cảnh báo trong mối tương quan giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm của châu Âu, từ đó đưa ra khuyến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề cảnh báo;
- Luận văn thạc sĩ “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam” của Trần Tuyết Minh (2014), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã đi vào làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề về trách nhiệm bồi thường hàng thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người
Trang 11tiêu dùng, trong đó có kinh nghiệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng của một số nước trên thế giới; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng;
- Luận văn thạc sĩ “Những vấn đề pháp lý về trách nhiệm sản phẩm: thực tiễn
và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam” của Đào Ngọc Sơn (2018), Trường Đại học Ngoại thương đã tập trung vào đưa ra đánh giá việc thực thi quy định về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam, các giải pháp tăng cường trách nhiệm sản phẩm và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam
- Luận án tiến sĩ “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Thư (2015), Trường Đại học Luật Hà Nội đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra, phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra ở Việt Nam, và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ “Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Hùng (2020), Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu một cách tổng thể, hệ thống và chuyên sâu những vấn
đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam Luận án cũng đề xuất các định hướng, giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
- Luận án tiến sĩ “Trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Trường Ngọc (2022), Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên cứu, tham khảo pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở một số nước trên thế giới như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ để rút
ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 122.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
- Sách chuyên khảo “Product liability in comparative perspective” (Tạm dịch:
“Trách nhiệm sản phẩm qua góc nhìn luật so sánh”) của Duncan Fairgrieve, Nxb Cambridge University Press (2005) Trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu các
hệ thống pháp luật khác nhau, bao gồm các hệ thống ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á,
để so sánh cách thức mỗi hệ thống giải quyết vấn đề trách nhiệm sản phẩm Tác giả tìm ra sự khác biệt trong các cách tiếp cận, tiêu chuẩn trách nhiệm và các chế tài giải quyết cho người tiêu dùng trong trường hợp họ bị thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật Cuốn sách này xem xét trách nhiệm sản phẩm dưới góc độ luật so sánh Do xuất bản vào năm 2005, cuốn sách có thể không cập nhật các phát triển gần đây của chế định trách nhiệm sản phẩm Tuy nhiên, đây là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu lịch
sử phát triển của chế định trách nhiệm sản phẩm và các nguyên tắc nền tảng tiếp tục tác động đến các hệ thống pháp luật trên toàn thế giới trong lĩnh vực này
- Sách chuyên khảo “Product liability in a nutshell” (Tạm dịch: Tóm lược về trách nhiệm sản phẩm) của tác giả David Owen, Nxb West Academic Publishing (2014) Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về luật trách nhiệm sản phẩm, trình bày lịch sử, sự phát triển, chính sách liên quan trong lĩnh vực trách nhiệm sản phẩm Hoa Kỳ Cuốn sách tập trung vào các vụ án kinh điển cũng như các phát triển mới trong lĩnh vực này, bao gồm các lý thuyết về trách nhiệm pháp lý, định nghĩa và bằng chứng chứng minh khuyết tật của sản phẩm, và có đề cập so sánh trong một số khía cạnh đối với pháp luật quốc gia khác
- Sách chuyên khảo “Product liability: Fundamental Questions in a Comparative Perspective” (Tạm dịch: “Trách nhiệm sản phẩm: Các vấn đề cơ bản từ góc nhìn luật
so sánh”) của tập thể tác giả Helmut Koziol, Michael D Green, Mark Lunney, Ken Oliphant, Lixin Yang, Nxb Walter de Gruyter GmbH & Co KG (2017) Cuốn sách
đề cập đến những câu hỏi cơ bản liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, ví dụ như định nghĩa về sản phẩm có khuyết tật, nguyên nhân, khả năng thấy trước thiệt hại do sản phẩm gây ra và các biện pháp khắc phục cho người tiêu dùng Bằng cách so sánh các
Trang 13quy định pháp luật, thông lệ về trách nhiệm sản phẩm ở nhiều quốc gia và khu vực khác nhau, cuốn sách đã chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt và các xu hướng phát triển của chế định trách nhiệm sản phẩm trên thế giới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
(i) Trách nhiệm sản phẩm từ lý thuyết đến góc nhìn pháp luật so sánh;
(ii) Pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm sản phẩm;
(iii) Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm
- Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm tại Bộ luật Dân sự 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2023 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 thông qua so sánh với pháp luật trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia trên thế giới
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Thứ nhất, về mặt thực tiễn: Luận văn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và giá trị gợi mở góp phần hoàn thiện pháp luật thực định về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, qua đó giúp nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà sản xuất, thương nhân trong sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa và bảo vệ tối đa quyền lợi của người tiêu dùng
Thứ hai, về mặt nghiên cứu khoa học: Luận văn hướng tới việc tìm ra và tiếp thu các giá trị tiến bộ, kinh nghiệm quý báu qua góc nhìn luật so sánh, góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống lý thuyết về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam
- Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 14(i) Làm rõ lý thuyết và quy định pháp luật của một số quốc gia về trách nhiệm sản phẩm đối với các vấn đề pháp lý: Khái niệm trách nhiệm sản phẩm và nguồn luật điều chỉnh; Bản chất pháp lý và ý nghĩa của trách nhiệm sản phẩm; Điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm; Hậu quả pháp lý của trách nhiệm sản phẩm;
Cơ chế miễn trừ của trách nhiệm sản phẩm;
(ii) Phân tích, làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm sản phẩm trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra một số hạn chế, bất cập của quy định pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này;
(iii) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm, đưa ra được các đề xuất, khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy định về trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp luận nghiên cứu:
Đề tài vận dụng Phương pháp luận nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về trách nhiệm sản phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
(i) Phương pháp thống nhất lịch sử - logic được sử dụng để nghiên cứu cơ sở
lý luận và hệ thống lý thuyết của chế định trách nhiệm sản phẩm;
(ii) Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm và thực tiễn áp dụng pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam;
Trang 15(iii) Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một số khu vực, quốc gia trên thế giới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Trách nhiệm sản phẩm từ lý thuyết đến góc nhìn pháp luật so sánh Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm sản phẩm
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm
Trang 16Chương 1 TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN GÓC NHÌN PHÁP
