Nhân tố con người và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân

Một phần của tài liệu TAP BAI GIANG TRIET HOC (CAO HOC KINH TE) (Trang 167 - 174)

I- QUAN ĐIỂM TRIỂN HỌC MÁC – LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIAI CẤP – DÂN TỘC – NHÂN LOẠI

2. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.4. Nhân tố con người và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân

2.4.1. Khái niệm nhân tố con người

Trong thời gian gần đây, xuất hiện nhiều khái niệm: phát triển người, nhân tố con người, nguồn nhân lực, nguồn lực con người, chiến lược con người... Phát triển nguồn lực con người, hoặc phát triển nguồn nhân lực, cùng với phát triển người là những khái niệm hình thành và phát triển trên thế giới, chủ yếu trong thập niên 70 của thế kỷ XX, dựa trên quan niệm mới về phát triển và vị trí con người trong sự phát triển

Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất. Con người ở đây được xem xét như một tài nguyên, một nguồn lực. Vì thế, phát triển người hoặc phát triển nguồn lực con người trở thành một lĩnh vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các loại nguồn lực như vật lực, tài lực, nhân lực, trong đó phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm.

Việc nhận thức đúng đắn về khái niệm nhân tố con người là sự phát triển sáng tạo quan điểm Mác - Lênin về con người với tư cách là người sáng tạo có ý thức, là chủ thể của lịch sử. Đối với khái niệm nhân tố con người, ngày nay đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập với những góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau. Có tác giả đề cập dưới góc độ quản lý, có tác giả đề cập dưới góc độ phân tích tâm lý - xã hội. Trong tài liệu triết học - xã hội về nhân tố con

người cũng nổi lên nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tựu trung lại, có hai cách tiếp cận chính:

Thứ nhất, coi nhân tố con người như là hoạt động của những con người riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích cũng như tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi người quyết định.

Thứ hai, coi nhân tố con người như là một tổng hoà các phẩm chất thuộc tính, đặc trưng, năng lực đa dạng của con người, biểu hiện trong các dạng thức hoạt động khác nhau.

Như vậy, cái chung trong các quan niệm này là coi nhân tố con người về bản chất là nhân tố xã hội, quy định vai trò chủ thể của con người. Nhưng sự khác nhau là, quan niệm thứ nhất lấy hoạt động làm đặc trưng cơ bản, còn phẩm chất, năng lực được thể hiện trong hoạt động. Quan niệm thứ hai, lấy đặc trưng cơ bản là những phẩm chất năng lực, còn hoạt động là sự thể hiện nó.

Từ đây có thể đưa ra một quan niệm chung đầy đủ hơn về nhân tố con người là: nhân tố con người là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hoà các đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định.

Nhân tố con người là khái niệm không chỉ để phân biệt nhân tố "người"

với các yếu tố khác: kinh tế, chính trị, xã hội... trong đời sống xã hội, mà quan trọng hơn là để khẳng định vai trò của nhân tố "người" đối với các yếu tố dó. Tức là không có khái niệm nhân tố con người tách khỏi hoạt động, dù đó là hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.

2.4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người

Phát huy nhân tố con người thực chất là chăm lo tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi người, mỗi cộng đồng người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động, trong hoạt động sáng tạo nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội vì hạnh phúc của mỗi con người. Đây cũng chính là quá trình làm cho mỗi con người trở thành chủ thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử. Và không phải đến chủ nghĩa xã hội mới bàn đến chiến lược con người, khai thác yếu tố người, vì trong lịch sử, không chế độ nào tồn tại lại không nhắc đến yếu tố người, nhưng

có điều là, khai thác, phát huy theo lợi ích giai cấp nào và bằng phương thức nào.

Thực chất chiến lược con người là tạo ra môi trường xã hội kích thích con người hoạt động sáng tạo và thoả mãn nhu cầu tối đa của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là môi trường kinh tế xã hội, môi trường chính trị xã hội, môi trường văn hoá xã hội.

Trong sự nghiệp xõy dựng chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng xã hội mới. Sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo lối "vượt trước, đi tắt, đón đầu" nhất thiết gắn liền với phát triển con người, và coi con người là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Đảng ta khẳng định lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Để xây dựng con người Việt Nam mới trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần thực hiện đồng bộ các vấn đề cơ bản sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, nó tồn tại khách quan trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, kinh tế thị trường phải có sự quản lý của Nhà nước. Thực tiễn đã chứng minh, những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong gần 30 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên động lực kinh tế giải phóng sức sản xuất, trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người Việt Nam mới.

