PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam (Trang 66)

RISK -0.0093 0.0244 -0.3799 0.7050 TL/TA -0.0070 0.0048 -1.4690 0.1457 OC/TA 0.0448 0.1562 0.2870 0.7749 EQAS -0.1589 0.2564 -0.6196 0.5373 GDP 0.0496 0.0892 0.5568 0.5792 INF 0.0219 0.0096 2.2839 0.0250 Số lượng khảo sát 100 R2 0. 5417 R2 hiệu chỉnh 0. 4329 F-statistic 4.9781 Prob (F-statistic) 0. 0000

Nguồn: Tác giả thu được từ chạy hồi quy mô hình 3. 2 bằng Eviews.

Bảng 4. 8: Tóm tắt kết quả hồi quy mô hình 3. 2 với ngân hàng có quy mô nhỏ

Bảng dưới đây tóm tắt kết quả hồi quy với *, **, *** lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.

Hệ số hồi quy Sai số chuẩn T P>|t| SERVICES 0.5477* 0.1226 4.4692 0.0000 EXCHANGE 0.3323 0.2990 1.1116 0.2697 SECURITIES -0.0313* 0.0066 -4.7421 0.0000 SIZE -0.0139 0.0029 -4.8569 0.0000 RISK -0.2197 0.1503 -1.4614 0.1478 TL/TA 0.1310 0.0966 1.3561 0.1789 OC/TA 0.0167 0.3159 0.0527 0.9581

EQAS -0.0432 0.0166 -2.5952 0.0112 GDP 0.2657 0.1039 2.5584 0.0124 INF 0.0113 0.0110 1.0312 0.3055 Số lượng khảo sát 100 R2 0. 6411 R2 hiệu chỉnh 0. 5559 F-statistic 7.5232 Prob (F-statistic) 0. 0000

Nguồn: Tác giả thu được từ chạy hồi quy mô hình 3. 2 bằng Eviews.

4.2.2.3. Tác động của hoạt động kinh doanh chứng khoán và góp vốn, mua cổphần đến khả năng sinh lời phần đến khả năng sinh lời

Từ kết quả hồi quy mô hình 3.2 thể hiện ở bảng 4.6, hệ số của biến Securities trong mô hình là âm, cho thấy tác động ngược chiều với ROA (ở mức ý nghĩa 5%). Điều này có nghĩa rằng, hoạt động kinh doanh chứng khoán và góp vốn, mua cổ phần đang có có tác động làm giảm khả năng sinh lời chung của các NHTM cổ phần Việt Nam. Kết quả này được khẳng định một lần nữa khi nghiên cứu tách mẫu được trình bày tại bảng 4.7 và 4.8, hệ số biến Securities vẫn tiếp tục âm cho thấy, ở các ngân hàng có quy mô lớn (ở mức ý nghĩa 5%) và quy mô nhỏ ( ở mức ý nghĩa 1%), kinh doanh chứng khoán và góp vốn, mua cổ phần đều có tác động nghịch chiều đến khả năng sinh lời.

4.3. KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Các giả thuyết nghiên cứu đã được trình bày ở mục 3.4 của luận văn được kiểm định theo giá trị tới hạn và đặt giả thuyết đối của các giả thuyết là giả thuyết H0 thì được kết quả tóm tắt như trong bảng 4. 8 dưới đây.

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Mô hình Giả thuyết t0=coef 0

std t(α, SLKS – k)36 Kết quả 3. 1 H0:βNII/TA= 0 H1: βNII/TA> 0 2.9444 t(0.01,112)= 2.6204 t0> t(0.01,112)=> loại bỏ giả thuyết H0, chấp nhận H1. 3. 2 H0:βSERVICES= 0 H2: βSERVICES> 0 2.7136 t(0.01,112)= 2.6204 t0> t(0.01,112)=> loại bỏ giả thuyết H0, chấp nhận H1a 3.2 Tất cả ngân hàng H0:βEXCHANGE= 0 H3: βEXCHANGE> 0 1.5867 t(0.1,190)= 1.6529 t0<t(0.01,90)=> Chưa đủ cơ sở để bác bỏ H0ở mức ý nghĩa 10%. Đối với NH quy mô lớn H0:βEXCHANGE= 0 H3: βEXCHANGE> 0 2.8619 t(0.01,90)= 2.6316 t0>t(0.01,90)=> loại bỏ giả thuyết H0, chấp nhận H1a Đối với NH quy mô nhỏ H0:βEXCHANGE= 0 H3: βEXCHANGE> 0 1.1115 t(0.1,90)= 1.6619 t0<t(0.01,90)=> Chưa đủ cơ sở để bác bỏ H0ở mức ý nghĩa 10%. 3.2 H0:βSECURITIES= 0 H4: βSECURITIES< 0 -4.0930 -t(0.01,190)= -2.6315 t0< -t(0.01,190)=> loại bỏ giả thuyết H0, chấp nhận H1C.