LUẬT SO SÁNH 1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm và nguồn luật điều chỉnh
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm
Theo nghĩa chung nhất, trách nhiệm sản phẩm (product liability) thường được hiểu là trách nhiệm của người sản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của hàng hóa mà họ đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh [8, 25] Như vậy, cách hiểu này tiếp cận trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất, nhà phân phối đối với thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng
Tương đồng với cách hiểu trên, pháp luật trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia trên thế giới thường quy định về trách nhiệm pháp lý, hay cụ thể hơn là trách nhiệm bồi thường thiệt hại, của nhà sản xuất, nhà phân phối đối với thiệt hại gây ra bởi sản phẩm có khuyết tật Ví dụ, Điều 3 Luật Trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản (1994) quy định rằng nhà sản xuất, phải bồi thường cho những mất mát, thiệt hại khi sản phẩm có khuyết tật mà họ cung cấp, sản xuất, chế biến, nhập khẩu gây ra cái chết, thương tích, hoặc thiệt hại tài sản cho người khác, ngoại trừ thiệt hại đối với bản thân sản phẩm có khuyết tật Theo Luật này, nội hàm của thuật ngữ “nhà sản xuất” khá rộng, bao gồm: (i) Người sản xuất, chế biến, hoặc nhập khẩu sản phẩm; (ii) Người sử dụng tên, thương hiệu, hoặc dấu hiệu khác trên sản phẩm để làm người khác tin rằng mình là nhà sản xuất; (iii) Người sử dụng dấu hiệu trên sản phẩm có thể được nhận biết như nhà sản xuất thực sự dựa trên quá trình sản xuất, chế biến, nhập khẩu hoặc bán sản phẩm (Khoản 3 Điều 2 Luật Trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản) Điều 1 Chỉ thị số 85/374/EEC của Liên minh Châu Âu cũng quy định nhà sản xuất của sản phẩm sẽ phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm, trong đó nhà sản xuất là cách gọi chung của người sản xuất ra nguyên vật liệu, bộ phận hoặc sản phẩm hoàn chỉnh, hay nhà phân phối, nhập khẩu sản phẩm
Trang 17Về mặt khoa học pháp lý, cũng có quan điểm tiếp cận trách nhiệm sản phẩm
ở nghĩa rộng hơn Với mục đích đảm bảo quyền được an toàn của người tiêu dùng trong tất cả giai đoạn từ thiết kế, sản xuất đến khi phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng, và sản phẩm đã thuộc quyền sở hữu của người tiêu dùng, thì trách nhiệm sản phẩm có nghĩa là “tổng hợp các nghĩa vụ mà chủ thể kinh doanh phải tuân thủ nhằm bảo đảm sản xuất, cung ứng các sản phẩm an toàn cho thị trường và gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi vi phạm các nghĩa vụ đó hoặc khi sản phẩm mà họ sản xuất, cung ứng cho thị trường được xác định là không bảo đảm an toàn” [11, 43] Nếu chỉ xét đến các trách nhiệm pháp lý mà nhà sản xuất, nhà phân phối phải gánh chịu kể từ thời điểm sản phẩm của họ được xác định là có khuyết tật, không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, thì trách nhiệm sản phẩm là “tổng hợp các trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với người tiêu dùng do pháp luật quy định, phát sinh kể từ thời điểm sản phẩm mà họ sản xuất, cung ứng cho thị trường được xác định là không bảo đảm an toàn” [11, 44] Theo đó, về bản chất, trách nhiệm sản phẩm là các hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà sản xuất, nhà phân phối phải gánh chịu khi phát hiện ra sản phẩm có khuyết tật, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm thu hồi và xử lý sản phẩm có khuyết tật, nghĩa vụ cảnh báo, thông tin cho người tiêu dùng về sản phẩm có khuyết tật,
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chủ yếu tiếp cận khái niệm trách nhiệm sản phẩm theo nghĩa chung nhất, là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo
đó, trách nhiệm sản phẩm là trách nhiệm pháp lý của người sản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm mà họ
đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh
Để làm rõ hơn khái niệm trách nhiệm sản phẩm, cần xem xét một số khái niệm cơ bản có liên quan như sau:
(1) Khái niệm sản phẩm:
Trong lĩnh vực Luật Trách nhiệm sản phẩm, khái niệm sản phẩm thường được xác định là những loại hàng hóa đã trải qua quá trình sản xuất, chế biến trước
Trang 18khi được phân phối và tiêu thụ trên thị trường [32, 59] Chỉ khi xác định được nội hàm của khái niệm sản phẩm thì mới có thể xác định được phạm vi những sản phẩm
có thể áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua chế định này Vì vậy, có quan điểm đánh giá rằng khái niệm sản phẩm phản ánh quy định của mỗi quốc gia về trách nhiệm của nhà sản xuất và kinh doanh, cũng như mức độ nghiêm khắc của pháp luật đối với họ [32, 60]
Nhìn chung, phần lớn pháp luật các quốc gia trên thế giới mới chỉ áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm đối với sản phẩm hàng hóa (các vật hữu hình), ngay
cả đối với Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ [32, 60] Theo Điều 19 của Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) do Viện luật Hoa Kỳ soạn thảo năm
1997, "sản phẩm" được định nghĩa là động sản hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế biến Điều này bao gồm cả hàng hóa mới và đã qua sử dụng Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại này cũng làm rõ rằng bất động sản, dịch vụ và các bộ phận của cơ thể người, thường không được coi là "sản phẩm" Theo Điều 2 của Chỉ thị 85/374/EEC của Liên minh châu Âu, khái niệm sản phẩm cũng không áp dụng đối với dịch vụ do sản phẩm chỉ bao gồm động sản Rất ít quốc gia cho phép mở rộng đối tượng điều chỉnh của luật trách nhiệm sản phẩm đối với hàng hóa là dịch
vụ Ngoại lệ có thể kể đến Philippines và Indonesia là hai quốc gia công nhận phạm
vi khái niệm “sản phẩm” đối với dịch vụ hay vật vô hình Cụ thể, Điều 99 Luật Người tiêu dùng 1992 của Philippines quy định rằng nhà cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm bồi thường, không phụ thuộc vào lỗi, đối với những thiệt hại gây ra cho người tiêu dùng do khuyết tật liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, cũng như do thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác về việc sử dụng dịch vụ và những rủi
ro liên quan Điều 1.4 Luật Bảo vệ người tiêu dùng 1999 của Indonesia cũng quy định “hàng hóa” có thể bao gồm vật vô hình (insufficiently tangible)
Quan điểm về khái niệm sản phẩm trong pháp luật trách nhiệm sản phẩm Hoa Kỳ tương đối rộng Như đã đề cập trước đó, tại Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) của Hoa Kỳ định nghĩa sản phẩm là những động sản hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế biến Như vậy, quy định của pháp
Trang 19luật Hoa Kỳ không quan tâm tới quá trình tạo ra sản phẩm và chỉ xem xét sản phẩm trên khía cạnh hình thái vật chất và chủ thể sở hữu sản phẩm [8, 16]
Theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, ban đầu, Điều 2 Chỉ thị số 85/374/EEC định nghĩa sản phẩm là mọi loại động sản, bao gồm
cả điện năng Chỉ thị này không coi các nông sản sơ cấp và trò chơi là sản phẩm, trong đó nông sản sơ cấp được hiểu là những nông sản từ đất, nông thủy sản chưa qua chế biến Tuy nhiên, Chỉ thị số 34/1999/EC của Liên minh châu Âu đã có sự điều chỉnh, mở rộng khái niệm sản phẩm ra là tất cả các loại động sản, bao gồm cả động sản mà gắn liền với động sản hoặc bất động sản khác, trong đó, điện năng cũng được coi là sản phẩm Khái niệm này cũng tương tự với phần lớn khái niệm
“sản phẩm” được ghi nhận tại pháp luật quốc gia của các nước thuộc Liên minh châu Âu, chẳng hạn như Điều 2 Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật của Cộng hòa Liên bang Đức (1989, sửa đổi 2017), Luật về trách nhiệm sản phẩm của Đan Mạch (1989), Điều 1.2.(c) Luật bảo vệ người tiêu dùng (1987) của Vương quốc Anh
So với khái niệm sản phẩm trong pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản có cách tiếp cận hẹp hơn