Hai là, nâng cao hiệu quả giáo dục, phát triển nguồn nhân lực. Phát triển kinh tế gắn liền với tự do chính trị và tự do công dân. Do đó, sự phát triển nguồn lực con người và giáo dục được coi là yếu tố quan trọng to lớn đối với tiến bộ kinh tế và tiến bộ xã hội. Đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển. Vì thế, ngày nay, cùng với việc đổi mới công nghệ, phải chú ý đổi mới công tác giáo dục, với phương châm: "Giáo dục cái mà đất nước cần, chứ không phải giáo dục cái mà ta có". Mặt khác, giáo dục toàn diện: giáo dục chính trị, giáo dục lao động nghề nghiệp, giáo dục đạo đức, phải sử dụng nhiều hình thức giáo dục đào tạo đa dạng phong phú, tạo điều kiện cho con người tự giác, tự giáo dục,

chủ động sáng tạo. Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cơ bản, đầu tư cho tái sản xuất sức lao động, đầu tư cho tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà ở nước ngoài, trong kế hoạch phát triển đất nước, nhiều quốc gia đều đặt giáo dục vào hệ thống ba chiến lược: giáo dục - khoa học và mở cửa.

Đại hội XI của Đảng, trong ba đột phá chiến lược, Đảng ta nhấn mạnh: phải phát triển nhanh nguồn lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển ứng dụng khoa học công nghệ. Những quan điểm trên là cơ sở định hướng cho quá trình chúng ta có những giải pháp đúng đắn nhằm đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cao, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học công nghệ.

Có thể nói, sự lạc hậu về giáo dục - đào tạo sẽ phải trả giá đắt trong cuộc chạy đua của những thập niên đầu thế kỷ XXI mà thực chất là chạy đua về trí tuệ và phát triển giáo dục - đào tạo trong cách mạng khoa học và công nghệ.

Ba là, ổn định chính trị và mở rộng phát huy dân chủ. Bất kỳ một quốc gia dân tộc nào, dù ở chế độ chính trị nào cũng cần có sự ổn định chính trị - xã hội. Bởi vì, đó là tiền đề để phát triển và tiến bộ xã hội. ổn định chính trị, trước hết thể hiện sự ổn định hệ thống chính trị, cơ cấu hợp lý và thể chế chính trị hoàn chỉnh. ở Việt Nam, khi bước vào công cuộc đổi mới, vấn đề quan trọng được đặt ra giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là phải có sự kết hợp ngay từ đầu, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, và từng bước đổi mới chính trị, nhằm làm cho hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là quá trình củng cố và phát triển hệ thống chính trị từ nền tảng kinh tế của nó. Mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

Bốn là, mở rộng giao lưu, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Để tạo điều kiện cho con người Việt Nam sáng tạo tránh được những sai lầm quanh co, để đưa đất nước đi lên tiến kịp trên con đường tiến hoá của nhân loại, đòi hỏi phải kết hợp việc tổng kết kinh nghiệm trong nước và kinh

nghiệm của thế giới. Không chỉ tìm phương thức, hình thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nội bộ nước mình, dân tộc mình, các nước xã hội chủ nghĩa mà còn tìm ngay trong các nước tư bản chủ nghĩa. Tiếp thu có phê phán, chọn lọc những giá trị phong phú của loài người sẽ tạo thành một động lực mạnh mẽ để hình thành từng bước một chủ thể mới của lịch sử - con người Việt Nam mới, vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa đại biểu cho sự phát triển của dân tộc. Và chắc chắn rằng "Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới"(1).

Năm là, Đẩy mạnh việc đấu tranh tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước.

Việc con người có thể phát huy mạnh mẽ năng lực hành động tự do sáng tạo đến đâu phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội. Nhưng trong hiện thực cụ thể, điều ấy phụ thuộc trực tiếp trước tiên vào tổ chức hoạt động của bộ máy chính trị. Vì thế việc xây dựng bộ máy chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. ở đây, đấu tranh chống tham nhũng làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước đang là yêu cầu cấp bách. Tham nhũng là hiện tượng xã hội có nguồn gốc lịch sử, nó xuất hiện khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp nhà nước. Tham nhũng hiện nay có mặt ở mọi chính thể, mọi thể chế chính trị của mọi quốc gia trên thế giới. ở Việt Nam, tham nhũng là một thách thức số một với dân tộc, với sự phát triển và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài học của những cuộc khủng hoảng xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, sự tan rã của Đảng và Nhà nước Liên Xô vừa qua cho thấy, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng sự tha hoá của cán bộ đảng viên, sự quan liêu của bộ máy nhà nước để tách dân với Đảng. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp dẫn đến đổ vỡ chủ nghĩa xã hội.

