TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN TUỔI THƠ
3. Trẻ ở tuổi đi học
Nhiệm vụ ở tuổi đi học là hình thành ý nghĩa của bản thân trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, học hỏi các nguyên tắc. Bentovim (1972) có lần đã nói cho tới tuổi lên 5, đứa trẻ cần nhiều thứ cần thiết cho cuộc sống của người lớn :
• Sẵn sàng về mặt tình cảm để học tập.
• Có suy nghĩ rõ ràng về bản thân là một con người.
• Có khả năng quan hệ với các trẻ khác.
• Có khả năng sử dụng sáng kiến để có được sự thỏa mãn trong vui chơi và các hoạt động được xã hội chấp nhận.
Thường ở vào thời điểm mà đứa trẻ vào trường thiếu các lĩnh vực phát triển, chưa được trang bị ở nhà đã trở thành sự cản trở cho việc học tập và phát triển phù hợp trong những năm ở tiểu học. Mặc dù giai đoạn từ 5 đến 11 tuổi không thấy những thay đổi dữ dội như từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, nhưng ở lứa tuổi dậy thì có những vấn đề quan trọng khi đi học, những khó khăn về phát triển xuất hiện.
Đây là lứa tuổi vừa là thách thức vừa là phần thưởng đối với nhân viên xã hội làm việc với trẻ. Trong giai đoạn giữa của thời tuổi thơ, trẻ em có thể cẩn trọng hơn về việc thổ lộ những suy nghĩ và sợ hãi của chúng. Trẻ em ở vào độ tuổi này có sự dè dặt nhất định trong việc nói lên sự hiếp đáp, hăm dọa với thầy cô hoặc nói về vấn đề gia đình cho một người lạ. Tuy nhiên, có thể thường trẻ em cũng đấu tranh để hiểu những kinh nghiệm khó khăn, có lẽ sự xa cách và mất mát hay cư xử tệ bạc, rất cần đến một người nào đó để giúp đỡ nhưng lại không tìm được người nào lắng nghe mình. Trẻ sẽ thắc mắc về gia đình của chúng (Brodzinsky và các đồng tác giả 1992).
Điều quan trọng là không nên đánh giá thấp nhu cầu của trẻ ở tuổi này để hiểu được những gì xảy ra quanh chúng và với chúng - và không đánh giá thấp khả năng của
chúng để nếu thích hợp hãy giúp đỡ chúng ngay cả khi nhân viên xã hội có thể xây dựng mối quan hệ tin tưởng với đứa trẻ. Cho nên nhân viên cần phải tôn trọng quyền và khả năng của trẻ em ở độ tuổi này để có được sự đóng góp của chúng.
Một trong những đặc điểm chính của giai đoạn này, cả ở trường lẫn gia đình, là bản chất của việc hình thành khái niệm bản thân. Collins (1984) đề nghị 4 nhiệm vụ chủ yếu trong sự phát triển khái niệm bản thân ở trung tâm của thời tuổi thơ :
• Hình thành sự hiểu biết tương đối toàn diện và vững chắc về bản thân.
• Cải tiến sự hiểu biết về cách thức thế giới xã hội đang hoạt động.
• Hình thành tiêu chuẩn và mong đợi về hành vi của riêng từng người.
• Hình thành các chiến lược để kiểm soát hay điều khiển hành vi.
Những nhiệm vụ này nói lên tầm quan trọng của việc hình thành bản sắc, học cách thích nghi và được chấp nhận : xác định bản thân bằng giới tính đặc biệt, nhóm dân tộc, tầng lớp hay văn hóa và học những gì được mong đợi ở đứa trẻ 6 tuổi trong gia đình, trong trường lớp và trong đất nước. Bản sắc dân tộc đặc biệt được thiết lập tốt ở độ tuổi này (Maxime 1986), và giới tính theo khuôn mẫu càng trở nên vững chắc. (William và Best 1990). Mặc dù có một số việc phổ biến, có lẽ chính tiến trình xã hội hóa, nhưng phần lớn những đặc trưng sẽ mang tính văn hóa riêng. Trong những nền văn hóa phương Tây chuộng chủ nghĩa cá nhân hơn thì trẻ em được trông đợi để theo đuổi sự thành đạt của cá nhân, dù là ở trong giới hạn được đặt ra bởi xã hội. Trong những nền văn hóa khác, có thể điều mong muốn đối với các cá nhân là học hỏi giá trị gia đình và cộng đồng là trước tiên và quan trọng nhất. Lòng tự trọng tùy thuộc vào sự đóng góp vào gia đình hơn là cho mục tiêu riêng của cá nhân. Biết điều gì được trông đợi thì lúc đó đứa trẻ cần phải học cách kiềm chế những bốc đồng hoặc điều hòa hành vi của trẻ để thích ứng.