Cụ thể, Điều 2.(1) của Luật này quy định sản phẩm là những động sản đã qua quá trình sản xuất hoặc chế biến Đối với những động sản là kết quả của quá trình lao động nhưng không qua sản xuất, chế biến thì đều không được điều chỉnh bởi pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản [8, 15]
Theo Luật trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc, sản phẩm được hiểu là các động sản được sản xuất, gia công hoặc chế biến Điện năng hoặc khí gas, các động sản đã được gắn với bất động sản (chẳng hạn như các thiết bị chiếu sáng, thiết bị điện gia dụng…) cũng được coi là sản phẩm Các sản phẩm sau đây thuộc trường hợp miễn trừ: Động sản chưa qua chế biến (sản phẩm nông nghiệp, gia cầm, gia súc, thuỷ sản, lâm sản); bất động sản; dịch vụ
Trang 20Theo tác giả, có thể định nghĩa “sản phẩm” trong trách nhiệm sản phẩm là bất kỳ hàng hóa được chế tạo, sản xuất, chế biến hoặc dịch vụ được nhà sản xuất, nhà cung cấp, hoặc người bán cung cấp cho người tiêu dùng nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng Theo đó, “sản phẩm” sẽ bao gồm cả điện năng, chế phẩm từ máu, bất động sản (công trình xây dựng, nhà cửa), các nông sản do con người trồng nhưng chưa qua chế biến
(2) Khái niệm sản phẩm có khuyết tật:
Sản phẩm có khuyết tật là những sản phẩm có rủi ro quá mức thông thường (bất hợp lý), có thể nhìn thấy trước trong quá trình sản xuất, thiết kế và hướng dẫn
sử dụng sản phẩm, mà nhà sản xuất hoặc nhà phân phối đáng nhẽ có thể tránh được chúng một cách hiệu quả và thực tế về mặt chi phí [48, 20]
Nhìn từ góc độ luật so sánh, pháp luật các quốc gia cũng có những quy định khác nhau về sản phẩm có khuyết tật Về cách sử dụng thuật ngữ pháp lý, có quốc gia quy định là “sản phẩm có khuyết tật” (Defective product, như Liên minh châu
Âu và các nước thành viên), có nước sử dụng “sản phẩm thiếu an toàn” (Safety Deficiency Product, như Na Uy), và có cả “sản phẩm không an toàn” (Unsafe product, như Thái Lan) Về cách quy định, có quốc gia đưa ra định nghĩa pháp lý
về sản phẩm có khuyết tật (như Chỉ thị 85/374/EEC của Liên minh châu Âu), có quốc gia quy định mang tính liệt kê, phân loại khuyết tật (như Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) của Hoa Kỳ, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc), có nước giải thích về khuyết tật của sản phẩm (như Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản) [12, 70]
Khuyết tật thường được chia làm ba loại, tương ứng với ba giai đoạn trong quá trình lưu thông, phân phối sản phẩm như sau [8, 17 – 19]:
Thứ nhất, khuyết tật do thiết kế (design defect): Đây là loại khuyết tật xuất hiện trong giai đoạn thiết kế, hình thành sản phẩm Để làm rõ, đó là khi sản phẩm được sản xuất đúng theo thiết kế, nhưng thiết kế của sản phẩm lại có những yếu tố gây nguy hiểm một cách bất hợp lý cho người sử dụng trong điều kiện và cách thức
Trang 21sử dụng thông thường Các khuyết tật này phát sinh do nhà thiết kế hoặc nhà sản xuất đã không lường trước được mọi nguy cơ an toàn, hoặc không đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện an toàn cần thiết cho thiết kế của sản phẩm
Thứ hai, khuyết tật do sản xuất (manufacturing defect): Loại khuyết tật này xuất hiện trong giai đoạn sản xuất khi nhà sản xuất không tuân thủ đúng thiết kế dự kiến hoặc các tiêu chuẩn, quy chuẩn đã đề ra, trong khi thiết kế của sản phẩm không
có vấn đề Ví dụ, trong quá trình sản xuất, nhà sản xuất có thể đã sử dụng nguyên vật liệu hoặc các bộ phận không đạt tiêu chuẩn, hoặc không tuân theo các thông số
kỹ thuật của thiết kế
Thứ ba, khuyết tật do không cảnh báo, hướng dẫn (warrant defect): Đây là loại khuyết tật thường xuất hiện trong giai đoạn chào bán, đưa sản phẩm vào tiêu dùng Nếu nhà sản xuất, người phân phối không cung cấp hướng dẫn hoặc cảnh báo đầy đủ về các nguy hiểm tiềm ẩn trong quá trình sử dụng thì có thể được xem là làm xuất hiện khuyết tật
Để xác định sản phẩm có khuyết tật, người ta thường dựa vào nhiều tiêu chí như bản chất của sản phẩm, cách sử dụng thông thường của sản phẩm, và thời hạn lưu hành trên thị trường của sản phẩm [8, 20]
Như vậy, có thể hiểu rằng “sản phẩm có khuyết tật” là sản phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn, chất lượng, hoặc chức năng mà người tiêu dùng kỳ vọng một cách hợp lý, từ đó tạo ra nguy cơ gây thiệt hại khi sử dụng Khuyết tật của sản phẩm có thể xuất phát từ khiếm khuyết trong thiết kế, lỗi phát sinh trong quá trình sản xuất, hoặc sự thiếu sót về thông tin, hướng dẫn hoặc cảnh báo về các rủi ro liên quan đến sản phẩm
1.1.2 Nguồn luật điều chỉnh
Trách nhiệm sản phẩm được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật, trong đó phổ biến là các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và các học thuyết pháp lý Sự kết hợp giữa các nguồn luật này giúp tạo ra các căn cứ pháp lý đa dạng nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người tiêu dùng và thúc đẩy trách nhiệm của các nhà sản xuất
Trang 22(1) Văn bản quy phạm pháp luật:
Đây là nguồn luật phổ biến điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở các quốc gia trên thế giới Ở phạm vi khu vực, Liên minh Châu Âu đã ban hành Chỉ
(sửa đổi, bổ sung Chỉ thị số 85/374/EEC) về trách nhiệm sản phẩm Các chỉ thị này được ban hành nhằm mục đích hài hòa hóa các quy định pháp luật điều chỉnh vấn
đề trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia thành viên Ở phạm vi các quốc gia, nhiều nước đã xây dựng chế định trách nhiệm sản phẩm thành một đạo luật riêng hoặc xây dựng chế định này thành một bộ phận của Bộ luật Dân sự, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các văn bản pháp luật chuyên ngành khác,… Ví dụ: Luật
về trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật của Cộng hòa Liên bang Đức (1989, sửa đổi 2017), Luật bảo vệ người tiêu dùng của Vương quốc Anh (1987), Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản (1994), Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc (2001), Luật Chất lượng sản phẩm của Trung Quốc (2009),…
(2) Án lệ:
Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ cũng là một nguồn luật quan trọng điều chỉnh trách nhiệm sản phẩm Dưới đây, tác giả sẽ đưa ra một số án lệ tiêu biểu về trách nhiệm sản phẩm
Án lệ MacPherson khởi kiện Buick Motor Co
Án lệ MacPherson khởi kiện Buick Motor Co của Tòa án Phúc thẩm New York năm 1916 là một bước ngoặt của trách nhiệm sản phẩm Trong vụ án này, Tòa
án đã bác bỏ điều kiện yêu cầu về “mối liên hệ hợp đồng” (privity of contract) để người tiêu dùng có thể kiện nhà sản xuất khi sản phẩm có khuyết tật Vụ việc bắt nguồn từ tai nạn của ông MacPherson khi bánh xe của chiếc xe Buick ông mua bị gãy do lỗi thiết kế Mặc dù ông MacPherson không mua xe trực tiếp từ hãng Buick
mà qua một đại lý, Tòa án vẫn phán quyết rằng hãng Buick phải chịu trách nhiệm
về sự an toàn của sản phẩm của mình Án lệ này đã giúp đặt nền móng cho các lý thuyết hiện đại về trách nhiệm sản phẩm, xác định rằng các nhà sản xuất phải chịu
Trang 23trách nhiệm về an toàn của sản phẩm, kể cả trong trường hợp người tiêu dùng không có mối liên hệ hợp đồng trực tiếp với họ [59]
Án lệ Greenman khởi kiện Yuba Power Products, Inc
Án lệ Greenman khởi kiện Yuba Power Products, Inc của Tòa án Tối cao California vào năm 1963 là án lệ đầu tiên áp dụng nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối (strict liability) đối với các vụ việc trách nhiệm sản phẩm Trong vụ án này, ông Greenman bị thương khi sử dụng một công cụ đa năng do công ty Yuba Power Products sản xuất, thiết bị này gặp sự cố do lỗi thiết kế Mặc dù ông Greenman kiện Yuba Power Products dựa trên thuyết bất cẩn và vi phạm bảo hành, Tòa án đã phán quyết rằng nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật, bất
