CHƯƠNG 1: MÔ TẢ TÓM TẮT DỰ ÁN
1.4. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN
1.4.5. Công nghệ sản xuất, vận hành (giai đoạn II)
* Công nghệ sản xuất gạch ốp lát theo công nghệ nung hai lần.
Đối với dây chuyền sản xuất gạch đã đầu tư giai đoạn I, trước đây công đoạn sấy là lò sấy nằm hai tầng, nay công ty có thay đổi công đoạn sấy nằm hai tầng của giai đoạn I này bằng lò nung con lăn lần 1 để sản xuất gạch men ốp tường theo công nghệ nung hai lần. Công nghệ lò nung hai lần đƣợc đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Máy nghiền bi Bể khuấy hồ
Sàng rung
N-íc §Êt sÐt Fenspat Phô gia C©n §L C©n §L C©n §L C©n §L
NL men N-íc Phô gia C©n §L C©n §L C©n §L
Máy nghiền men, màu Bụi,
ồn Ồn, nước
thải Ồn,
bụi
Ồn, bụi
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
68 Hình 13. : Sơ đồ công nghệ sản xuất gạch ốp lát theo công nghệ nung hai
lần của nhà máy
* Thuyết minh công nghệ:
Công nghệ đƣợc bố trí theo mô hình thiết bị sản xuất gạch ốp lát tráng men nung 02 lần. Quy trình sản xuất chủ yếu nhƣ sau:
- Sản xuất nguyên liệu làm xương.
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
69 Các nguyên liệu nhƣ đất sét, penspat và phụ gia đƣợc mua và vận chuyển về kho nguyên liệu, các nguyên liệu đƣợc xe xúc lật đổ vào các phễu định lƣợng, rồi được đưa vào máy nghiền bi bằng hệ thống băng tải. Nước và bi nghiền được đưa vào theo định mức. Phối liệu sau khi nghiền có độ ẩm 38 – 40% đƣợc đƣa vào bể chứa. Tại bể chứa có các thiết bị quấy liên tục làm hỗn hợp đƣợc đồng nhất và không bị lắng đọng. Từ bể chứa hồ đƣợc máy bơm dẫn vào tháp sấy phun, hồ có độ ẩm 38 – 40% qua tháp sấy phun đạt độ ẩm còn lại 5 – 6% và tạo thành bột nguyên liệu. Bột này đƣợc chuyển đến các xilô bằng hệ thống băng tải và gầu tải. Nhiên liệu sử dụng cho tháp sấy phun là khí nóng lấy từ lò than xích. Tùy theo thành phần phối liệu để tạo ra sản phẩm gạch ceramic thông thường hay gạch xương bán sứ.
- Ép và nung xương.
Bột đƣợc tháo tự động từ xilô chứa qua sàng rung để loại bỏ thành phần hạt quá thô, hệ thống băng tải và gầu tải đƣa bột vào phễu chứa của máy ép.
Từ phễu chứa bột đƣợc cấp tự động vào khuôn ép của máy ép thuỷ lực. Bột sau khi ép tại máy ép thuỷ lực tạo ra gạch mộc có kích thước và độ dày theo yêu cầu sản xuất. Gạch mộc đƣợc tháo ra khỏi khuôn và tập hợp lại nhờ hệ thống băng chuyền có lắp các chổi quét để làm sạch, sau đó vận chuyển đến lò nung con lăn sử dụng nhiên liệu là khí hoá than, tại đây gạch mộc được nung tạo xương (nung lần I).
Gạch sau khi được nung tạo xương được tự động dỡ ra khỏi lò nung và vận chuyển đến dây chuyền phủ men và in hoa văn.
- Phủ men.
Men đƣợc vận chuyển từ kho đến khu vực chế biến men. Nguyên liệu làm men đƣợc cân đong, định lƣợng chuyển qua hệ thống máy nghiền bi. Hỗn hợp men sau khi nghiền đƣợc chứa vào xilô, cung cấp cho dây chuyền phủ men. Trên dây chuyền phủ men in hoa văn, gạch đƣợc tráng men lót và men bóng hoặc men chịu mài mòn cao tuỳ theo yêu cầu sản phẩm.