Một phần của tiến trình này trong độ tuổi này là sự gia tăng tầm quan trọng của mối quan hệ nhóm đồng đẳng. Dun (1993) cho rằng mối quan hệ đồng đẳng là quan trọng trong giai đoạn tiền học đường, chính tại trường học các kỹ năng của đứa trẻ
trong việc kết bạn và dàn xếp những xung đột trở nên quan trọng. Dĩ nhiên, không phải mọi trẻ em đều có cùng mô hình về tình bạn bè, và thật cần thiết để xem xét kỹ từng trẻ trước khi đi đến kết luận. Một số trẻ em có thể được mô tả là thẹn thùng nhút nhát nhưng lại tìm thấy vui thích thực sự với bạn bè của riêng chúng và mặc dù có được kỹ năng tạo mối quan hệ nhưng một số lại hoàn toàn bằng lòng với tình bạn tương đối lỏng lẽo (Asendorpf 1993). Tuy nhiên, đối với nhiều trẻ em nhu cầu được ưa thích và là một thành viên của nhóm là rất mãnh liệt. Những vấn đề về ý nghĩa của bản thân và tiêu chuẩn về hành vi có liên quan với nhau ở đây, cũng như một số kỹ năng đọc được ý nghĩa người khác. Nghiên cứu của Dodge và các đồng tác giả cho rằng trẻ em bình thường có kỹ năng đọc được dự định của người khác hơn và do vậy có thể phản ứng thích hợp hơn. Một trong những điều nguy hiểm nhất là không đọc được cảm xúc và có khuynh hướng nhìn thấy ý định không thân thiện trong khi thật ra không phải như vậy. Nhân viên xã hội cần ý thức rằng khuynh hướng này đặc biệt gắn liền với trẻ em thiếu chăm sóc hay bị từ chối trong gia đình (Dodge và Feldman 1990). Khi nhân viên xã hội làm việc với trẻ em phải tìm hiểu mối quan hệ của chúng bao gồm mối quan hệ nhóm đồng đẳng.
Ứng phó với lo âu và duy trì mối quan hệ gắn bó vẫn là điều quan trọng trong suốt giai đoạn này. Mối quan hệ gắn bó của trẻ em và hành vi của chúng trong giai đoạn tiền học đường sẽ phát triển như một chiến lược thích nghi với các tình huống gia đình và ứng phó với nỗi lo âu. Trẻ em đến tuổi đi học với sự gắn bó không vững chắc và cảm nhận rất ít về ranh giới đối với hành vi của chúng có thể hết sức lo lắng trong môi trường mới và thách thức này. Nhiều trẻ em phản ứng nhanh gọn bằng cách thoái lui, có lẽ bằng biểu hiện suy nhược hay gây hấn không thường xuyên, nhưng rồi sẽ ổn định nếu như trường học cung cấp một môi trường nhạy cảm và kềm chế được. Chẳng hạn đối với trẻ em đã có kinh nghiệm về mối quan hệ mâu thuẫn và bị chối bỏ ở nhà, hay đã bị lạm dụng tình dục, hoặc bị phạt bằng cách cô lập. Một số trong những trẻ này hoàn toàn tách biệt, điều đó có nghĩa là lo âu và giận dữ của chúng còn kiềm chế được nhưng chúng sẽ không học được.
Trẻ khác có thể phản ứng hoảng loạn với sự gây hấn cực kỳ, tấn công các trẻ khác và thầy / cô giáo nhất là khi có sự thay đổi giáo viên. Mặc dù hành vi thì hung hãn nhưng điều quan trọng cần nhận thức là sự lo lắng bên trong này sẽ dẫn đến sự phân tán cơ chế ứng phó của đứa trẻ. Chẳng hạn nó có thể làm cho đứa trẻ có ảo tưởng rằng trẻ là một đứa trẻ rất tồi tệ không thể kiềm chế được. Như nghiên cứu của Richman (Richman và các đồng tác giả 1982) đã đưa ra : vấn đề hành vi nghiêm trọng lúc 3 tuổi có thể dai dẳng tới những năm tiểu học, và hiển nhiên là những hành vi không kiềm chế được của trẻ 6 hay 7 tuổi có thể hoàn toàn giống như hành vi không kềm chế được của trẻ em ở tuổi đi chập chững.
Trẻ em bắt đầu đi học từ một nền tảng vững chắc, cả về tình cảm lẫn xã hội, sẽ đi vào môi trường học đường một cách tương đối êm ả. Trẻ em dễ bị tổn thương, vì sống trong hoàn cảnh không may hay trẻ bị khuyết tật về thể chất hay học tập, có thể nhận thấy sự chuyển đổi sang trường học và sự phát triển suốt giai đoạn học tiểu học này căng thẳng hơn. Tuy vậy, đối với một số trẻ em từ những gia đình khó khăn thì trường học trở thành thiên đường an toàn có thể đáp ứng được một số nhu cầu về ranh giới và lòng tự trọng. Thành công ở trường học có thể là yếu tố bảo vệ theo nghĩa này và nhân viên nhà trường có thể cung cấp một “nền tảng vững chắc”. Đối với những trẻ em ở vị trí này, bất kỳ sự can thiệp nào xảy ra có liên quan tới việc sắp xếp cuộc sống của đứa trẻ thì điều đặc biệt quan trọng là sự liên tục ở trường cần phải được xem là tiềm năng và quan trọng như sự liên tục trong mối quan hệ gắn bó.
Tóm lại :
• Trẻ em tiếp tục cần mối quan hệ tình cảm vững chắc trong gia đình để phát triển và bày tỏ sự ưa thích. Tự trọng là yếu tố chính trong sự an sinh tình cảm.
• Nhóm đồng đẳng có giá trị, và có thể có nỗi sợ hãi lớn lao về khác biệt, từ chối, bắt nạt.
• Trẻ em ở tuổi đi học, nhất là từ 8 - 11, muốn biết cách nào và tại sao sự vật xảy ra nhưng thường không có cơ hội để làm sáng tỏ những rối rắm, hy vọng và sợ hãi của chúng. Nhân viên xã hội cần phải khởi sự trước thay vì chờ đợi trẻ em yêu
cầu, nhất là khi trẻ em có vẻ như không thể nói thành lời. Với sự giúp đỡ, trẻ em ở nhóm tuổi này có thể tìm hiểu mơ ước và cảm xúc về tình huống của chúng.
Những điều này có thể góp phần một cách có ý nghĩa vào những quyết định được làm về trẻ mà không bỏ mặc chúng với trách nhiệm làm ra những quyết định.