kể có lỗi của nhà sản xuất hay không [53]
Án lệ Henningsen khởi kiện Bloomfield Motors, Inc
Án lệ Henningsen khởi kiện Bloomfield Motors, Inc do Tòa án Tối cao New Jersey xét xử vào năm 1960 đã thách thức tính hợp lý của các điều khoản miễn trừ trách nhiệm trong bảo hành sản phẩm Trong vụ án này, ông Henningsen bị thương
do lỗi trong hệ thống lái của xe do hãng Bloomfield Motors bán Ông Henningsen kiện nhà sản xuất, lập luận rằng sản phẩm có khuyết tật nghiêm trọng trong thiết kế Hãng Bloomfield Motors cố gắng bác bỏ trách nhiệm của mình dựa trên một điều khoản bảo hành giới hạn trách nhiệm Tuy nhiên, Tòa án đã tuyên bố rằng điều khoản bảo hành giới hạn này là không công bằng và không hợp lý, vì nó gần như loại bỏ hoàn toàn quyền lợi của người tiêu dùng khi sản phẩm có khuyết tật Án lệ này mở ra tiền lệ rằng các nhà sản xuất không thể sử dụng điều khoản bảo hành để miễn trừ trách nhiệm đối với sản phẩm có khả năng gây hại cho người sử dụng [54]
(3) Học thuyết pháp lý:
Trách nhiệm sản phẩm xuất phát từ thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra
đã trải qua quá trình phát triển nhanh chóng trên toàn cầu Ban đầu, ở nhiều khu vực pháp lý, trách nhiệm sản phẩm chỉ đơn thuần được xem là một ứng dụng của luật hợp đồng hoặc luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ở châu Âu, đến tận cuối
Trang 24thế kỷ XX, trách nhiệm sản phẩm mới được xem là một vấn đề pháp lý riêng biệt thông qua việc ban hành Chỉ thị số 85/374/EEC về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu [51, 478]
Sự phát triển của lĩnh vực trách nhiệm sản phẩm như một lĩnh vực pháp luật riêng biệt đã diễn ra ở Hoa Kỳ sớm hơn so với các quốc gia khác Trước thế kỷ XX, trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra chủ yếu được điều chỉnh bởi luật hợp đồng [51, 479] Theo đó, trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh từ các giao dịch giữa người mua bị thiệt hại và người bán trực tiếp, tức là
liên hệ hợp đồng này đã loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của những nhà sản xuất không có mối quan hệ hợp đồng trực tiếp với người tiêu dùng Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX, sức ảnh hưởng của thuyết mối liên hệ hợp đồng bắt đầu suy giảm [51, 479], dẫn đến sự chuyển dịch các vụ kiện về trách nhiệm sản phẩm từ phạm vi luật hợp đồng sang luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, dựa trên nguyên tắc trách nhiệm do lỗi bất cẩn và sau đó là trách nhiệm nghiêm ngặt
Về mặt lý luận khoa học, dựa trên tiêu chí yếu tố lỗi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được phân loại như sau [4, 85]:
(i) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên lỗi, theo đó nghĩa vụ chứng minh yếu tố lỗi của bị đơn thuộc về nguyên đơn;
(ii) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có sự chuyển giao nghĩa vụ chứng minh lỗi (suy đoán lỗi), theo đó nghĩa vụ chứng minh lỗi được chuyển giao từ nguyên đơn sang bị đơn, nếu bị đơn chứng minh được mình không có lỗi sẽ không bị xác lập trách nhiệm bồi thường;
(iii) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt Đây là trách nhiệm nghiêm ngặt vì không dựa trên yếu tố lỗi, nhưng không hoàn toàn loại bỏ yếu tố lỗi vì vẫn tồn tại các quy định miễn trừ trách nhiệm dựa trên lý thuyết rủi ro phát triển
Trang 25(iv) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không dựa trên lỗi Loại trách nhiệm pháp lý này còn gọi là trách nhiệm tuyệt đối, do hoàn toàn không xét đến yếu tố lỗi của bị đơn và cũng không có cơ chế miễn trừ trách nhiệm
Cho đến nay, có ba học thuyết cơ bản làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, đó là học thuyết về sự bất cẩn (negligence), học thuyết về vi phạm nghĩa vụ bảo đảm (breach of warranty) và học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability)
Học thuyết về sự bất cẩn gắn với việc xem xét hành vi con người [8, 33] Nếu bên bán hoặc nhà sản xuất có hành vi lơ là, bất cẩn dẫn đến khuyết tật của sản phẩm và gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì họ phải chịu trách nhiệm Theo học thuyết này, ngay cả khi không có mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa nhà sản xuất
và người tiêu dùng, và nhà sản xuất ở rất xa trong chuỗi cung ứng sản phẩm đến người tiêu dùng, thì nhà sản xuất vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu người tiêu dùng chứng minh được rằng khuyết tật của sản phẩm xuất phát từ lỗi bất cẩn của nhà sản xuất [1, 40] Như vậy, học thuyết về sự bất cẩn xem xét trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên lỗi
Theo học thuyết về vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, khi đưa sản phẩm ra thị trường, nhà sản xuất, nhà phân phối được xem như đã đưa ra những bảo đảm nhất định về sản phẩm của mình đối với người tiêu dùng [8, 30] Vì vậy, nếu sản phẩm
có khuyết tật và gây thiệt hại cho người tiêu dùng, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà phân phối đã vi phạm bảo đảm của mình và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho hành vi vi phạm đó Các dạng bảo đảm bao gồm bảo đảm công khai (express warranty), bảo đảm ngầm định về tính thương mại (implied warranty of merchantability) và bảo đảm ngầm định về tính phù hợp của công dụng sản phẩm (implied warranty of fitness) Có thể thấy, thuyết vi phạm nghĩa vụ bảo đảm đã một phần dựa trên luật hợp đồng, theo đó nhà sản xuất, nhà phân phối đã đưa ra một số bảo đảm nhất định về sản phẩm và người tiêu dùng đồng ý mua, sử dụng sản phẩm dựa trên những bảo đảm đó [65, 449]
Trang 26Khác với học thuyết về sự bất cẩn, học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt không xem xét hành vi con người mà tập trung vào chất lượng sản phẩm được lưu thông trên thị trường [8, 36] Điều này có nghĩa là nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với việc sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại ngay cả khi họ không có lỗi Đây là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không dựa trên lỗi, nhưng cho phép
áp dụng cơ chế miễn trừ nếu đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định [4, 85]
Với bản chất pháp lý khác nhau, việc lựa chọn áp dụng học thuyết nào để xây dựng luật trách nhiệm sản phẩm ở mỗi quốc gia sẽ dẫn đến sự khác biệt về pháp luật trách nhiệm sản phẩm trên thế giới Ở Mỹ, pháp luật trách nhiệm sản phẩm cho phép người tiêu dùng khởi kiện nhà sản xuất theo cả ba học thuyết trên, với việc áp dụng cả Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Luật hợp đồng (Điều 2-313 và 2-314 Bộ luật thương mại thống nhất UCC quy định về các bảo đảm công khai và bảo đảm ngầm định của bên bán) [1, 41]
Chỉ thị số 85/374/EEC về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu được xây dựng dựa trên học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt, như đã được khẳng định tại phần đầu của Chỉ thị này: “Xét rằng trách nhiệm pháp lý không dựa trên lỗi
từ phía nhà sản xuất là phương tiện duy nhất để giải quyết thỏa đáng vấn đề, đặc biệt trong thời đại kỹ thuật ngày càng phát triển của chúng ta, về việc phân bổ công bằng các rủi ro vốn có trong sản xuất công nghệ hiện đại” [47]
Ở Nhật Bản, trước đây, người tiêu dùng có thể yêu cầu nhà sản xuất bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản, nhưng kể
từ tháng 7 năm 1995 khi Luật Trách nhiệm sản phẩm 1994 có hiệu lực, họ có thể đưa ra yêu cầu khởi kiện theo Luật này Bộ luật Dân sự Nhật Bản cho phép người tiêu dùng yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng chế định về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [52, 197] Theo các quy định này, việc giải quyết trách nhiệm của nhà sản xuất chỉ đặt ra khi nhà sản xuất có lỗi trong việc gây ra thiệt hại