Để từng bước đạt kết quả trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, cần giải quyết những vấn đề sau:

(1) . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.68.

Thứ nhất, phải kiên quyết làm nghiêm từ trong Đảng ra, từ trên xuống và phải xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật các vụ việc, nhất là các vụ nghiêm trọng, không phân biệt kẻ vi phạm ở cương vị cấp bậc nào. Đây là khâu đột phá có thể lâu, cần phải làm và sẽ làm. Nó sẽ tạo ra hiệu quả chính trị xã hội lớn nhất và nhanh nhất.

Thứ hai, xóa bỏ cách tổ chức bộ máy khiến cho cán bộ, đảng viên trở thành tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, tách rời quần chúng. Bởi vì cách tổ chức bộ máy cũ mà chủ yếu là cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp tạo điều kiện cho bất cứ ai khi có một vị trí nào đó trong bộ máy nhà nước mà mất cảnh giác thì có thể đặc quyền đặc lợi. Vì thế, phải làm sao thay đổi tổ chức bộ máy để xoá bỏ tệ nạn đặc quyền, đặc lợi, từ đó gắn bó mật thiết với quần chúng, phục vụ quần chúng. Tuy nhiên, đây là một công việc phải được tiến hành một cách công phu, kiên trì, liên tục và quyết tâm cao. Bởi vì, xoá bỏ đặc quyền đặc lợi là cuộc đấu tranh gay go phức tạp giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, cái mới và cái cũ, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân. Kinh nghiệm cho thấy, chiến thắng tiêu cực ở người khác, ngoài xã hội tuy đã khó, nhưng còn dễ hơn nhiều việc chiến thắng tiêu cực của chính mình.

Thứ ba, đẩy mạnh việc giáo dục và tự giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý. Thông qua thực tiễn, cơ chế dân chủ hóa để sàng lọc, sắp xếp đội ngũ cán bộ là khâu có ý nghĩa quan trọng nhất định hướng cho việc giáo dục, đào tạo cũng như cho việc tự vươn tới sự phát triển các phẩm chất nhân cách của cá nhân.

Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng và cơ quan thông tin trong giám sát và đấu tranh chống tham nhũng. Trong công tác chống tham nhũng, đòi hỏi đổi mới nâng cao hiệu quả công tác thông tin, nhấn mạnh tính công khai, phát huy vai trò thanh tra nhân dân. Kết hợp sức mạnh tổng hợp các lực lượng chống tham nhũng, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia kiểm kê, giám sát tư liệu sản xuất, giám sát tổ chức quản lý lao động xã hội, giám sát phân phối sản phẩm. Không phải là ngoại lệ, tham nhũng ở nước ta hiện nay vẫn là biểu hiện sự tha hoá của Nhà nước cho dù chỉ là một bộ phận công chức nhà nước tham nhũng. Nghị quyết Đảng nhấn mạnh: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách,

pháp luật, nhất là về kinh tế, tài chính, về cơ chế, giải pháp phòng ngừa, cơ chế giám sát phản biện của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân"1. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta mang tính chính trị trực tiếp, có ý nghĩa quyết định trực tiếp thành công trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Quan niệm mácxít về con người, nhân tố con người. Ý nghĩa phương pháp luận trong việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Quan niệm mácxít về con người, bản chất con người. Ý nghĩa phương pháp luận trong công cuộc đổi mới hiện nay.

2. Quan điểm mácxít về quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Ý nghĩa trong việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay.

3. Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu tham khảo bắt buộc:

1- C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật. H. 1995 (Luận cương về Phoi-ơ-bắc).

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H,2001, trang 23-39; 108-147. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, trang 106-108; 172-183; 206-223. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 132-145; 150-180; 216-254.

3- Phạm Như Cương (chủ biên): Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1978, trang 146 – 194.

4- Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII.

5- Giáo trình chủ nghĩa duy vật lịch sử (cao cấp lý luận chính trị), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2006 trang 105 - 154.

2. Tài liệu tham khảo không bắt buộc:

Một phần của tài liệu TAP BAI GIANG TRIET HOC (CAO HOC KINH TE) (Trang 167 - 174)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(184 trang)
w