- In hoa văn: Gạch sau khi đƣợc tráng men đƣợc chuyển sang công đoạn tạo hoa văn trang trí theo yêu cầu thiết kế của mẫu gạch đó. Trước khi sang máy dự trữ gạch, gạch còn được tráng một lớp men dưới đáy viên gạch để chống dính cho con lăn trong lò nung.
- Nung gạch.
Các máy dự trữ gạch có nhiệm vụ xếp gạch sau khi đã tráng men in hoa văn lên các tầng chứa gạch và dỡ gạch từ tầng chứa nạp vào lò nung con lăn một tầng sử dụng một phần là khí nóng tận dụng từ lò nung xương (nung lần I), một phần nhiệt
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
70 đƣợc đốt trực tiếp từ khí hoá than, tại đây gạch đƣợc nung lớp men (nung lần II), sau khi nung gạch đƣợc chuyển bàn phân loại sơ bộ.
- Phân loại sản phẩm.
Gạch đƣợc tuyển trên máy phân loại sản phẩm. Tại đây gạch đƣợc kiểm tra kích thước, mặt phẳng, màu sắc, hoa văn và phân loại theo yêu cầu sau đó được đưa sang dây chuyền mài cạnh gạch khô để hoàn thiện sản phẩm.
- Mài cạnh.
Gạch sau nung đƣợc phân loại và đƣa sang dây chuyền mài cạnh gạch khô để hoàn thiện sản phẩm. Gạch sau khi qua dây chuyền mài đƣợc chuyển đi đóng gói và chuyển đến kho thành phẩm.
* Công nghệ sản xuất gạch ốp lát theo công nghệ nung một lần.
Giai đoạn hai của nhà máy gạch CMC số 2, công ty đầu tƣ mới 01 dây chuyền đồng bộ sản xuất gạch men ốp lát cao cấp, xương bán sứ, sử dụng nhiên liệu khí hoá than với công suất 4.000.000 m2/năm theo công nghệ nung một lần. Sơ đồ công nghệ đƣợc mô tả nhƣ sau:
Máy nghiền bi Bể khuấy hồ
Sàng rung
N-íc §Êt sÐt Fenspat Phô gia C©n §L C©n §L C©n §L C©n §L
NL men N-íc Phô gia C©n §L C©n §L C©n §L
Máy nghiền men, màu
ồn Ồn, nước
thải Ồn,
bụi
Ồn, bụi
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
71 Hình 14. Sơ đồ công nghệ sản xuất gạch ốp lát theo công nghệ nung một
lần của nhà máy
* Thuyết minh công nghệ.
Công nghệ đƣợc bố trí theo mô hình thiết bị sản xuất gạch ốp lát tráng men nung 01 lần. Quy trình sản xuất chủ yếu nhƣ sau:
- Sản xuất nguyên liệu làm xương.
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
72 Các nguyên liệu nhƣ đất sét, penspat và phụ gia đƣợc mua và vận chuyển về kho nguyên liệu, các nguyên liệu đƣợc xe xúc lật đổ vào các phễu định lƣợng, rồi được đưa vào máy nghiền bi bằng hệ thống băng tải. Nước và bi nghiền được đưa vào theo định mức. Phối liệu sau khi nghiền có độ ẩm 38 – 40% đƣợc đƣa vào bể chứa. Tại bể chứa có các thiết bị quấy liên tục làm hỗn hợp đƣợc đồng nhất và không bị lắng đọng. Từ bể chứa hồ đƣợc máy bơm dẫn vào tháp sấy phun, hồ có độ ẩm 38 – 40% qua tháp sấy phun đạt độ ẩm còn lại 5 – 6% và tạo thành bột nguyên liệu. Bột này đƣợc chuyển đến các xilô bằng hệ thống băng tải và gầu tải. Nhiên liệu sử dụng cho tháp sấy phun là khí nóng lấy từ lò than xích. Tùy theo thành phần phối liệu để tạo ra sản phẩm gạch ceramic thông thường hay gạch xương bán sứ.
- Ép và nung xương.
Bột đƣợc tháo tự động từ xilô chứa qua sàng rung để loại bỏ thành phần hạt quá thô, hệ thống băng tải và gầu tải đƣa bột vào phễu chứa của máy ép.