mà người tiêu dùng phải gánh chịu (Điều 415, 709 Bộ Luật dân sự 1896) Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm sản phẩm 1994, được lấy cảm hứng từ Chỉ thị về trách
Trang 27nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu [66, 323], đã giảm bớt gánh nặng chứng minh cho người tiêu dùng Theo nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt, họ chỉ cần chứng minh sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó là nguyên nhân dẫn đến thiệt
1.2 Bản chất pháp lý và ý nghĩa của trách nhiệm sản phẩm
cứ miễn trừ do luật định Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, nhà phân phối được xác lập thông qua một sản phẩm, trong đó, nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp sản phẩm là bên chịu trách nhiệm bồi thường, và bên được bồi thường thiệt hại là người tiêu dùng sản phẩm đó; giữa họ có thể có hoặc không có quan hệ hợp đồng trực tiếp Theo đó, người tiêu dùng bị thiệt hại có thể yêu cầu nhà sản xuất, nhà phân phối bồi thường thiệt hại cho dù họ không trực tiếp mua sản phẩm có khuyết tật từ các chủ thể này
Bên cạnh đó, trách nhiệm sản phẩm là hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể kinh doanh phải gánh chịu khi cung cấp sản phẩm không đảm bảo chất lượng [11, 44] Điều này có nghĩa là nếu một sản phẩm được đưa ra thị trường mà không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn hoặc có khuyết tật, thì chủ thể sản xuất hoặc kinh doanh
Trang 28sản phẩm đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý để khắc phục các thiệt hại, vấn đề gây
ra do họ đã sản xuất, kinh doanh các sản phẩm có khuyết tật cho người tiêu dùng Bằng chế định pháp luật này, người tiêu dùng có công cụ cho phép họ bảo vệ quyền lợi của mình ở mức tối đa Khi một sản phẩm có khuyết tật hoặc gây ra nguy hiểm cho người sử dụng, người tiêu dùng có quyền yêu cầu nhà sản xuất hoặc nhà phân phối sửa chữa, thay thế hoặc bồi thường thiệt hại Theo đó, chế định trách nhiệm sản phẩm không chỉ đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng mà còn thúc đẩy các chủ thể kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn và chất lượng Đồng thời, chế định này cũng yêu cầu nhà sản xuất và các bên liên quan phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm mà họ đưa ra thị trường Điều này nhấn mạnh sự cam kết của chủ thể kinh doanh trong việc đảm bảo rằng sản phẩm của họ không chỉ đạt tiêu chuẩn về mặt chất lượng mà còn an toàn cho người
sử dụng
Do trách nhiệm sản phẩm gắn liền với sản phẩm có khuyết tật, nên chủ thể chịu trách nhiệm sản phẩm cũng rất đa dạng, có mối liên hệ với sản phẩm qua các khâu sản xuất, cung ứng sản phẩm trên thị trường và đưa sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng Chủ thể đó có thể là nhà sản xuất của sản phẩm (bao gồm cả nhà sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc người chế tạo một phần hay bộ phận của sản phẩm hoàn chỉnh), hiểu rõ các công đoạn, cách thức hình thành sản phẩm, nắm được các nguyên liệu cấu thành và đặc tính của sản phẩm Chủ thể chịu trách nhiệm cũng có thể là bên phân phối trung gian của sản phẩm, trực tiếp mua sản phẩm từ nhà sản xuất và đưa sản phẩm vào mạng lưới phân phối gồm các nhà bán buôn, nhà phân phối Bên cạnh đó, chủ thể đó có thể là các nhà bán lẻ trực tiếp cung ứng sản phẩm đến tay người tiêu dùng, giữa họ và người tiêu dùng thường tồn tại mối quan hệ hợp đồng trực tiếp [1, 41] Các chủ thể trên đều có thể phải gánh chịu trách sản phẩm Lý do là vì mặc dù thông thường khuyết tật trong sản phẩm thường xuất phát từ lỗi kỹ thuật trong quá trình thiết kế hoặc sản xuất, nhưng trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình phân phối, các tác động từ những chủ thể khác cũng có thể làm sản phẩm xuất hiện khuyết tật Vẫn có trường hợp sản phẩm đã được sản xuất đảm
Trang 29bảo chất lượng và an toàn, nhưng do các chủ thể trung gian như nhà phân phối, nhà bán lẻ không tuân thủ quy trình bảo quản, vận chuyển và lưu trữ đúng cách nên sản phẩm đã trở nên không an toàn cho người tiêu dùng Như vậy, trong chuỗi sản xuất
và cung ứng sản phẩm đến người tiêu dùng, nhiều chủ thể có vai trò và ảnh hưởng khác nhau có thể khiến sản phẩm xuất hiện khuyết tật và không an toàn
1.2.2 Ý nghĩa của trách nhiệm sản phẩm
Trách nhiệm sản phẩm có một số ý nghĩa quan trọng như dưới đây:
Thứ nhất, trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý hữu hiệu giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng [8, 44] Khi sản phẩm có khuyết tật gây ra thiệt hại, người tiêu dùng có thể yêu cầu bồi thường từ nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp Trách nhiệm sản phẩm hướng tới bảo vệ người tiêu dùng khỏi việc phải chịu gánh nặng chi phí y tế hay sửa chữa do khuyết tật của sản phẩm, đồng thời khuyến khích niềm tin của người tiêu dùng khi sử dụng các sản phẩm được lưu thông trên thị trường Nhờ
đó, trách nhiệm sản phẩm góp phần xây dựng một môi trường tiêu dùng an toàn và công bằng
Thứ hai, trách nhiệm sản phẩm giúp thúc đẩy các nhà sản xuất duy trì tiêu chuẩn cao về chất lượng và an toàn sản phẩm [8, 47] Bởi vì nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra, họ buộc phải đầu tư vào những chi phí phòng ngừa và khắc phục rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng sản phẩm, cũng như tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát và cải tiến quy trình sản xuất Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giảm thiểu rủi ro xảy ra các sự cố, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Kết quả là, các sản phẩm trên thị trường ngày càng đạt được các tiêu chuẩn chất lượng cao hơn
Thứ ba, trách nhiệm sản phẩm giúp cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất Trong một thị trường mà cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ rõ ràng, người tiêu dùng có quyền được bảo vệ khỏi các sản phẩm khuyết tật, còn nhà sản xuất có trách nhiệm đảm bảo an toàn và chất lượng của sản phẩm Sự cân bằng này tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, nơi quyền lợi của người tiêu dùng
Trang 30được tôn trọng và nhà sản xuất được khuyến khích để liên tục cải thiện sản phẩm của mình [8, 43]
Thứ tư, trách nhiệm sản phẩm góp phần bảo vệ nền kinh tế hoạt động ổn định
và tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh [8, 41] Với cơ chế cho phép người tiêu dùng được yêu cầu nhà sản xuất, nhà phân phối bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật, người tiêu dùng sẽ tin tưởng và an tâm khi mua sắm, từ đó thúc đẩy tiêu dùng và phát triển kinh tế Hơn nữa, trách nhiệm sản phẩm còn giúp tạo động lực cho các nhà sản xuất và nhà cung cấp liên tục cải tiến quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng, nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tính an toàn của sản phẩm, từ đó tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch và có lợi cho người tiêu dùng
Như vậy, trách nhiệm sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và quyền lợi cho người tiêu dùng Không chỉ bảo vệ người sử dụng sản phẩm khỏi những rủi ro tiềm ẩn, chế định pháp lý này còn tạo động lực cho các nhà sản xuất duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm Hơn nữa, trách nhiệm sản phẩm còn góp phần xây dựng một môi trường kinh tế ổn định và đáng tin cậy, thúc đẩy niềm tin của người tiêu dùng vào thị trường
1.3 Điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm
Với bản chất pháp lý khác nhau, các điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm theo ba học thuyết: học thuyết về sự bất cẩn, học thuyết vi phạm nghĩa vụ bảo đảm và học thuyết trách nhiệm sản phẩm cũng có sự khác biệt đáng kể