Nguồn : Tác giả tổng hợp từ kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng Excell.

Dựa theo bảng tóm tắt kiểm định giả thuyết nghiên cứu ở trên đã cho thấy được rằng: giả thuyết H1 được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1%, khẳng định các hoạt động đem lại thu nhập ngoài lãi có tác động làm tăng khả năng sinh lời; giả thuyết H2được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1% tức là ngân hàng càng phát triển các hoạt động dịch vụ thì khả năng sinh lời càng cao; giả thuyết H3 được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1% (trong mô

hình 3. 2 đối với các ngân hàng quy mô lớn), khẳng định kinh doanh ngoại hối có tác động tích cực đến khả năng sinh lời và cũng đồng tác động tích cực như vậy đến tất cả các ngân hàng (nhưng mức ý nghĩa không cao); Giả thuyết H4được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1% tức là hoạt động kinh doanh chứng khoán và góp vốn mua cổ phần đang có tác động tiêu cực, làm giảm khả năng sinh lời chung của các NHTM cổ phần Việt Nam.

4.4. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Dựa trên kết quả của mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu vừa nêu trên, tác giả tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu bằng cách kết hợp với thực trạng tồn tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.

Dựa vào mô hình hồi quy 3.1 và kiểm định giả thuyết H1đã cho thấy được, nhìn một cách tổng thể, thu nhập ngoài lãi có tác động làm tăng khả năng sinh lời. Điều này không ngạc nhiên vì hoàn toàn đồng nhất với hầu hết các nghiên cứu trước đây và thực tiễn hoạt động của các NHTM cổ phần Việt Nam hiện nay. Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) năm 2007 và việc gia nhập AEC vào ngày 31/12/2015, cam kết mở cửa thị trường tài chính hoàn toàn vào năm 2020 đã khiến các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với các áp lực cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài. Cộng thêm vào đó, sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng nội địa đã dẫn đến xu hướng dịch chuyển từ hoạt động truyền thống sang việc đa dạng hóa các hoạt động nhằm giữ vững thị phần, thu hút, mở rộng hơn đến nhiều đối tượng khách hàng và gia tăng khả năng sinh lời. Ngoài ra, hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro thể hiện qua việc gánh nặng nợ xấu cao trong thời gian qua đã phần nào ảnh hưởng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, khiến các ngân hàng phải chú trọng tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động phi tín dụng khác. Do vậy, để tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế với môi trường cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong và ngoài nước, các NHTM cổ phần Việt Nam đã tiến hành mở rộng các nguồn thu nhập ngoài lãi của mình để đa dạng hóa nguồn thu, qua đó có tác động tích cực nâng cao khả năng sinh lời.

Dựa vào mô hình hồi quy 3.2 và kết quả kiểm định giả thuyết H2 đã cho thấy được hoạt động kinh doanh dịch vụ có tác động làm tăng khả năng sinh lời của các NHTM cổ phần Việt Nam. Điều này hoàn toàn có thể lí giải được. Vì bản chất nguồn thu là từ phí và hoa hồng, các hoạt động dịch vụ của ngân hàng mang ít rủi ro hơn và qua đó đóng góp tích cực, bền vững vào khả năng sinh lời và cũng là vũ khí cạnh tranh luôn cần phải phát triển trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa như hiện nay. Điều này đã được khẳng định cả về mặt học thuật và thực tiễn. Đầu tiên, về học thuật, mặc dù các nghiên cứu tại Việt Nam đều chỉ ra tác động tích cực của tổng thu nhập ngoài lãi mà chưa đề cập sâu đến cấu trúc thu nhập ngoài lãi, nhưng với tác dụng tích cực tìm được, các nhà nghiên cứu đều đưa ra khuyến nghị chính sách cần quan tâm phát triển đặc biệt đến các hoạt động dịch vụ37mà không khẳng định thêm về các hoạt động còn lại, điều này chứng tỏ được tầm quan trọng hàng đầu của hoạt động dịch vụ trong mảng kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng. Thứ hai, về thực tiễn đã được minh chứng qua cả hai phía là NHTM lẫn các cơ quan quản lý. Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập, các NHTM đã mạnh dạn đầu tư chi phí lớn vào hệ thống công nghệ thông tin cho các dịch vụ hiện đại như dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Online banking), thẻ thanh toán, thanh toán quốc tế, ATM, POS… Bên cạnh đó, nhiều chính sách lớn của Chính Phủ đã được thông qua như: Quyết định 1726 Phê duyệt Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế, Quyết định 2545 Phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020,..đã tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ ngân hàng phát triển hơn trong thời gian tới. Như vậy, thu nhập từ hoạt động dịch vụ không những là thành phần quan trọng trong tổng thu nhập ngoài lãi góp phần gia tăng khả năng sinh lời của bản thân các NHTM, mà còn là yếu tố tích cực đóng góp vào điều hành nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

Dựa vào kết quả hồi quy mô hình 3.2 và kết quả kiểm định giả thuyết H3, cho thấy tác động của hoạt động kinh doanh ngoại hối là tích cực đối với khả năng sinh lời của các NHTM cổ phần Việt Nam. Tuy nhiên, tác động này chỉ có ý nghĩa nhiều với

đối các NHTM cổ phần có quy mô lớn. Điều này có thể được lý giải là vì các ngân hàng có quy mô lớn đã tận dụng được lợi thế nhờ quy mô của mình về mạng lưới, về quan hệ khách hàng, về thương hiệu và kinh nghiệm cũng như về khả năng chống đỡ khi có cú sốc xảy ra nên duy trì được sự ổn định hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ. Trong điều kiện thương mại và tài chính quốc tế ngày càng phát triển, cộng thêm tại Việt Nam, NHTM chính là trung gian duy nhất cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế nên ngân hàng sẽ có lợi thế dễ dàng mua, bán các loại ngoại hối và hoạch định chiến lược kinh doanh cho riêng mình, qua đó nâng cao hơn khả năng sinh lời. Ngoài ra, một vấn đề quan trọng cần nhìn nhận ở đây, đó chính là gắn kết tác động tích cực này với chính sách tỷ giá “thả nổi có kiểm soát” tại Việt Nam. Trong kinh doanh ngoại hối, các NHTM Việt Nam luôn bị ảnh hưởng rất lớn, giảm lợi nhuận hoặc lỗ mỗi khi NHNN có động thái điều chỉnh hoặc (và) nới biên độ tỉ giá so với với công bố ban đầu38. Điều này có nghĩa rằng, tác động tích cực của kinh doanh ngoại hối đến khả năng sinh lời phụ thuộc rất lớn vào sự “bảo hộ” của NHNN về tỷ giá, mà còn thiếu đi sự chủ động của bản thân NHTM trước diễn biến bất thường của các đồng tiền mạnh trên thế giới và sự ngày càng linh hoạt trong điều hành chính sách tỷ giá của NHNN. Chính vì thế, kinh doanh ngoại hối mặc dù vẫn đang có tác động tích cực song lại thiếu đi sự bền vững, nhất là khi NHNN đã áp dụng “cơ chế tỷ giá trung tâm” 39. Điều này đặt ra vấn đề về sự chủ động hơn nữa trong nghiên cứu, phân tích, dự đoán thị trường của các NHTM để giữ vững được tác động tích cực này trước những thay đổi về chính sách của NHNN.

Dựa vào mô hình hồi quy 3.2 và kết quả kiểm định giả thuyết H4, cho thấy kinh doanh chứng khoán và góp vốn, mua cổ phần có tác động làm giảm khả năng sinh lời của các NHTM cổ phần Việt Nam. Đầu tiên, xuất phát từ các NHTM, mặc dù Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh, kiểm soát mảng hoạt động

38Kim Tiền, “Không dự đoán được 3 lần điều chỉnh, 2 lần nới biên độ tỷ giá của NHNN, nhiều ngân hàng lỗ kinh doanh ngoại hối”, truy cập tại http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/khong-the-du-doan-duoc-3-lan-dieu- chinh-2-lan-noi-bien-do-ty-gia-cua-nhnn-nhieu-ngan-hang-lo-kinh-doanh-ngoai-hoi-20160224104629246.chn

ngày 24/02/2016.

39Cơ chế tỷ giá trung tâm là việc NHNN công bố tỷ giá hàng ngày, vẫn giới hạn biên độ dao động thay vì trước đây công bố một tỷ giá và biên độ dao động cố định trong một thời gian dài cho đến khi thông báo về sự thay đổi.

kinh doanh này, song nhiều ngân hàng vẫn vi phạm, dẫn đến kinh doanh thua lỗ40. Tiếp đến, thị trường chứng khoán tại Việt Nam còn non trẻ, không thể thiếu được sự tham gia của các NHTM trên thị trường này vì các NHTM sẽ có kinh nghiệm điều hành hơn cũng như có khả năng về vốn rót vào phát triển thị trường, chính điều này đã dần hình thành nên xu hướng ngân hàng đa năng hay tập đoàn tài chính, kết hợp giữa ngân hàng truyền thống và ngân hàng đầu tư, song chính sự thiếu kinh nghiệm trong mảng ngân hàng đầu tư, còn rất sơ khai và chưa hình thành với đầy đủ chức năng vốn có41, cộng với rủi ro đạo đức có thể xảy ra trong quản lý hoạt động của hai hình thức này, khi NHTM có khả năng cấp tín dụng với điều kiện lỏng lẻo hơn cho các công ty con trực thuộc kinh doanh chứng khoán42- đã dẫn đến việc kinh doanh chưa đem lại hiệu quả. Ngoài ra, hành lang pháp lý cho kinh doanh chứng khoán, góp vốn, mua cổ phần của NHTM vẫn đang trong quá trình xây dựng, bổ sung, chưa có được môi trường kinh doanh hoàn thiện cũng là một rào cản khiến cho kinh doanh chứng khoán và góp vốn, mua cổ phần tác động xấu đến khả năng sinh lời của các NHTM cổ phần Việt Nam.

Về tác động của các nhân tố nội sinh cho thấy, quy mô ngân hàng có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Điều này được lí giải là vì trong thời qua, nhiều ngân hàng gia tăng quy mô theo yêu cầu của cơ quan quản lý mà chưa xuất phát từ nhu cầu nội tại các NHTM, khiến các vấn đề khó khăn xảy ra, dẫn đến giảm sút hiệu quả hoạt động. Rủi ro tín dụng có tác động làm giảm khả năng sinh lời do ngân hàng phải trích lợi nhuận của mình để dự phòng rủi ro cho các khoản nợ quá hạn. Quy mô cho vay có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời cho thấy vấn đề cần nhìn nhận về chất lượng danh mục cho vay tại Việt Nam. Thực tế cho thấy khi các ngân hàng thương mại gia tăng quy mô cho vay trên danh mục tín dụng, nhưng lại tập trung quá nhiều dư nợ cho các lĩnh vực/ ngành kinh tế tiềm ẩn rủi ro (như bất động sản, kinh doanh chứng khoán) dẫn đến thu nhập của ngân hàng giảm sút khi các ngành kinh tế này có dấu hiệu

40Theo báo cáo kết quả kiểm toán năm 2015 tại Ngân hàng Nhà nước và 13 tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

41Chu Đức Tuấn, “Đón đầu xu hướng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam”, truy cập tạihttp://cafef.vn/tai-chinh-ngan- hang/don-dau-xu-huong-ngan-hang-dau-tu-tai-viet-nam-2010122008417946.chn,ngày 20/12/2010.

42 Song Linh - Việt Phong :”Xiết chặt hoạt động kinh doanh chứng khoán của ngân hàng”, truy cập tại

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/xiet-chat-hoat-dong-kinh-doanh-chung-khoan-cua-ngan-hang- 2686608.htmlngày 30/12/2016.

đi xuống trong giai đoạn từ sau năm 2008 trở lại đây.Chi phí hoạt động có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời, có thể cho thấy các ngân hàng đang sử dụng chi phí kém hiệu quả. Bên cạnh đó, việc sử dụng đòn bẩy tài chính thấp hơn giúp đảm bảo hơn an toàn hoạt động, qua đó làm tăng khả năng sinh lời.

Bảng 4.10: Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu Kết quả

RQ1: Thu nhập ngoài lãi có tác động như thế nào đến khả năng sinh lời của NHTM cổ phần không Việt Nam?

H1: Thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời.

Thu nhập ngoài lãi làm gia tăng khả năng sinh lời.

RQ2: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tác động như thế nào đến khả năng sinh lời của NHTM cổ phần không Việt Nam?

H2: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời.

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam (Trang 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(119 trang)