Từ phễu chứa bột đƣợc cấp tự động vào khuôn ép của máy ép thuỷ lực. Bột sau khi ép tại máy ép thuỷ lực tạo ra gạch mộc có kích thước và độ dày theo yêu cầu sản xuất. Gạch mộc đƣợc tháo ra khỏi khuôn và tập hợp lại nhờ hệ thống băng chuyền có lắp các chổi quét để làm sạch, sau đó vận chuyển đến lò sấy.
Gạch mộc đƣợc đƣa vào lò sấy con lăn nằm ngang, nhiệt sấy đƣợc lấy từ khí nóng thu hồi từ lò nung. Gạch sau khi sấy đƣợc tự động dỡ ra khỏi lò sấy và vận chuyển đến dây chuyền phủ men và in hoa văn.
- Phủ men.
Men đƣợc vận chuyển từ kho đến khu vực chế biến men. Nguyên liệu làm men đƣợc cân đong, định lƣợng chuyển qua hệ thống máy nghiền bi. Hỗn hợp men sau khi nghiền đƣợc chứa vào xilô, cung cấp cho dây chuyền phủ men. Trên dây chuyền phủ men in hoa văn, gạch đƣợc tráng men lót và men bóng hoặc men chịu mài mòn cao tuỳ theo yêu cầu sản phẩm.
- In hoa văn: Gạch sau khi đƣợc tráng men đƣợc chuyển sang công đoạn tạo hoa văn trang trí theo yêu cầu thiết kế của mẫu gạch đó. Để có hoa văn đẹp với các họa tiết cầu kỳ công ty đầu tư thay thế hệ thống máy in lưới bằng máy in con lăn và máy in kỹ thuật số. Trước khi sang máy dự trữ gạch, gạch mộc còn được tráng một lớp men dưới đáy viên gạch để chống dính cho con lăn trong lò nung.
- Nung gạch.
Các máy dự trữ gạch có nhiệm vụ xếp gạch sau khi đã tráng men in hoa văn lên các tầng chứa gạch và dỡ gạch từ tầng chứa nạp vào lò nung dạng con lăn sử dụng
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
73 nhiên liệu là khí hoá than. Gạch sau khi nung đƣợc chuyển sang dây chuyền phân loại sản phẩm.
- Phân loại sản phẩm và đóng gói.
Gạch đƣợc tuyển trên máy phân loại sản phẩm. Tại đây gạch đƣợc kiểm tra kích thước, mặt phẳng, màu sắc, hoa văn và phân loại theo yêu cầu sau đó gạch được xếp lên giá sắt rồi đưa ra ngoài bãi tập kết trước bằng xe nâng hàng trước khi sang dây chuyền mài Nano.
- Mài cạnh, mài bóng bề mặt.
Để tạo ra dòng sản phẩm gạch cao cấp có giá trị cao một số sản phẩm gạch sau khi nung đƣợc chuyển sang dây chuyền mài để mài cạnh, hoặc mài bóng, mài bóng nano.
Gạch đƣợc để ngoài bãi tập kết ít nhất 48 giờ để làm nguội tự nhiên, sau đó đƣợc đƣa vào dây chuyền mài mài Nano, tại đây gạch đƣợc chuyển qua các công đoạn mài nước như mài cạnh, mài mặt thô; mài cạnh, mài mặt tinh đảm bảo kích thước và mặt phẳng theo yêu cầu, sau đó đến công đoạn mài bóng bằng công nghệ Nano.
b. Công nghệ mài gạch.
Theo công nghệ sản xuất gạch khi giai đoạn II của nhà máy gạch CMC số 2 đi vào hoạt động. Công ty đã chuyển đổi công nghệ lò lung 1 lần đã đầu tƣ trong giai đoạn I sang công nghệ lò nung 2 lần vì vậy đã tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao nhƣ gạch xương trắng, gạch men kính... Theo đặc tính công nghệ, sản phẩm gạch sau nung chỉ qua công đoạn mài cạnh nên công đoạn mài bóng bề mặt, mài bóng nano đƣợc chuyển sang sử dụng cho dây chuyền sản xuất gạch đầu tƣ giai đoạn II ( sản xuất theo công nghệ nung 1 lần).
Giai đoạn II của dự án: dự án đầu tƣ thêm 2 dây chuyền mài cạnh gạch khô; sử dụng dây chuyền mài bóng mặt gạch ƣớt, mài bóng nano đã đầu tƣ trong giai đoạn I sang sử dụng cho giai đoạn II của nhà máy. Công nghệ mài gạch được mô tả tại chương I, mục 1.4.1.2, mục b của báo cáo.
c. Công nghệ khí hóa than
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (giai đoạn II), công ty đầu tư thêm hai lò khí khóa than lạnh để cấp khí cho tháp sấy phun và lò nung. Đối với công nghệ, thiết bị của lò tương đương với lò khí hóa than đã được đầu tư trong giai đoạn I của dự án.
Nguyên liệu: Than côc
Lò liên tục
Đai n-ớc của vỏ lò liên tục N-íc mÒm
Hơi n-ớc
Khôngkhí Khí, bụi thải
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
74 Hình 15. Sơ đồ công nghệ sản xuất khí than của nhà máy
* Thuyết minh công nghệ.
Than cục có kích thước từ 6 – 50 mm được tời nâng đưa lên cửa nạp than của lò khí hoá và nạp vào lò liên tục bằng cơ cấu nạp than. Gió gồm hỗn hợp của hơi nước và không khí thổi từ đáy lò qua khe hở của hệ thống ghi quay và thực hiện các phản ứng đốt cháy và hoàn nguyên khí CO khi đi từ dưới lên qua lớp than trong lò. Khí than đƣợc hình thành với thành phần chủ yếu là CO, N2, H2, CO2 và O2 kèm theo lƣợng bụi
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ
75 than ra cửa xả. Trong suốt quá trình khí hoá than, khí than đƣợc lấy ra ở hai vị trí của lò. Khí than đuợc lấy ra từ đỉnh lò đƣợc gọi là khí trên. Lƣợng khí này có hàm lƣợng chất bốc cao, hàm lượng hắc ín lớn, hàm lượng bụi ít và có kích thước nhỏ vì vậy được đƣa qua tháp tách hắc ín I để loại bỏ phần lớn hắc ín có trong khí than rồi đƣa qua hệ thống làm mát gián tiếp bằng nước. Khí than được lấy từ thân lò được gọi là khí dưới.
Lƣợng khí này có hàm lƣợng hắc ín thấp nhƣng lại có hàm lƣợng bụi cao và có kích thước lớn vì vậy được đưa qua thiết bị Xyclon lọc bụi rồi đưa qua thiết bị làm mát tự nhiên. Khí trên và khí dưới cùng được đưa sang thiết bị làm mát gián tiếp bằng nước.
Tại đây hai dòng khí này đƣợc hoà trộn vào nhau và lƣợng khí này cùng đƣợc đƣa qua tháp tách hắc ín tĩnh điện II để tách toàn bộ lƣợng hắc ín còn lại để trở thành khí sạch.
Khí sạch sau đó được đưa vào tháp lọc tách lưu huỳnh và được đưa vào buồng tăng áp bằng các quạt cao áp. Khí sạch được đưa vào tháp tách nước để tách lượng hơi nước còn lại trong khí than sau đó khí than đƣợc đƣa vào lò nung để nung, sấy sản phẩm bằng các đầu đốt của lò nung.
Trong quá trình tạo khí hoá than, nước sạch được đưa vào thiết bị làm mềm nước. Nước này được bơm vào đai nước của vỏ lò, nhờ tận dụng nhiệt của lò sinh khí làm nước mềm bay hơi. Hơi nước này được quạt gió đẩy cùng với không khí vào đáy lò làm tác nhân khí hoá than.
Nước sạch ngoài vai trò làm tác nhân khí hoá còn được sử dụng để làm nguội gián tiếp, lượng nước này sau khi làm lạnh được đưa sang bể chứa làm nguội và được tuần hoàn sử dụng lại.
Báo cáo ĐTM: Dự án đầu tƣ xây dựng nhà máy gạch CMC số 2 (Giai đoạn II)
Cơ quan t- vấn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi tr-ờng Số 1524 - Đại lộ Hùng V-ơng – Việt Trì - Phú Thọ