Các điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất hoặc người bán theo thuyết bất cẩn gồm: (i) Nhà sản xuất hoặc người bán có nghĩa vụ quan tâm (duty of care) đối với người tiêu dùng Nghĩa vụ này xuất phát từ kỳ vọng rằng các sản phẩm được đưa ra thị trường sẽ an toàn cho mục đích sử dụng của chúng; (ii)
Có sự vi phạm nghĩa vụ, nghĩa là nhà sản xuất hoặc người bán không hành động với mức độ cẩn thận hợp lý trong hoàn cảnh đó (có lỗi); (iii) Có thiệt hại xảy ra với người tiêu dùng; (iv) Có mối liên hệ nguyên nhân – kết quả giữa sự vi phạm nghĩa
vụ quan tâm của nhà sản xuất và thiệt hại của người tiêu dùng Tuy nhiên, việc phải chứng minh lỗi của nhà sản xuất, người bán được xem là gánh nặng quá lớn với
Trang 31người tiêu dùng vì hầu hết các chứng cứ chứng minh lỗi nằm trong tay nhà sản xuất,
ví dụ bản vẽ thiết kế, các biện pháp bảo đảm an toàn họ đã thực hiện trong quá trình thiết kế, sản xuất và cảnh báo đối với rủi ro của sản phẩm
Để yêu cầu nhà sản xuất và người bán chịu trách nhiệm pháp lý theo thuyết vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, người tiêu dùng thường cần phải chứng minh được các yếu
tố, điều kiện sau: (i) có bảo đảm đưa ra bởi nhà sản xuất, người bán, (ii) có sự vi phạm bảo đảm, (iii) có thiệt hại xảy ra và (iv) có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi
phạm bảo đảm và thiệt hại xảy ra
Theo học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt, người tiêu dùng không phải chứng minh rằng nhà sản xuất hoặc người bán có lỗi trong các khâu thiết kế, sản xuất, hay phân phối sản phẩm Thay vào đó, họ cần chứng minh rằng: (i) Sản phẩm có khuyết tật, (ii) Có thiệt hại xảy ra với người tiêu dùng, và (iii) Mối liên hệ nhân quả giữa khuyết tật của sản phẩm và thiệt hại của người tiêu dùng Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, đối với người tiêu dùng, việc chứng minh khuyết tật của sản phẩm là một nhiệm vụ khó khăn gần như nghĩa vụ chứng minh lỗi của nhà sản xuất Sự khác biệt
cơ bản giữa thuyết bất cẩn và trách nhiệm nghiêm ngặt được thể hiện rõ trong các trường hợp khuyết tật trong sản xuất, ví dụ, các thương tích gây ra bởi hòn đá trong hộp đậu, bong bóng khí trong lốp xe Khi vấn đề chuyển từ khuyết tật trong sản xuất sang khuyết tật trong thiết kế hoặc khuyết tật trong cảnh báo, có thể có rất ít sự khác biệt giữa trách nhiệm do bất cẩn và trách nhiệm nghiêm ngặt vì trong trường hợp này, nguyên đơn phải chứng minh được rằng sản phẩm có chứa mối nguy hiểm bất hợp lý có thể thấy trước - có nghĩa là nhà sản xuất có thể và lẽ ra phải tránh được nó một cách hợp lý [48, 173 – 174]
Về mặt pháp luật thực định, có sự khác nhau trong quy định pháp luật của các quốc gia về các điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm, cụ thể như sau:
Hiện nay, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trên thế giới chủ yếu xây dựng theo học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, qua đó các nhà sản xuất, nhập khẩu và phân phối chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sản phẩm có khuyết tật
mà không cần chứng minh sự bất cẩn hoặc sai sót Điều này được thể hiện rõ ràng
Trang 32qua các quy định pháp luật của nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, các nước thành viên Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc
Theo đó, pháp luật trách nhiệm của các quốc gia được xây dựng trên cơ sở thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt sẽ đưa ra 3 điều kiện cấu thành trách nhiệm nghiêm ngặt gồm (i) Sản phẩm có khuyết tật; (ii) Có thiệt hại xảy ra cho người tiêu dùng và (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa sản phẩm có khuyết tật và thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, tiêu chí đoán định với từng điều kiện quy định tại pháp luật mỗi quốc gia sẽ
có sự khác biệt nhất định
Ví dụ, Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) của Hoa
Kỳ và Chỉ thị 85/374/EEC của Liên minh châu Âu là hai trong những văn bản pháp
lý quy định rõ ràng và chi tiết về cơ chế xác định khuyết tật của sản phẩm Pháp luật Hoa Kỳ quy định cụ thể về cách xác định các loại khuyết tật của sản phẩm, bao gồm khuyết tật trong sản xuất, khuyết tật trong thiết kế và khuyết tật trong cảnh báo, thông qua các tiêu chí tương đối rõ ràng (Điều 2 Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) năm 1997 của Hoa Kỳ) Với khuyết tật trong sản xuất, sản phẩm được coi là có khuyết tật khi không đáp ứng kỳ vọng hợp lý của người tiêu dùng [56, 898] Tiêu chí cụ thể để xác định khuyết tật trong sản xuất là xem xét liệu sản phẩm có bị sai lệch so với thiết kế ban đầu trong quá trình sản xuất hay không Khuyết tật này thường chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một số sản phẩm cụ thể [1, 43] Khuyết tật trong thiết kế được đánh giá thông qua phương pháp cân bằng giữa rủi ro và lợi ích, tòa án sẽ xem xét các yếu tố như tính an toàn, tính hữu ích của sản phẩm và khả năng tồn tại của thiết kế thay thế hợp lý [56, 900] Đối với khuyết tật trong cảnh báo, nguyên đơn cần chứng minh rằng nhà sản xuất đã không cung cấp đủ cảnh báo hoặc chỉ dẫn về rủi ro không hiển nhiên, tuy nhiên nhà sản xuất thường không phải chịu trách nhiệm nếu không cảnh báo về các rủi ro rõ ràng và đã được biết đến rộng rãi [56, 906 – 907]
Khác với pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật của Liên minh châu Âu không đặt ra các loại khuyết tật cụ thể trong từng giai đoạn sản xuất, thiết kế và cảnh báo Theo
Trang 33quy định tại Điều 6 của Chỉ thị, một sản phẩm được coi là có khuyết tật khi không đáp ứng được mức độ an toàn mà người tiêu dùng có quyền kỳ vọng hợp lý Để xác định điều này, cần phải xem xét các yếu tố liên quan, bao gồm: (a) cách thức sản phẩm được trình bày và giới thiệu đến người tiêu dùng; (b) mục đích sử dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng có thể kỳ vọng một cách hợp lý; (c) thời điểm mà sản phẩm được đưa vào lưu thông Đặc biệt, Chỉ thị nhấn mạnh rằng một sản phẩm không thể bị coi là có khuyết tật chỉ vì có sản phẩm tốt hơn được giới thiệu ra thị trường sau đó Như vậy, Chỉ thị của Liên minh châu Âu áp dụng tiêu chí “sự kỳ vọng hợp lý của người tiêu dùng” để đánh giá khuyết tật của sản phẩm, xem xét liệu sản phẩm có gây ra mức độ nguy hiểm bất hợp lý đối với người tiêu dùng và liệu nó
Với các quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, mặc dù đã thiết lập chế định trách nhiệm sản phẩm dựa trên nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt, nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc định nghĩa và xác định khuyết tật của sản phẩm Tại Nhật Bản, Luật Trách nhiệm Sản phẩm năm 1994 không đưa ra định nghĩa chi tiết về khuyết tật của sản phẩm mà chỉ quy định rằng sản phẩm có khuyết tật nếu nó không đảm bảo sự an toàn mà người tiêu dùng có thể kỳ vọng một cách hợp lý (Điều 2 (1) Luật Trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản) Tuy nhiên, khi bàn về việc xác định sự an toàn của sản phẩm, còn có nhiều luồng quan điểm và tranh cãi của giới học giả Nhật Bản Quan điểm chiếm ưu thế là việc sản phẩm có khuyết tật hay không sẽ được đánh giá dựa trên kỳ vọng của một người bình thường về sản phẩm, trong khi một số học giả cho rằng một sản phẩm có khuyết tật nếu rủi ro nó đem lại lớn hơn tiện ích của nó và sản phẩm đó thiếu đi sự an toàn mà sản phẩm thường phải có [55, 67 – 68] Tại Hàn Quốc, Luật Trách nhiệm sản phẩm định nghĩa thuật ngữ “khuyết tật”' là khuyết tật của bất kỳ sản phẩm nào trong quá trình sản xuất, thiết kế hoặc cảnh báo thuộc bất kỳ trường hợp nào sau đây, hoặc thiếu sự an toàn
mà sản phẩm thông thường phải cung cấp: Khuyết tật do sản xuất; Khuyết tật do thiết kế và Khuyết tật do cảnh báo (Điều 2(2)).Tuy nhiên các việc xác định khuyết
Trang 34tật còn khá mơ hồ, và trên thực tế các tòa án phải dựa vào đánh giá của chuyên gia
để xác định khuyết tật [58]
Một khía cạnh quan trọng khác trong các điều kiện cấu thành trách nhiệm sản phẩm là có thiệt hại xảy ra Phần lớn các quốc gia chỉ áp dụng trách nhiệm sản phẩm đối với thiệt hại về tài sản và thiệt hại liên quan đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng, mà không áp dụng đối với thiệt hại của chính sản phẩm có khuyết
tật, ví dụ như Điều 9 Chỉ thị số 85/374/EEC của Liên minh châu Âu, Điều 3 Luật
Trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản 1994 Quan điểm này dựa trên cơ sở rằng trách nhiệm sản phẩm thuộc phạm trù trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
do đó không bao gồm thiệt hại đối với sản phẩm [12, 76] Tuy nhiên, Điều 41 Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Trung Quốc quy định rằng “Trường hợp sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại cho người khác thì nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.” [68], và do đó được diễn giải rằng đã
đề cập đến cả thiệt hại gây ra đối với tài sản khác và với chính sản phẩm có khuyết
Một điểm đáng chú ý nữa là Luật Trách nhiệm sản phẩm 2008 của Thái Lan
đã mở rộng phạm vi thiệt hại được bồi thường đối với thiệt hại về tinh thần Cụ thể điều 4 Luật này quy định: “„Thiệt hại‟ có nghĩa là những thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra hoặc là thiệt hại về tính mạng, cơ thể, sức khỏe, vệ sinh, tinh thần hoặc tài sản, nhưng không bao gồm thiệt hại đối với chính sản phẩm không an toàn đó.”; “„Tổn thương tinh thần‟ có nghĩa là đau đớn, tra tấn, ám ảnh, lo lắng,
đó, Chỉ thị số 85/374/EEC của Liên minh châu Âu cũng cho phép các quốc gia thành viên quy định về thiệt hại phi vật chất (Điều 9)
1.4 Hậu quả pháp lý của trách nhiệm sản phẩm
Hậu quả pháp lý là những nghĩa vụ và trách nhiệm mà nhà sản xuất, nhà phân phối phải thực hiện để khắc phục các vấn đề phát sinh do việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm không an toàn cho người tiêu dùng Mặc dù các quy định về
Trang 35nghĩa vụ này có sự khác biệt tùy theo pháp luật của từng quốc gia, nhưng thường bao gồm các trách nhiệm như bồi thường thiệt hại gây ra bởi sản phẩm có khuyết tật, ngừng cung cấp sản phẩm có khuyết tật, thu hồi và xử lý sản phẩm có khuyết tật, [11, 44]
1.4.1 Bồi thường thiệt hại bằng một khoản tiền
Ở Hoa Kỳ, người tiêu dùng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho thương tích cá nhân và thiệt hại tính mạng, bao gồm cả chi phí cho nỗi đau đớn và chịu đựng, chi phí y tế, mất thu nhập, mất hỗ trợ tài chính, [52, 315] Như vậy, những tổn thất, thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại về kinh tế (economic compensation) và thiệt hại phi kinh tế (non-economic compensation) [9, 32] Người tiêu dùng cũng có thể yêu cầu bồi thường cho thiệt hại tài sản, bao gồm thiệt hại đối với chính sản phẩm và thiệt hại đối với các tài sản khác Một điểm khác biệt nổi bật trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Hoa
Kỳ so với các quốc gia khác là bên cạnh bồi thường thiệt hại mang tính chất đền bù (compensation damages), thì còn cho phép người tiêu dùng yêu cầu bồi thường thiệt hại mang tính chất trừng phạt (punitive damages) Đây là loại thiệt hại có tính chất răn đe, nhằm mục đích trừng phạt bị đơn và ngăn chặn hành vi “xấu” trong tương
chứng minh, cung cấp bằng chứng rõ ràng và thuyết phục, rằng bị cáo hành động có chủ ý, bất cẩn hoặc ác ý Pháp luật nhiều bang yêu cầu phải có bồi thường thiệt hại thực tế trước khi áp dụng bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt [52, 316] Bên cạnh đó, tại Hoa Kỳ, một số bang không giới hạn số tiền bồi thường thiệt hại mà một người có thể yêu cầu từ nhà sản xuất, cho phép nguyên đơn được yêu cầu số tiền bồi thường vượt quá giá trị thiệt hại đã phát sinh [52, 316]
Theo quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Liên minh châu Âu, bồi thường thiệt hại tập trung vào việc bù đắp cho các tổn thất thực tế mà người tiêu dùng phải chịu, gồm: thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe của người tiêu dùng, thiệt hại về tài sản cá nhân của người tiêu dùng (mà không phải sản phẩm có khuyết tật) với ngưỡng giá trị tối thiểu là 500 ECU (Điều 9 Chỉ thị 85/374/EEC) Chỉ thị
Trang 3685/374/EEC cho phép pháp luật các quốc gia quy định về thiệt hại phi vật chất Đối với các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng do các sản phẩm giống nhau có cùng khuyết tật gây ra, pháp luật các quốc gia có thể đặt ra giới hạn số tiền bồi thường nhưng không thấp hơn 70 triệu ECU (Điều 9, Điều 16) Chỉ thị này không quy định về thiệt hại mang tính chất trừng phạt, và các quốc gia thành viên thường không áp dụng loại thiệt hại này
Hệ thống pháp luật dân sự Nhật Bản được xây dựng nhằm mục đích bù đắp thiệt hại chứ không nhằm mục đích trừng phạt, và do đó pháp luật trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản không cho phép áp dụng bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt [66, 332] Hàn Quốc cũng không chấp nhận hình thức bồi thường có tính chất trừng phạt, nhưng không đưa ra giới hạn về mức bồi thường, nhất là trong trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, thân thể [8, 148]
Mặc dù các quy định về bồi thường mang tính chất trừng phạt chưa phổ biến trong luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và luật trách nhiệm sản phẩm tại các quốc gia theo hệ thống dân luật Civil Law, nhưng chúng đã được áp dụng tại Trung Quốc và Đài Loan
Theo Điều 47 của Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Trung Quốc, trong trường hợp nhà sản xuất hoặc người bán biết rõ về khiếm khuyết của sản phẩm nhưng vẫn tiếp tục sản xuất hoặc kinh doanh, và khiếm khuyết này gây ra tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng cho người tiêu dùng, người đó có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại mang tính chất trừng phạt Tuy nhiên, điều luật này không đưa ra hướng dẫn cụ thể về cách xác định mức tối đa của khoản bồi thường mang tính trừng phạt, để lại một khoảng trống trong việc thực thi Luật Bảo vệ Người tiêu dùng của Trung Quốc cũng có quy định tương tự, trong đó nêu rõ rằng nếu nhà cung cấp biết về khiếm khuyết của sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng vẫn tiếp tục cung cấp và các hành vi này gây tử vong hoặc tổn thương nghiêm trọng cho sức khỏe của người tiêu dùng, thì người bị hại có quyền yêu cầu bồi thường mang tính trừng phạt với mức tối đa là gấp ba lần giá trị thiệt hại thực tế
Trang 37Tại Đài Loan, Điều 51 của Luật Bảo vệ Người tiêu dùng cho phép người tiêu dùng yêu cầu bồi thường trừng phạt lên đến gấp ba lần giá trị thiệt hại thực tế nếu thiệt hại do hành vi cố ý của nhà cung cấp gây ra Nếu thiệt hại chỉ do bất cẩn, thì mức bồi thường trừng phạt có thể yêu cầu lên đến 100% giá trị thiệt hại thực tế Quy định này đã cụ thể hóa mức bồi thường trừng phạt tùy thuộc vào mức độ lỗi của nhà cung cấp, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng [55, 225 - 226]
1.4.2 Thu hồi sản phẩm và cảnh báo sau bán hàng
Thu hồi sản phẩm là một hậu quả pháp lý đối với nhà sản xuất và người bán hàng, nhà phân phối để ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại mà sản phẩm có khuyết tật
có thể gây ra cho người tiêu dùng Thời điểm áp dụng thu hồi là ngay khi có chủ thể phát hiện ra sản phẩm có khuyết tật Về nguyên tắc, để thu hồi sản phẩm, cần xác định các yếu tố sau: (i) Nguyên nhân thu hồi sản phẩm; (ii) Thủ tục thu hồi sản phẩm, (iii) Thông báo thu hồi sản phẩm và (iv) Thủ tục sau thông báo thu hồi [42]
(i) Đối với nguyên nhân thu hồi sản phẩm: Nhìn chung, nguyên nhân thu hồi sản phẩm phải là sản phẩm có khuyết tật Tại Australia, các sản phẩm được thu hồi nếu có khả năng gây thương tích cho người tiêu dùng hoặc không tuân thủ tiêu chuẩn an toàn hiện hành Điều này bao gồm cả việc sử dụng sai mục đích có thể dẫn đến nguy hiểm cho người tiêu dùng (Phụ lục 2, Luật Người tiêu dùng và Điều 122(1)(b) và 128(1)4 Đạo luật Cạnh tranh và Người tiêu dùng năm 2010 của Australia) Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, nguyên nhân thu hồi là do sản phẩm vi phạm quy định an toàn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sản phẩm có khuyết tật, có
lo ngại về an toàn hoặc đã được thông báo công khai rằng sản phẩm có khuyết tật [45, § 108042 (i)] Đối với EU, sản phẩm bị thu hồi là sản phẩm nguy hiểm, được xác định là có nguy cơ cho sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng trong điều kiện
sử dụng bình thường [49, 3]
(ii) Đối với thủ tục thu hồi sản phẩm: Theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Australia, có hai loại thủ tục thu hồi: bắt buộc và tự nguyện Thủ tục thu hồi được
Trang 38áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi, trong khi thủ tục tự nguyện cho phép nhà cung cấp tự quyết định Ở Hoa Kỳ, cũng có hai loại thu hồi tương tự, với yêu cầu nhà sản xuất phải thông báo cho khách hàng và thực hiện các bước theo trình tự cụ thể để xử lý sản phẩm bị lỗi Còn tại EU, thủ tục thu hồi được quản lý chặt chẽ bởi các cơ quan giám sát thị trường, yêu cầu nhà cung cấp phải thực hiện theo quy trình đã được xác định nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
(iii) Đối với Thông báo thu hồi và (iv) Thủ tục sau thu hồi: Các quốc gia Australia, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đều quy định về người, cơ quan có thẩm quyền thực hiện giám sát việc thu hồi sản phẩm có khuyết tật Cụ thể, Australia có Bộ trưởng khối thịnh vượng chung chịu trách nhiệm giám sát hoạt động thu hồi và đảm bảo thông tin được công bố công khai Các doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo cho
Bộ trưởng về việc thu hồi và cung cấp thông tin chi tiết cho người tiêu dùng, bao gồm việc mô tả sản phẩm, nguyên nhân thu hồi và các biện pháp khắc phục Bộ trưởng sẽ giám sát quá trình thu hồi để đảm bảo rằng các biện pháp được thực hiện đúng cách
Ở Hoa Kỳ, Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSC) giám sát các hoạt động thu hồi sản phẩm của nhà xuất, nhà phân phối, đảm bảo rằng các sản phẩm bị thu hồi được xử lý đúng cách Theo đó, CPSC có quyền giám sát và yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tiến trình thu hồi, với trách nhiệm thông báo cho CPSC và người tiêu dùng
về sản phẩm bị thu hồi CPSC cũng có thể công bố thông tin về các sản phẩm nguy hiểm để cảnh báo người tiêu dùng Với Liên minh châu Âu, các cơ quan giám sát thị trường (MSA) có quyền theo dõi và yêu cầu các nhà cung cấp thực hiện hành động thu hồi, đồng thời thông báo cho công chúng về các sản phẩm nguy hiểm
1.5 Cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản phẩm
Việc thiết lập các cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản phẩm là rất quan trọng Bằng cách cung cấp sự bảo vệ trước những vụ kiện tụng quá mức, các cơ chế này khuyến khích các nhà sản xuất giới thiệu sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm hiện có
mà không phải lo ngại về trách nhiệm đối với những tình huống không thể dự đoán trước Hơn nữa, nhìn từ góc độ cân bằng quyền, cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản
Trang 39phẩm giúp duy trì sự cân bằng giữa việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo rằng các chủ thể kinh doanh có thể hoạt động mà không phải chịu gánh nặng quá mức, điều mà có thể dẫn đến việc tăng giá sản phẩm cho người tiêu dùng
Nguyên tắc phổ biến được áp dụng để thiết lập cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật quốc gia là nhà sản xuất, nhà phân phối không biết và không thể biết về những khuyết tật có trong sản phẩm của mình Điều 7 (c) của Chỉ thị 85/374/EEC cho phép nhà sản xuất được miễn trừ trách nhiệm pháp lý nếu chứng minh được “trình độ kiến thức khoa học và kỹ thuật tại thời điểm sản phẩm được đưa vào lưu thông không cho phép phát hiện ra khuyết tật” Điều khoản này thường được gọi là cơ chế miễn trừ dựa trên rủi ro phát triển (development risk), đã được đại đa số các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu áp dụng [50, 168 – 169] Quy định này cho thấy, việc xác định một sản phẩm có khuyết tật hay không phải dựa trên sự đánh giá khách quan về trình độ khoa học và kỹ thuật tại thời điểm sản phẩm được đưa vào lưu thông trên thị trường, mà không dựa trên kiến thức hoặc khả năng nhận biết chủ quan của các nhà sản xuất [21, 140]
Khái niệm “rủi ro phát triển” cũng khá tương đồng với khái niệm “trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến” (state-of-the-art) trong lý thuyết trách nhiệm sản phẩm Hoa Kỳ - một khái niệm dùng để chỉ tình trạng của công nghệ, khoa học, và kiến thức kỹ thuật tại thời điểm một sản phẩm được phát triển và đưa ra thị trường [48, 42] Người ta nhận thấy rằng, có sự miễn cưỡng trong việc áp đặt trách nhiệm pháp
lý lên nhà sản xuất đối với những nguy hiểm mà họ không thể biết trước hoặc không thể ngăn ngừa được tại thời điểm sản phẩm của họ được bán ra, hay chính là
sự miễn cưỡng khi buộc nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về những rủi ro mà họ không thể kiểm soát [48, 315 – 316] Các vấn đề liên quan đến "trình độ khoa học
kỹ thuật tiên tiến" thường được phân loại theo khuyết tật trong cảnh báo hoặc khuyết tật trong thiết kế Trong các trường hợp khuyết tật do cảnh báo, vấn đề chính thường là liệu nhà sản xuất có nghĩa vụ cảnh báo về những nguy hiểm không thể lường trước được hay không, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến các chất độc hại như dược phẩm và hóa chất, mà hậu quả độc hại của chúng chỉ được phát
Trang 40hiện sau nhiều năm sử dụng Trong các trường hợp khuyết tật do thiết kế, vấn đề thường đặt ra là liệu nhà sản xuất có nghĩa vụ thiết kế để loại bỏ những nguy hiểm
đã biết trước hay không Nghĩa vụ này được xác định dựa trên việc liệu nguy hiểm
đó có thể được loại bỏ hoặc giảm thiểu bằng các biện pháp thiết kế hợp lý, và những biện pháp này có thể thực hiện được trong điều kiện khoa học, công nghệ và thương mại hiện tại hay không [48, 315 – 316]
Cơ chế miễn trừ trách nhiệm sản phẩm được quy định tại pháp luật một số quốc gia như sau:
Pháp luật Liên minh châu Âu: Theo Điều 7 Chỉ thị 85/374/EEC, các
trường hợp miễn trừ trách nhiệm bao gồm: (i) Nhà sản xuất không đưa sản phẩm vào lưu thông; (ii) Khuyết tật gây ra thiệt hại không tồn tại vào thời điểm sản phẩm được đưa vào lưu thông hoặc khuyết tật này phát sinh sau đó; (iii) Sản phẩm không được sản xuất để bán hoặc phân phối vì mục đích kinh tế, cũng như không được sản xuất hoặc phân phối bởi nhà sản xuất trong quá trình kinh doanh; (iv) Khuyết tật hình thành do sản phẩm tuân thủ các quy định bắt buộc ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (v) Trình độ kiến thức khoa học và kỹ thuật tại thời điểm sản phẩm được đưa vào lưu thông không cho phép phát hiện ra khuyết tật; (vi) Nhà sản xuất các bộ phận cấu thành sản phẩm không phải chịu trách nhiệm nếu khuyết tật do thiết kế của sản phẩm mà bộ phận đó được gắn vào sản phẩm hoàn chỉnh hoặc do các chỉ dẫn của nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh Theo Điều 8 của Chỉ thị này, trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất sẽ không không được giảm trừ nếu thiệt hại gây ra bởi cả hai yếu tố (i) khuyết tật của sản phẩm và (ii) hành vi hoặc thiếu sót của bên thứ ba, tuy nhiên có thể được xem xét giảm trừ nếu thiệt hại phát sinh có lỗi của người bị thiệt hại hoặc những người mà người bị thiệt hại phải chịu trách nhiệm
Pháp luật Hoa Kỳ: Các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm sản phẩm có
thể khác nhau giữa pháp luật các bang của Hoa Kỳ [62] Một số trường hợp miễn trách gồm: