Lý do chọn đề tài Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975 phát triển trong bối cảnh lịch sử chung của lịch sử dân tộc: trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ác liệt, như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG ĐÀO QUỐC DŨNG
VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG ĐÀO QUỐC DŨNG
VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS VÕ VĂN NHƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Võ Văn Nhơn, người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn trong điều kiện tốt nhất
Tôi xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
TP Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 9 năm 2017
Người thực hiện
Lương Đào Quốc Dũng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả khảo sát được trình bày trong luận văn là trung thực và chuẩn xác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./
TP Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 9 năm 2017
Người thực hiện
Lương Đào Quốc Dũng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975, CÁI NHÌN TOÀN CẢNH 10
1.1 Đôi nét về bối cảnh 10
1.1.1 Về địa lý 10
1.1.2 Lịch sử – địa giới hành chính 11
1.1.3 Cơ sở văn hóa - xã hội 11
1.2 Quá trình vận động phát triển 13
1.2.1 Vài nét về văn học Bình Thuận trước năm 1945 13
1.2.2 Xu hướng sáng tác giai đoạn 1945 – 1954 19
1.2.3 Xu hướng sáng tác giai đoạn 1954 – 1975 24
CHƯƠNG 2 VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975, GIÁ TRỊ NỘI DUNG 35
2.1 Cảm hứng yêu nước 35
2.1.1 Tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm 35
2.1.2 Đoàn kết quân dân trong chiến đấu 48
2.1.3 Tinh thần lạc quan, tự hào dân tộc 50
2.1.4 Tinh thần phản chiến 55
2.2 Cảm hứng về thân phận con người 64
2.3 Triết lý nhân sinh 69
2.4 Tình yêu, khát vọng tự do, hoà bình 75
2.4.1 Tình yêu đôi lứa 75
2.4.2 Khát vọng tự do, hòa bình 80
CHƯƠNG 3 VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975, ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT 84
3.1 Văn xuôi 84
3.1.1 Truyện ngắn 84
3.1.2 Truyện dài và tiểu thuyết 97
3.1.3 Ký 104
3.2 Thơ ca 106
Trang 63.2.1 Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn 107
3.2.2 Các thể thơ: dân tộc và hiện đại 111
3.2.3 Tư duy nghệ thuật hướng nội trong thơ 116
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975 phát triển trong bối cảnh lịch sử chung của lịch sử dân tộc: trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ác liệt, nhưng ở vùng đất cực Nam Trung Bộ này có những đặc điểm khác biệt hơn so với những vùng miền trên toàn quốc nhiều mặt về địa lý, văn hóa, đời sống cư dân, nên tình hình phát triển văn học ở Bình Thuận cũng có những nét riêng nhất định So với toàn quốc,
do địa thế khí hậu, Bình Thuận có những vùng lượng mưa ít nhất nước, nắng nhiều, đất đai khô cằn, trên đường sa mạc hóa Vì thế, trong kháng chiến chống Mỹ đã diễn ra hiện tượng những người lính, cán bộ trong chiến khu Lê Hồng Phong vào mùa nắng phải tắm sương, tắm lửa (vì thiếu nước, nên phải đốt lửa lên xông cho toát mồ hôi ra để lau chùi bợn ghét trên thân thể) Bình Thuận có trên ba mươi dân tộc thiểu số anh em, là nơi đón nhận những cư dân từ miền Bắc, miền Trung vào, từ Nam bộ ra định cư lập nghiệp Họ mang theo cả tập tục, văn hóa xứ sở của mình đến đây để ứng xử trong giao tiếp Nên bản sắc văn hóa ở Bình Thuận cũng rất đa dang, phong phú, phức tạp Những đặc điểm
đó đã tác động đến cái nhìn, nhận thức, cảm hứng của người sáng tác
Tìm hiểu văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, chúng tôi thấy chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào vừa khái quát vừa chuyên sâu mang tính hệ thống khắc họa được diện mạo văn học của địa phương trong giai đoạn này Điều đó chắc chắn
sẽ là một trở ngại lớn đối với những ai có nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu về văn học Bình Thuận, nhất là việc nghiên cứu văn học địa phương gắn với nghiên cứu văn học vùng miền Trong thực tế, văn học Bình Thuận giai đoạn này có những thành tựu nhất định để góp mặt vào dòng chảy của văn học dân tộc, cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ Điều rất cần thiết nữa, trong chương trình Ngữ văn địa phương ở bậc phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các đơn vị cơ sở sưu tầm, biên soạn để đưa vào giảng dạy theo phân phối chương trình quy định, giúp học sinh thấy được những giá trị về văn học địa phương đã và đang diễn ra gần gũi chung quanh ngay trên mảnh đất mình đang sinh sống
Trang 8Ngoài ra, nguồn cảm hứng để viết luận văn này còn xuất phát từ tình yêu quê hương của người viết, mong muốn được góp phần giới thiệu những thành tựu văn học đáng trân trọng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975”, để làm tiền đề cho những công trình nghiên cứu tiếp theo
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975” Chúng tôi tập trung nghiên cứu, khảo sát 48 tác phẩm của 20 tác giả Họ là những tác giả sinh ra, lớn lên ở Bình Thuận hoặc sinh ra ở Bình Thuận nhưng đến địa phương khác sinh sống có tác phẩm viết về Bình Thuận và những tác giả từ nơi khác đến Bình Thuận sáng tác trong giai đoạn 1945 – 1975
Về phạm vi nghiên cứu: Khảo sát, đánh giá những đặc điểm về giá trị nội dung, nghệ thuật trong quá trình phát triển của văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, tập trung vào các tác phẩm của những tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này như: Vũ Anh Khanh, Hoài Khanh, Nguyễn Ngu Í, Nam Hà, Yên Hy Ba, Nguyễn Bắc Sơn, Huỳnh Hữu Võ, Lê Nguyên Ngữ, Nguyễn Như Mây
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi tìm hiểu về văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu còn khá khiêm tốn, chỉ ghi nhận được một số công trình liên quan như sau:
3.1 Những công trình tập thể
Công trình Địa chí Bình Thuận (Lâm Quang Hiền chủ biên, Sở Văn hóa Thông
tin Bình Thuận xuất bản, 2006), giới thiệu một cách khái quát những vấn đề về địa lý, lịch sử, văn hóa – xã hội và văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận từ năm 1697 đến năm
2000 Nội dung khảo sát, đánh giá chủ yếu nói đến tình hình lịch sử – chính trị có tác động đến đời sống xã hội, cũng như sáng tác văn học của tỉnh qua 4 thời kì: từ năm 1697 đến 1945, từ năm 1945 đến 1975 và từ năm 1975 đến 2000 Nhận xét, đánh giá của công trình này về giá trị nội dung văn học suốt thời kỳ này còn khá sơ lược
Trang 9Viết về văn học giai đoạn từ 1945 đến 1975, Địa chí Bình Thuận dành 12 trang
(từ trang 662 đến trang 674) giới thiệu, đánh giá một cách khái quát về tình hình phát triển và nêu một số thành tựu (chỉ đề cập đến một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu và có trích dẫn một số khổ thơ) Những người biên soạn có tách văn học thời kỳ này ra làm hai bộ phận: văn học vùng kháng chiến và văn học vùng đô thị Văn học vùng kháng
chiến có một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu như “các bài thơ của Tế Hanh: Em liên lạc
Khánh Hòa, Người đàn bà Ninh Thuận, Bà má Bình Thuận” [15, tr 666]; “Sáng tác
khỏe nhất và phong phú nhất vẫn là nhà văn Nam Hà (…) anh viết bút ký Thử lửa nêu
bật tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí tự lực tự cường rất đặc trưng của quân dân Khu
6 và Bình Thuận (…), Nam Hà đã viết nên một trong những bài thơ hay của nền văn
học chống Mỹ, cứu nước: Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” [15,
tr 672]; “anh Hồ Phú Diên (tức Đồng Sỹ Kỳ)… sáng tác hàng loạt bài thơ: Chiều, Hành
quân đêm, Quên ngày tháng…, ký Một đêm mưa, truyện ngắn Tổ chim ròng rọc…” [15,
tr 672, 673]; “Phan Minh Đạo, bút hiệu Bình Sơn, thường đi vào chiến trường trọng
điểm Bình Thuận, viết Đường Tháng Tám, Những cánh hoa ấp Bắc, Khu Lê anh hùng,
Khu Lê bất khuất, Tình quê chiến đấu, Nhớ Tam Giác… (thơ) và Trở về buôn rẫy, Tấm ảnh và ống muối cụ Hồ, Xưởng dệt Bình Thuận… (ký) [15, tr 673] Nguyên Nam “viết
nhiều thể phóng sự, bút ký, trong đó có Người Tam Giác mô tả sự gan lỳ của nhân dân
địa phương” [15, tr 673]
Viết về văn học vùng đô thị, Địa chí Bình Thuận đề cập những tác giả, tác phẩm
tiêu biểu như: Nguyễn Ngu Í, ông viết nhiều thể loại như chính trị, lịch sử, văn học Tác
phẩm của ông xuất bản chủ yếu tại Sài Gòn như: Tập truyện Khi người chết có mặt (1962) 1962), Sống và viết (1962) tập hợp những bài phỏng vấn văn học, Tiểu luận Hồ
Thơm Nguyễn Huệ - Quang Trung (1967) Vũ Anh Khanh, Địa chí Bình Thuận giới
thiệu những tác phẩm như: Cây ná trắc (tiểu thuyết, 1947), Sông máu (tập truyện ngắn, 1949), Đầm Ô Rô (tập truyện ngắn, 1949), Nửa bồ xương khô (tiểu thuyết, 1949), Bạc
xỉu lìn (tiểu thuyết, 1949) Thơ, giới thiệu trường ca Chiến sĩ hành và bài Tha la Tác
giả Yên Hy Ba – Lê Văn Hiến là tác giả có nhiều tác phẩm đã được đăng trên các báo,
tạp chí như: Ngày mới, Nhân loại, Bông lúa, Bách khoa, Giữ thơm quê mẹ, Nhân quyền,
Lao động tuần báo, Tiểu thuyết tuần san Một số tác phẩm tiêu biểu như: Về thơ, có bài:
Cánh bướm bên trời, Cho mùa xuân đẹp lại trên môi em, Bước chim chuyền cành, Sáng
Trang 10nay em về, Chim trắng, Bài thơ Phan Thiết, Bài hát ru con, Tình đoàn kết keo sơn Về
văn xuôi có các truyện ngắn Những dòng lệ Ba Lê, Sông sâu, Tình chim câu trắng, Người
trai miền nương xanh, Những vồng khoai xanh, Những con én vàng, Bên bờ biển cả, Nắng lên, Lá rụng về cội, Đi vào bão biển, Thương để trong tim, Tòng quân chinh, Người chết chưa chôn, Dấu nước mắt trên gối
Một trong những gương mặt nổi bật ở dòng văn học yêu nước, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tinh thần đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn, Phan Thiết là Nguyễn Như Mây Ông viết nhiều thơ phản ánh khát vọng đấu tranh của tuổi trẻ miền Nam,
ngoài ra ông còn viết ký, truyện ngắn đăng trên các báo Trình bày, Đối diện, Ý thức,
Sinh viên nêu lên mong muốn chấm dứt chiến tranh, mong ước hòa bình Nhà thơ
Nguyễn Bắc Sơn có một số bài thơ phản chiến được xem “là lời cảnh báo với tuổi trẻ miền Nam không được phó mặc buông trôi thân phận một cách vô nghĩa, cho đế quốc Mỹ” [15, tr 674] Hoài Khanh, là tác giả của 20 tác phẩm văn học bao gồm nhiều thể loại: thơ, truyện, dịch thuật với nội dung yêu nước, đấu tranh, tiến bộ
Địa chí Bình Thuận chỉ giới thiệu tác giả, tác phẩm như vậy và nhận định chung
về văn học giai đoạn này: “mang đậm tính chất quần chúng và tự phát Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận (kể cả những tác phẩm có nội dung yêu nước, tiến bộ trong vùng tạm chiếm) cũng đã đóng góp phần khiêm tốn của mình vào thành tựu văn học chung của dải đất miền Trung, tạo tiền đề cho hoạt động văn học trong thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp tục nảy nở và phát triển” [15, tr 667] Công trình ghi
nhận văn học kháng chiến chống Mỹ ở Bình Thuận có một bước tiến khá xa “đầy khích
lệ cả về quy mô và hình thức hoạt động” [15, tr 674]
Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở tỉnh Bình Thuận (Nguyễn Văn Hiến chủ
biên, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2008), giới thiệu khái quát về văn học dân gian và văn học viết qua các thời kỳ Từ năm 1945 về trước: Nhóm biên soạn chỉ chọn hai tác giả Nguyễn Thông và Trương Gia Mô đưa vào giảng dạy, giới thiệu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, và chọn ba bài thơ đưa vào bình giảng; Nguyễn Thông
chọn Bình Nhân sa mạc (Bãi cát Bình Nhân) và Bạch hồ nhàn hành (Đi dạo ở Bạch hồ); Trương Gia Mô chọn bài Tức sự Về giai đoạn 1945 - 1975, tài liệu giới thiệu sơ lược
một số tác giả, không chọn tác phẩm bình giảng, những tác giả ở vùng kháng chiến: Phan Minh Đạo, Nguyên Nam, Hồ Phú Diên, Nam Hà; ở vùng đô thị: Nguyễn Ngu Í,
Trang 11Vũ Anh Khanh, Yên Hy Ba, Lê Nguyên Ngữ, Nguyễn Như Mây, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn Công việc giới thiệu dừng lại tóm tắt đôi nét về tác giả, không đi vào phân tích, đánh giá
3.2 Những công trình nghiên cứu, bài viết về các tác giả văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975
Chúng tôi tập trung khảo sát các bài viết về các tác giả: Vũ Anh Khanh, Nguyễn Ngu Í, Hoài Khanh, Nguyễn Bắc Sơn, Huỳnh Hữu Võ, Nam Hà, Yên Hy Ba… Trong
công trình Văn chương tranh đấu miền Nam (Nhà xuất bản Kỷ Nguyên, Sài Gòn, 1969)
Nguyễn Văn Sâm đã nhận xét về Vũ Anh Khanh: “Ông là ngòi bút có chân tài, văn ông nhẹ nhàng, bình dị nhưng gợi cảm, thấm thía” [30, tr 97]; “Nhìn tổng quan về tư tưởng của Vũ Anh Khanh ta thấy các đề tài của ông không ra ngoài mục đích chính lập trường người dân cổ võ ủng hộ cách mạng chống thống trị, xâm lược” [30, tr 98] Trong công
trình Văn học thời kỳ 1945 - 1975 ở thành phố Hồ Chí Minh (NXB Văn hóa Sài Gòn,
2008), Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Phan đánh giá những đóng góp của Vũ Anh Khanh đối với văn chương kháng chiến chống Pháp: “Văn thơ Vũ Anh Khanh nhắm hai ý hướng chủ yếu Một mặt ông phê phán, chê trách, thương hại những hạng người sống cuộc sống phù phiếm ở những thành phố bị tạm chiếm, chạy theo những cám dỗ vật chất
và những dục vọng thấp hèn, nhắm mắt buông xuôi không chịu suy nghĩ gì đến sự tồn
vong của đất nước” [25, tr 64] Mặt khác ông cũng ca ngợi tấm lòng yêu nước thiết tha
của những người “tìm được ý nghĩa cuộc đời trong sự chiến đấu, trong sự hy sinh và là những tấm gương để những ai mê muội đi lầm đường soi vào mà thức tỉnh” [25 tr 65]
Trong bài viết Vũ Anh Khanh - Cây bút hàng đầu của dòng Văn chương tranh đấu miền
Nam 1945 – 1975 (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1-2012), Võ Văn Nhơn và Nguyễn
Thị Phương Thúy nhận định những ý hướng chính trong sáng tác Vũ Anh Khanh: “Về mặt nội dung, thế giới sáng tạo của ông, dù văn hay thơ, đều phân định rạch ròi thành hai mảng: những người chiến đấu vì tổ quốc và những kẻ mê muội, thờ ơ với vận mệnh non sông (…) Dù bằng cách này hay cách khác, ông vẫn không xa rời mục đích dùng văn chương làm vũ khí đấu tranh, hoàn thiện sứ mệnh của một nhà văn thời chiến Về mặt nghệ thuật, tác phẩm Vũ Anh Khanh là sự kết hợp giữa yếu tố cổ điển và hình ảnh hiện thực của đời sống và thời đại, tạo nên một không khí vừa sinh động quen thuộc với
độc giả đương thời lại vừa hào hùng xa vắng” [63] Về đóng góp của Vũ Anh Khanh
Trang 12cho văn học kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Q Thắng nhận định: “Vũ Anh Khanh, nhà văn kháng chiến tài hoa đã bị quên lãng trong nhiều năm tháng Tác phẩm của ông
là phần đóng góp không nhỏ của dòng văn học yêu nước, cách mạng trong lòng đô thị của những năm kháng chiến chống Pháp” [34, tr.1132]
Công trình Nguyễn Ngu Í, cuộc đời và văn nghiệp của Châu Hải Kỳ (Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 1993) giới thiệu khá chi tiết về cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Ngu Í, phân tích, kiến giải về tâm sự yêu nước, yêu quê hương, hoài bão lớn lao Thơ văn ông “vẽ ra, thật bi thiết và thấm thía cái thảm trạng bi đát của đất nước”
[19, tr 95] Trong công trình Văn học miền Nam nơi miền đất mới (Nxb Văn học, Hà
Nội, 2008) Nguyễn Q Thắng cho rằng: “Nguyễn Ngu Í là nhà thơ, nhà văn, nhà báo kì đặc có một không hai (trong cách sống, cách viết), là con người kì đặc ăm ắp thiện chí nhưng mang nhiều thất vọng về người đời nên trong thực tế - từ đời thực đến văn chương
- nhà thơ luôn luôn bất đắc chí ” [34, tr 550-556] Nguyễn Ngu Í “còn là cây bút văn xuôi rất duyên dáng, tài hoa qua các loạt bài phỏng vấn các nhà văn, họa sĩ trên tạp
chí Bách Khoa chính nhờ các bài phỏng vấn này mà độc giả có điều kiện hiểu tường
tận các nhà văn hiện đại Việt Nam.” [34, tr 550-556]
Năm 2014, Tập san Quán văn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với chủ đề
Nguyễn Bắc Sơn – Nhà thơ Đông phương (Quán văn, số 23, Nxb Thanh Niên, 2014),
đăng các bài viết về cuộc đời và thơ Nguyễn Bắc Sơn: Cuộc hội ngộ lạ lùng quá sức
tưởng tượng của Anh Ngọc, Thơ Nguyễn Bắc Sơn với ngày xưa của Ngọc Bút, Nguyễn Bắc Sơn của Đỗ Hồng Ngọc, Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn của Trần Hữu Dũng, Nguyễn Bắc Sơn – Nhà thơ Đông phương của Từ Thế Mộng, Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn: Chỉ biết cho đi của Hồ Việt Khuê, Đồng tiền rong chơi của Nguyễn Thị Liên Tâm Tập san Quán văn số 26 giới thiệu nhà thơ Hoài Khanh với chủ đề Hoài Khanh và nỗi cô đơn thân phận (Quán văn, số 26, Nxb Thanh Niên, 2014), gồm các bài viết Nhạt nắng bên cầu
của Cao Quảng Văn, Hoài Khanh, mây của trời rồi gió sẽ mang đi của Hoàng Kim Oanh, Khoảnh khắc lắng sâu của Đoàn Văn Khánh, Gặp lại Hoài Khanh của Đỗ Hồng Ngọc, Thơ Hoài Khanh, từ lục bát “nâu” đến lục bát “thiền” của Lê Ngọc Trác, Nỗi cô
đơn của Hoài Khanh của Phạm Công Thiện, Lục bát – Hoài Khanh của Tuệ Sỹ, Đọc
“Thân Phận” của Hoài Khanh của Đặng Tiến, Hoài Khanh, một đời nghe gió thổi hoài
của Hải Phương
Trang 13Chuyên luận Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 – 1975 của Nguyễn Bá Thành (Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016), có giới thiệu một số nét về nội dung, nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ ở Bình Thuận, sống và viết trong chính thể Việt Nam Cộng hòa
ở miền Nam trước 1975, như Nguyễn Bắc Sơn, Huỳnh Hữu Võ, Lê Nguyên Ngữ là những “tác giả trẻ sinh ra trong những năm 1940 đầu những năm 1950, nhưng đến những năm 1960, đầu những năm 1970 thơ của họ đã giữ địa vị chủ chốt trên văn đàn” [37, tr 243]
Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu văn học Bình Thuận từ năm 1945 đến 1975, chúng tôi chưa thấy có công trình nghiên cứu nào đánh giá chuyên sâu, toàn diện một cách hệ thống về quá trình phát triển và giá trị nội dung, nghệ thuật của văn học giai đoạn này, cũng chưa có công trình khảo sát nghiên cứu riêng biệt về tác giả văn học Từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy việc khảo sát, đánh giá văn học Bình Thuận từ 1945 đến 1975 là thật sự cần thiết để thấy giá trị đóng góp nhất định của văn học ở địa phương nằm trong dòng chảy của văn học dân tộc
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ thực hiện nhiệm vụ tập hợp, sưu tầm, nghiên cứu, bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 - 1975; đồng thời chúng tôi hy vọng nguồn tư liệu đáng tin cậy này sẽ là cơ sở giúp cho những công trình nghiên cứu văn học chuyên sâu ở Bình Thuận tiếp theo, cũng như việc nghiên cứu, tham khảo
để đưa vào giảng dạy chương trình Ngữ văn địa phương trong nhà trường được thuận lợi, dễ dàng hơn
Đề tài còn giúp gợi hướng nghiên cứu cho các vấn đề mà trong phạm vi luận văn
này chưa đề cập đến như: Văn học Bình Thuận trước năm 1945, Văn học Bình Thuận
sau 1975, Văn học Bình Thuận thời kỳ đổi mới…
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê – phân loại: khảo sát, thống kê sắp xếp các tác giả, phân loại các tác phẩm văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975
Phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh: về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật của các tác phẩm cùng thời gian dựa trên các đề tài đã được xác định và phạm vi văn
Trang 14học vùng kháng chiến, văn học trong lòng đô thị miền Nam để đánh giá tổng hợp được diện mạo văn học Bình Thuận qua một giai đoạn lịch sử
Phương pháp lịch sử – xã hội: nghiên cứu các vấn đề lịch sử – xã hội, có liên quan và ảnh hưởng đến tư tưởng, quan điểm và nét riêng trong sáng tác của nhà văn cũng như ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975
Phương pháp phỏng vấn: trao đổi, phỏng vấn các nhà văn Bình Thuận sáng tác trong giai đoạn 1945 – 1975 hiện còn sống
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu (09 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo (07 trang),
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, cái nhìn toàn cảnh
Chương này tập trung vào các vấn đề: Cơ sở hình thành và phát triển về văn học viết Bình Thuận ở các phương diện: Đôi nét về bối cảnh (vị trí địa lý, lịch sử – hành chính); văn hóa – xã hội Quá trình vận động phát triển: Vài nét về văn học giai đoạn trước 1945 Những xu hướng sáng tác (giới thiệu đặc điểm của một số tác giả tiêu biểu
đã tạo nên diện mạo văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975)
Chương 2 Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, giá trị nội dung
Chương này gồm có: Cảm hứng yêu nước và đấu tranh; cảm hứng về thân phận con người; cảm hứng triết lý nhân sinh; về tình yêu, khát vọng tự do và hòa bình
Chương 3 Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975, đặc điểm nghệ thuật
Chương này đánh giá về những giá trị nghệ thuật theo thể loại, về: Truyện ngắn, gồm: Xây dựng tình huống truyện; xây dựng xung đột truyện; xây dựng nhân vật qua: hành động, ngôn ngữ Truyện dài và tiểu thuyết, gồm: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trung tâm – nhân vật cộng đồng; thời gian và không gian nghệ thuật Một số đóng góp của thể ký Thơ, gồm: Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn; cách sử dụng một
số thể loại thơ để biểu đạt nội dung tư tưởng; tư duy nghệ thuật hướng nội trong thơ – giao thoa ngôn ngữ hướng nội và hướng ngoại
7 Nơi sưu tầm tư liệu thực hiện đề tài
Trang 15Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sưu tầm tư liệu từ các địa chỉ sau: Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Bình Thuận, Thư viện Đồng Nai, Thư viện Ninh Thuận, Viện nghiên cứu Khoa học xã hội; gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp với một số tác giả và gia đình (các tác giả đã mất)
Trang 16CHƯƠNG 1 VĂN HỌC BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 1945 – 1975, CÁI NHÌN TOÀN CẢNH 1.1 Đôi nét về bối cảnh
1.1.1 Về địa lý
Bình Thuận là một tỉnh duyên hải thuộc vùng đất cực Nam Trung Bộ, có cấu trúc địa hình núi rừng, đồng bằng và bờ biển khá đặc biệt, có nơi núi rừng giáp biển, tạo ra những phong cảnh non nước hữu tình Sông ngòi Bình Thuận không lớn, nhưng có những ao hồ và những cồn cát ven biển hình thành cảnh quan kỳ thú, như Bạch hồ – hồ Trắng (còn gọi Bàu Ông, Bàu Bà), nơi ngày xưa cụ Nguyễn Thông (1827 – 1884) đã
từng dạo thuyền ngắm cảnh dưới trăng để sáng tác thơ: “Dục tầm dao thảo nhiễu hồ
hành/ Vân ảnh hồ quang chiếu nhãn thanh” (Muốn tìm cỏ quý dạo quanh hồ/ Mặt nước
mây lồng sáng nhấp nhô – Bạch hồ nhàn hành, Lê Thước, Phạm Khắc Khoan dịch) Đây
là hồ nước ngọt, trong kháng chiến, cán bộ, bộ đội khu Lê Hồng Phong đêm đêm ra lấy nước hồ này về sinh hoạt, thường bị địch phục kích, nên hy sinh rất nhiều, là nơi gợi bao cảm hứng bi hùng cho nhà văn cảm tác Những cồn cát ven biển Bình Thuận, đặc biệt
là cồn cát bay Mũi Né luôn thay hình đổi màu từng ngày, từng tháng; những cồn cát ven biển kết hợp với sự chia cắt bởi hình thể địa lý của phần cuối dãy Trường Sơn nhô ra biển tạo thành nhiều mũi đá, những doi cát, cồn cát, như mũi Sừng Trâu, mũi La Gàn, mũi Đá Dựng, Mũi Né, mũi Đá Ông Địa, mũi Kê Gà, hình thành những cảnh quan thiên nhiên đẹp kỳ thú từ Vĩnh Hảo, Bình Thạnh, đến Phan Thiết, Kê Gà Nhưng không gian địa thế núi rừng liên hoàn với biển ấy có nhiều nơi hiểm trở, lại là những địa hình rất thuận lợi cho việc hoạt động chiến đấu của bộ đội, cán bộ và văn nghệ sĩ trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Bình Thuận là vùng mang tính chất khí hậu nhiệt đới điển hình, các huyện Bắc Bình, Tuy Phong (phía Bắc tỉnh) quanh năm nắng gió, đất đai khô cằn, nhiều nơi trơ ra những vùng đá sỏi và cát mang dấu hiệu đang trên đường sa mạc hóa, nhưng cũng có những vùng khí hậu khá ôn hòa như Phan Thiết, La Gi Tất cả những đặc điểm địa lý từ rừng, núi, ao hồ, sông, biển đến khí hậu đã tác động đến mọi sinh hoạt đời sống của cộng đồng cư dân, hình thành cho họ cách nhìn, cách nghĩ, cách sống để vượt qua, tạo nên tính cách, tâm hồn, tình cảm thể hiện mối quan hệ giao tiếp trong lao động, chiến đấu
Trang 17trên mảnh đất này Tất cả những đặc điểm đó đã tác động đến cảm quan của người cầm bút, nên trong những tác phẩm của họ luôn mang sắc màu và hơi thở của một vùng quê
1.1.2 Lịch sử – địa giới hành chính
Lịch sử hình thành phát triển tỉnh Bình Thuận đến nay có hơn 300 năm Sách
Đại Nam Nhất Thống Chí viết về tỉnh Bình Thuận xưa “là nước ngoài cõi Nhật Nam,
sau là đất Chiêm Thành Nước ta Lê Thánh Tông sau khi đã bình Chiêm Thành lấy đất
ở biên cảnh phía Nam nước ấy phong cho họ để làm nước triều cống” [53, tr 143] Đã trải qua các thời kỳ với nhiều biến đổi lịch sử khi đặt tên địa danh: Từ năm 1693, ranh giới giáp phía Nam Phan Rang đến phía Bắc Biên Hòa, Chúa Nguyễn đặt tên là Thuận Phủ, sau đó đổi lại là Thuận Thành Trấn Đến năm 1697, chúa Nguyễn lại tiếp tục đổi tên địa danh hành chính này là Bình Thuận Phủ, rồi “phủ” đổi thành “dinh” Tên Bình Thuận bắt đầu có từ đó Năm 1832, dưới triều Minh Mạng, dinh Bình Thuận được đổi thành tỉnh Bình Thuận, ranh giới địa phận từ phía Nam Khánh Hòa đến Biên Hòa Đến năm 1916, ranh giới tỉnh Bình Thuận thu hẹp lại, có hai phủ: Hàm Thuận, Hòa Đa và bốn huyện: Tuy Phong, Phan Lý Chàm, Hàm Tân, Tánh Linh và thị xã Phan Thiết
Từ sau 1945 về sau, cũng có sát nhập, chia tách ranh giới địa lý qua các thời kỳ
- trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Sau năm 1975, lại sáp nhập hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, đặt tên tỉnh Thuận Hải Đến tháng 4 năm 1992, Thuận Hải lại tách ra hai tỉnh mang tên địa danh như cũ: Ninh Thuận và Bình Thuận Bình Thuận hiện nay gồm thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm
Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Tánh Linh, Đức Linh và huyện đảo Phú Quý
Viết luận văn này, chúng tôi giới hạn nguồn tư liệu sưu tầm, tham khảo, nghiên cứu chủ yếu căn cứ trên phạm vi địa chính của tỉnh Bình Thuận được xác lập lại từ năm 1992 đến nay
1.1.3 Cơ sở văn hóa - xã hội
Qua các di chỉ khảo cổ học cho thấy Bình Thuận là vùng đất đã xuất hiện người
cổ từ rất sớm Trước khi địa danh Bình Thuận được thành lập, nơi đây đã có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó người Chăm chiếm đa số, người Kinh, người Raglai, người K’ho, người Châu ro, người Mạ, người Hoa cùng sinh sống hòa thuận trên mảnh đất này Xét về nguồn gốc có thể chia ra 4 nhóm chính Nhóm người bản địa như người
Trang 18Chăm, người Raglai, người K’ho Nhóm người Kinh di cư từ duyên hải miền Trung như Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Nhóm người Hoa đến từ các tỉnh như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến Họ đến bằng đường biển lưu lại trong quá trình giao thương buôn bán Một số dân tộc đến từ phía Bắc do quá trình bị di dân cưỡng ép như dân tộc Tày, Nùng, Thổ, Mường…Trong quá trình di dân đến và định cư tại Bình Thuận, các tộc người này mang theo cả nét văn hóa riêng của từng dân tộc tạo nên sự pha trộn và dung hòa thành nét chung cho văn hóa Bình Thuận
Tín ngưỡng và tôn giáo ở Bình Thuận cũng thể hiện sự phong phú về đời sống tinh thần các sắc tộc Nơi đây có nhiều lễ hội, nhiều phong tục tập quán, vừa phản ánh
sự đa dạng lại vừa cho thấy nét văn hóa đặc sắc riêng biệt của từng dân tộc Đối với người Kinh, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, người ta còn có các tập tục lễ nghi như Giỗ kỵ tiền hiền, Lễ Kỳ Yên, thờ cúng Thành Hoàng Đối với người dân vùng biển có
các tổ chức vạn, xây dựng nhiều dinh vạn quy mô để làm lễ hội với niềm tin gửi gắm
vào các thần linh ở biển cả Theo tinh thần thuyết “vạn vật hữu linh”, người ta thờ cúng lịnh ông Nam Hải, tức là tục thờ cá voi, cho rằng, cá voi là vật linh thiêng đem lại may mắn cho họ trong những chuyến đánh bắt hải sản, cũng như sẵn sàng cứu giúp ngư dân khi gặp nạn trên biển Tục thờ Mẫu cũng được tìm thấy nhiều nơi ở Bình Thuận như thờ
bà Thiên Y A Na, hay còn gọi là Thiên Y Thánh Mẫu Phong tục tập quán và tín ngưỡng của người Chăm khá đặc sắc Có nhiều lễ hội trong đó có lễ hội Katê, lễ hội Ramưwan, tục cưới xin, tang chế theo chế độ mẫu hệ mang đậm nét tín ngưỡng và tôn giáo của người Chăm Đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Bà la môn và đạo Hồi là những tôn giáo chính ở vùng đất này Tuy có khác nhau về giáo lý, về đức tin và mặc
dù trải qua nhiều thăng trầm, biến động lịch sử, nhưng nhìn chung tất cả các dân tộc đều
có sự đoàn kết, gắn bó, tôn trọng lẫn nhau trong đời sống văn hóa, phong tục thường ngày và thể hiện tinh thần bảo vệ những giá trị văn hóa của họ
Những đặc điểm về vẻ đẹp tinh thần của người Bình Thuận ngoài đời sống văn hóa còn thể hiện rõ nét qua sự chịu đựng gian khổ hy sinh, chịu thương chịu khó, quan
hệ nghĩa tình và thủy chung với tính cách giản dị, mộc mạc, độ lượng và bao dung Nhưng họ cũng rất cứng cỏi, dũng cảm đương đầu với mọi thử thách, yêu tự do, chuộng hòa bình, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác
Trang 19Nhìn lại quá trình hình thành tỉnh Bình Thuận, chúng ta dễ dàng nhận ra: “Bình Thuận là mảnh đất tụ lực, tụ trí, tụ nghĩa của những lớp người từ miền Trung đến và trong Nam ra, chung sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực tạo thành Xưa đã vậy, nay cũng vậy, không có làn ranh nguồn gốc ngữ điệu, tiếng nói.” [15, tr 5] Vì vậy có thể nói “Trong tiến trình lịch sử, quy luật sinh tồn này đã để lại cho quê hương Bình Thuận biết bao dấu son và con người Bình Thuận được nâng lên tầm cao mới mà bất cứ ai sinh thành, lập thân, lập nghiệp, gắn bó cuộc đời với mảnh đất này đều có thể cảm nhận với niềm vui sướng, tự hào chính đáng” [15, tr 5] Những đặc điểm về lịch sử và văn hóa đó đã truyền cảm hứng cho những người cầm bút ở Bình Thuận sáng tác những tác phẩm văn chương phản ánh sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách về con người của vùng cực Nam trung Bộ, nói lên tiếng nói vùng miền, tạo nên những nét riêng nhất định, góp phần làm phong phú cho dòng chảy văn học cả nước qua các thời kỳ, nên cần nghiên cứu và ghi nhận
1.2 Quá trình vận động phát triển
1.2.1 Vài nét về văn học Bình Thuận trước năm 1945
Tìm hiểu văn học Bình Thuận từ năm 1697 đến đầu thế kỷ XIX, chúng tôi thấy
có rất ít tư liệu về văn học viết, chủ yếu là văn học dân gian được truyền miệng Lúc này, người biết chữ Hán, chữ Nôm ở Bình Thuận không nhiều, đến thời Chúa Nguyễn mới bổ nhiệm những người đỗ đạt để vào cai quản những phần đất mới ở Đàng Trong Thời Gia Long, trường học mới được mở ở các huyện và phủ lỵ, số người đi học và tham gia thi Hương, thi Hội ở Bình Thuận, có khoảng 30 người đỗ ông Nghè, ông Cống Trong số những người này chỉ có một số ít người có khả năng sáng tác văn chương như Nguyễn Đặng Hựu, Nguyễn Hương, Cao Tất Hựu Người sáng tác gây tiếng vang được
là Nguyễn Hương Theo sách Đại Nam liệt truyện tiền biên: Nguyễn Hương học rộng giỏi văn thơ Trong thi tập lưu lại có bài Thái dược (Hái thuốc) Và bài Sơn lộ (Đường
núi) được tiếng là hay
Bài Thái dược có câu:
“Học đắc trường sinh bí Bất cầu thiên hạ văn”
(tạm dịch: Phép kín trường sinh đã học được/ Danh vang thiên hạ có cần chi)
Trang 20Bài Sơn lộ có những câu mang ý nghĩa hàm súc, phiêu diêu, thoát tục:
“Sơn nhân tự lai vãng Sơn thâm nhân bất tri”
(tạm dịch: Người riêng qua lại núi/ Núi sâu người chẳng hay) [15, tr 650]
Những câu thơ như trên còn lưu lại rất ít Những văn bản trong thời kỳ này chỉ còn tìm thấy được là những câu đối, câu liễn chữ Hán ở các đền chùa miếu mạo như lăng Ông Nam Hải ở Bình Thạnh (Tuy Phong), đình Xuân An, đình Xuân Hội, dinh Thủy Tú, Cổ Thạch tự (Phú Quý), chùa Núi Cú (Hàm Thuận Nam), dinh Thầy Thím (La Gi)
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, Bình Thuận là mảnh đất tị địa Những
chí sĩ yêu nước, những nhà nho trong Nam ngoài Bắc khi về đây sinh sống, làm việc đã sáng tác văn, thơ để nói lên tình cảnh nước mất nhà tan, dân tình loạn ly, nói lên chí nguyện của mình, của đồng bào về độc lập, tự do và chủ quyền đất nước Có thể nhận định, họ là những người có công đầu trong việc tạo nên những yếu tố cơ bản cho diện mạo văn học Bình Thuận trước 1945, như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thông, Trương Gia Mô, Bùi Quang Gieo
Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), người Nghệ An, đỗ Tiến sĩ năm 1871, được
triều đình nhà Nguyễn bổ làm quan ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, rồi Bình Thuận, là người có khí phách, có tinh thần chống Pháp rất quyết liệt Khi làm quan
án sát ở Bình Thuận, ông sáng tác nhiều bài thơ, văn, như các Tờ biểu tạ về việc cha mẹ
được phong tặng, Mọi điều lợi hại thời bây giờ, Xin kinh lý miền Thượng Du Trong Ngọc Đường thi tập và Ngọc Đường văn tập, người đọc dễ dàng bắt gặp điều ông muốn
“bày tỏ nỗi niềm bức xúc trước thái độ hèn yếu của triều đình, vạch trần tâm địa của giặc Pháp và phản ánh những mặt thiếu sót cần được chấn chỉnh trên tuyến đầu chống giặc ở vùng đất cực Nam” [15, tr 651] Bên cạnh đó, ông còn gửi gắm tâm sự của mình
về tình cảnh nhân dân lầm than, đất nước chia cắt:
“Nửa đêm nghe gà gáy luống ngồi dậy/ Thử hỏi hồi này ai là người xông ra trước tiên để giết giặc cứu nguy cho đất nước” [15, tr 651]
Trang 21Nguyễn Thông (1827 – 1884) quê ở Long An, là người thông minh ham học,
con đường quan lộ không ít thăng trầm Ông có thời gian dài tị địa ở Bình Thuận, cuối đời mất tại Phan Thiết Trong thời gian làm quan ở đây, ông đã đi thị sát nhiều nơi, có khi lên tận đến vùng Đức Linh, Tánh Linh để tính toán việc khai hoang, làm ruộng rẫy,
đê điều, trích trữ lương thực, trù tính việc xây dựng căn cứ kháng chiến Ông để lại nhiều
tác phẩm văn thơ có giá trị lớn về nội tư tưởng và nghệ thuật, như Ngọa du sào thi tập,
Ngọa du sào văn tập, Độc am văn tập, Độc am thi tập, Kỳ xuyên thi, văn sao, Kỳ xuyên công độc Ông là nhà văn, nhà thơ thể hiện quan niệm sáng tác tiến bộ Ông cực lực
lên án loại văn sĩ “chưa từng trải mà thích bàn tới việc? dấu chân không ra khỏi cổng làng mà luận bàn xa xôi đến cả phong thổ chín châu ông đòi hỏi ở những người sáng tác một vốn sống phong phú, một nhân cách trọn vẹn, một ý thức về chức năng nhiệm
vụ của nghệ thuật” [14, tr 56] Những bài thơ chữ Hán của ông viết về Bình Thuận, người đọc dễ dàng bắt gặp ở ông sự rung cảm mạnh mẽ đối với thiên nhiên, đất nước, con người, dù quê hương đó là Long An hay quê hương Bình Thuận Như thiên nhiên
trong Sơn Trung ngộ vũ:
“Núi ướt như vừa tắm xong Sáng ra đi xuống núi
Lá rụng đầy khắp rừng gò Ánh sáng mùa thu tỏa nơi đám cỏ thơm”
[15, tr 653]
Bài Hàm Thuận cảm hoài (Ở Hàm Thuận cảm nhớ), thể hiện những cảm xúc tinh
tế thấm đẫm nỗi buồn về tình cảnh đất nước ly loạn, cách trở:
“Lâu năm xót nỗi xa nhà Loạn ly nương náu lòng ta bời bời Non cao đường hẹp chơi vơi Mênh mông biển lộn với trời ngoài xa”
[15, tr 653]
Trang 22Nhiều bài thơ, văn của ông còn thể hiện cảm xúc dào dạt có khi tưởng như miêu
tả với cái nhìn phóng khoáng trước sự kỳ thú của thiên nhiên, nhưng đó lại là hình ảnh
chứa đựng cảm xúc ẩn dụ triết lý: “Điều kỳ lạ trong vũ trụ không có gì bằng núi, núi
rộng rãi thênh thang mà cong, núi quanh co khúc khuỷu mà thẳng, núi xanh xanh mà đáng yêu, có vòi vọi mà đáng sợ, có trơ trọi mà cổ kính, có thon vót mà đẹp tươi” [15,
tr 654] Ông mượn núi để nói về đời, về con người, trong đó có ẩn ý về sự cương trực
vì chính nghĩa của bản thân ông
Những năm đầu thế kỷ 20, văn học yêu nước Bình Thuận tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển bởi tư tưởng, chủ trương và hành động chống Pháp của các nhà chí
sĩ yêu nước hội tụ, gặp gỡ để gây dựng sự nghiệp cách mạng như: Trương Gia Mô, Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Bang Họ sáng tác thơ, văn vừa
để bày tỏ ý chí, hoài bão cao đẹp của người anh hùng, vừa thể hiện tình cảm đối với non sông đất nước, đặc biệt là những sáng tác mang tinh thần cương lĩnh của phong trào Duy
Tân "Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh" – Phong trào Duy Tân ở Bình Thuận
khi ấy đã xây dựng được các tổ chức xã hội nhằm truyền bá giáo dục tư tưởng yêu nước, như “Liên Thành thơ xã” (1906), “Liên Thành thương quán” (1906), “Dục Thanh học hiệu” (1907) tác động rất lớn đến đời sống nhân dân
Trong số những văn thân yêu nước nói trên, Trương Gia Mô (1866 – 1929) quê
ở Gia Định, là người lưu lại ở Bình Thuận lâu hơn cả, trong thời gian này, ông có nhiều cảm tác về Bình Thuận, về Phong trào Duy Tân chống Pháp, cũng là người giới thiệu thầy giáo Nguyễn Tất Thành đến dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, Bình Thuận Những tác phẩm của ông hiện còn lưu lại không nhiều, chỉ có hai tập thơ, văn quan trọng
là Tam Tiên liệt truyện (Viết về tiểu sử công đức của Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Trung Trực) và Thu hoài phú một số bài thơ đăng trên tạp chí Nam Phong Viết về Bình Thuận, Trương Gia Mô có tác phẩm Bạc Phan Lang, bộ Hòa Đa
doãn Trần Thiện Cốc vận (Ghé thuyền ở Phan Rang họa vần cùng quan huyện Hòa Đa,
Trần Thiện Cốc), Đăng Chiêm thành cổ tháp (Lên tháp cổ Chiêm Thành), Thu trực cấm
trung (Mùa thu vào cung cấm), Thuận Lương Trạm đề bích (Đề trên vách trạm Thuận
Lương), Họa hữu nhân Túc sự (Họa bài Tức sự của bạn), Vịnh trường Dục Thanh, Vịnh
thương hội Liên Thành nhiều bài thơ, bài văn thể hiện tâm trạng trắc ẩn với nhiệt huyết
cháy bỏng, thường trực của một tấm lòng yêu nước thương dân, muốn góp sức mình để
Trang 23đổi thay vận mệnh dân tộc, nhưng chưa làm được, nên sáng tác những năm cuối đời,
người đọc bắt gặp ở ông một tâm trạng u uất Trong bài Đăng Chiêm Thành cổ tháp ông
thổ lộ:
“Di tích như kim duy cổ tháp Thảo thụ tiêu điều thu táp táp Giang sơn y cựu khách đăng lâm Độc điếu tàn dương hoàn ẩm khấp”
Dịch:
“Tích xưa tháp cổ âm u Cây hoang, cỏ úa, gió thu phập phù Lên cao non nước vẫn là
Trào tuôn nước mắt riêng ta tháp này”
[24, tr 138]
Hồ Tá Bang (1875 – 1945), là một trong những sáng lập viên của Công ty Liên
Thành, Trường học Dục Thanh, tuy sáng tác không nhiều, nhưng thơ văn của ông thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ (trương tuyền trước khi mất, ông có làm câu đối để ghi trước mộ phần bày tỏ rõ khí phách):
“Sinh vi nô lệ sinh do tử
Tử hữu tinh thần tử nhược sinh”
(Sống làm nô lệ sống như chết Chết có tinh thần chết như sống)
(Hồ Tá Bang) Tìm hiểu văn học thời kỳ này chúng tôi thấy có một tác phẩm đáng lưu ý nữa là
tập thơ Đi kinh đô của Bùi Quang Gieo (1861 – 1913) ở đảo Phú Quý Tác phẩm gồm
1283 câu thơ lục bát, ghi lại sự kiện công sứ Pháp lệnh ra thăm đảo Phú Quý, nói là thăm dân nhưng nhằm mục đích là bắt thanh niên trai tráng vào Phan Thiết làm phu, lao động
Trang 24khổ sai, vô cùng gian khổ, hiểm nguy và không biết bao giờ mới được trở về Tình cảnh thật hết sức thương tâm:
“Thấy dân khốn khổ thì đau Như kim châm dạ như dao cắt lòng”
Bởi vì:
“Hú lô voi nặng lắm ai ơi Kéo cho tới tối mới thôi mà về” [15, tr 660]
Tạp chí Non nước số 136, tháng 3/2011 của Đà Nẵng có đăng bài Nhà thơ Đoàn
Tá và Phú Khê thi tập, tài liệu này được xem là một phát hiện mới về nhà thơ xứ Quảng
Ông Đoàn Tá (1884 – 1958) người Đại Lộc, Quảng Nam Người có thời gian làm việc tại toà Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ Lâm Đồng, Công sứ Bình Thuận Ông là người sùng đạo Phật, có công đóng góp vào việc xây dựng nhiều chùa lớn ở Bình Thuận như chùa Tỉnh hội, chùa Phan Rí Thành, chùa Long Hương, Ninh Sơn, chùa Linh Sơn (tức chùa Cú ở núi Tà Cú, huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận) Ông là một trong những người có công thành lập hội thơ “Liên thành thi xã” ở Phan Thiết có gắn bó với hội thơ
“Hương Bình thi xã” ở Huế Thơ văn của ông hiện được sưu tập trong tập Phú Khê thi
tập (gồm 2 tập, tập 1 gồm 304 bài sáng tác từ năm 1922 – 1949, tập 2 gồm 307 sáng tác
từ 1949 – 1952) Đây là những bài thơ viết về bản thân và gia đình, về tình yêu thương con người, về tình cảm lớn lao đối với đất nước qua những thời kỳ lịch sử thăng trầm của quê hương, đất nước
Riêng trường hợp Hàn Mặc Tử và Bích Khê thời gian gặp nhau ở Phan Thiết có
để lại dấu ấn trong sáng tác Cái chính của Hàn Mặc Tử đến Phan Thiết là đi theo tiếng gọi của nàng thơ, nhưng cũng từ cuộc tình này ông đã để lại những câu thơ tâm trạng
buồn hụt hẫng: “Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.” (Hai
giọt lệ) Đau khổ hơn khi “Ta đến nơi nường ấy vắng lâu rồi” (Phan Thiết! Phan Thiết!)
để cuối cùng hận cả một vùng quê: “Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết! / Mi là nơi ta chôn
hận nghìn thu/ Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư” (Phan Thiết! Phan Thiết!) Nhưng điều
đặc biệt chúng tôi muốn đề cập đến, theo nguồn tư liệu chúng tôi khảo sát, thấy rằng cuộc gặp gỡ với Hàn Mặc Tử đã tạo ra dấu mốc rất quan trọng trong sáng tác của Bích
Khê Quách Tấn viết trong Đời thơ Bích Khê: Khoảng đầu năm 1938, Khê gửi ra tặng
Trang 25Tử ba bài thơ mới: Thi tứ, Ảnh ấy và Thời gian Ba bài thơ ấy "tài và tình hòa hợp một
cách song toàn rung cảm người đọc đến da diết tê mê" Tử hết sức tán thưởng gởi vào khích lệ Khê phấn khởi, sáng tác rất nhiều Cuối năm góp thành tập gởi ra cho Hàn Mặc
Tử Tử chê "quá kém", gởi trả lại với những lời phê bình nặng nề Khê giận run người,
xé nát cả tập thơ Đoạn viết thư ra thề cùng Tử:
- Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa
Thế là cuối năm 1939, tập thơ Tinh huyết của Bích Khê ra đời, làm cho Hàn Mạc
Tử kinh ngạc, xem đó là "Một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm
đủ mùi phước lộc!", "một đóa hoa thần dị" (Lời tựa tập Tinh huyết) Tập Tinh huyết ra đời tạo dư luận náo động trong làng thơ (Thơ Bích Khê, Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa
Bình, 1988, tr 116, 117) Tính theo thời gian hành trình của Bích Khê, những năm 1938,
1939, ông viết tập Tinh huyết ở Phan Thiết
Như vậy, lực lượng sáng tác ở Bình Thuận trước 1945 chủ yếu là các văn thân, các chí sĩ yêu nước Hầu hết họ là người nơi khác đến để thực thi nhiệm vụ triều đình giao hoặc là những chí sĩ yêu nước tề tựu về đây, cùng chung chí hướng trên con đường
Nam du, tìm phương cách để thực thi cương lĩnh cho phong trào chấn hưng độc lập, chủ
quyền dân tộc Sáng tác của họ chủ yếu được viết bằng chữ Hán, một số ít sáng tác bằng chữ Nôm Nội dung chính thể hiện tình cảm yêu nước, yêu độc lập, chủ quyền dân tộc; ngợi ca khí phách anh hùng, bày tỏ lòng tự hào dân tộc, lòng nhiệt huyết cháy bỏng và những trăn trở lớn lao với vận mệnh dân tộc trước những biến động lịch sử Vào cuối giai đoạn này, xét những tác phẩm xuất hiện ở Bình Thuận, thể hiện sự thay đổi về thi pháp, chỉ có thơ của Bích Khê và Hàn Mặc Tử - như đã nêu, trong vòng mười năm, từ thơ Đường luật, Bích Khê đã bứt phá vượt lên địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
1.2.2 Xu hướng sáng tác giai đoạn 1945 – 1954
Trong suốt ba mươi năm, đời sống xã hội về mọi mặt ở Bình Thuận cũng nằm trong bối cảnh chung của dân tộc, một thời kỳ lịch sử không bình thường – thời kỳ lịch
sử chiến tranh Chiến tranh làm đảo lộn toàn bộ cuộc sống, mất mát, chia ly, đau thương, mâu thuẫn, dã man tàn bạo, chết chóc, đổ nát, hận thù; yêu thương, gắn kết, đùm bọc,
Trang 26giúp đỡ nương tựa vào nhau… Tất cả các nhà văn đều sống và hít thở cái không khí chiến tranh ấy để suy ngẫm, để cảm xúc, để tìm ra cái chân giá trị về lẽ sống, để nhìn thấy cái thiện và cái ác, văn minh và man rợ, để bộc lộ tiếng lòng qua sáng tác Tìm hiểu văn học Bình Thuận giai đoạn này, qua tác phẩm của họ, chúng tôi bắt gặp điều đó Suốt
ba mươi năm chiến tranh với những xung đột giữa sự sống và cái chết, từ trong khó khăn gian khổ song hành với những khát vọng tự do, hạnh phúc, mà ý thức về dân tộc được đặt lên hàng đầu… đã trở thành hiện thực sinh động, là chất liệu giúp các nhà văn nhà thơ làm nên những tác phẩm rất có giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ thuật
Một đặc điểm về sự phát triển văn học giai đoạn này mà chúng tôi rất chú trọng,
đó là căn cứ vào thực tế sinh hoạt của những tác giả ở hai địa hạt khác nhau: vùng kháng chiến và trong lòng đô thị, cũng như những tác phẩm của họ thấy có những xu hướng khác nhau Chính điều đó đã tạo nên diện mạo văn học Bình Thuận giai đoạn này
Từ đầu năm 1946, thực hiện “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, cùng với các địa phương khác trên cả nước, nhân dân Bình Thuận bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng ác liệt
Qua sưu tầm, chúng tôi nhận thấy lực lượng sáng tác văn học ở Bình Thuận thời
kỳ đầu, sau năm 1948 còn rất mỏng, đa số mang “tính chất quần chúng và tự phát” Năm
1949, Đại hội văn hóa kháng chiến miền Nam Trung Bộ tổ chức tại Bình Định, bầu ra Ban đại diện văn hóa Khu 5, trong đó có các chi hội văn nghệ liên khu Lúc này ở chiến trường Bình Thuận, có một số các nhà văn, nhà thơ nơi khác đến Bình Thuận như Tế Hanh, Tịnh Hà, Giang Nam… bàn việc xây dựng phong trào sáng tác văn nghệ phục vụ kháng chiến Sinh hoạt văn nghệ kháng chiến đầu tiên của Bình Thuận có thể ghi nhận
sự kiện là nghe nhà thơ Minh Quốc thông tin về hoạt động trại văn nghệ Liên khu 5 ở Bồng Sơn
Năm 1950, Chi hội văn nghệ Bình Thuận ra đời, hoạt động theo cương lĩnh: “Sau
5 năm kháng địch, đồng bào trong tỉnh đã hăm hở thưởng thức và bắt đầu sáng tác văn nghệ, giết giặc Phong trào văn nghệ quần chúng đương lên Văn nghệ sĩ phải kịp thời đứng ra hướng dẫn nhân dân và cùng nhân dân chiến đấu trên trận tuyến văn hóa các
văn nghệ sĩ cần tập hợp lại” [15, tr 666] Trên tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa” và
“văn hóa hóa kháng chiến”, phong trào sáng tác văn học nghệ thuật phục vụ kháng
Trang 27chiến, phục vụ cách mạng ở Bình Thuận tuy chưa thật mạnh mẽ, nhưng bước đầu đã tác động đến nhận thức trong nhân dân
Tế Hanh (1921 – 2009) sinh ra ở Quảng Ngãi, từ năm 1948, ông tham gia sinh
hoạt tại Chi hội văn nghệ Liên khu 5, là người có công đầu trong việc xây dựng Chi hội văn hóa kháng chiến tại Bình Thuận Viết về mảnh đất cực Nam Trung Bộ (trong đó có Bình Thuận) trong những ngày khói lửa, ông có những tập thơ xúc động về quê hương
đất nước, về con người kháng chiến như: Hoa mùa thi (1948), Nhân dân một lòng (1953), Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu
thương (1963) Nhiều bài thơ bộc lộ cách nhìn, cách nghĩ với cảm xúc chân tình về vùng
đất cực Nam của tổ quốc, như Người đàn bà Ninh Thuận, Đội vũ trang tuyên truyền
Lâm Đồng, Bà má Bình Thuận, Tình Bắc Nam, Nối liền Bắc Nam…
“Tang cha còn trắng trên đầu Đến chồng bị giết, mẹ rầu chết theo Đứa con dại leo đeo bên nách Chú em vào du kích bấy nay Ruộng hoang bỏ chẳng ai cày Xâu cao thuế nặng đọa đầy tấm thân…”
(Người đàn bà Ninh Thuận, Tế Hanh)
Nhà văn Tịnh Hà (em ruột nhà thơ Xuân Diệu), đã từng tham gia chiến đấu và
sáng tác phục vụ kháng chiến ở Bình Thuận, để lại những tác phẩm Đường về cực Nam
in chung với nhà thơ Tế Hanh, truyện dài Giành lúa (đăng ở tạp chí Chi hội văn nghệ
Liên khu 5) Hoạt động của Tịnh Hà với văn nghệ sĩ nơi đây được Tế Hanh chia sẻ:
“Đầu năm 1951, tôi cùng với Tịnh Hà đi thực tế ở Cực Nam Mục đích của chuyến đi này là tìm hiểu thực tế sáng tác và tổ chức lực lượng văn nghệ ở các tỉnh Khu 6 kỉ niệm sâu sắc trong chuyến đi Cực Nam của tôi là khi chúng tôi đến thăm Trung Đoàn 82 Cực Nam (…) nhà văn đối với người lính vô cùng thân thiết, gần gũi (…)
Đêm ấy, tôi đọc truyện ngắn Gặt lúa của Tịnh Hà còn Tịnh Hà đọc bài thơ Người đàn
bà Ninh Thuận của tôi, cả hai tiết mục được anh em vỗ tay tán thưởng nhiệt tình đó là
phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời sáng tác của tôi” [20, tr 140]
Trang 28Lâm Bình Phước, quê ở Bình Định, ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông
đến Bình Thuận tham gia chiến đấu Sáng tác không nhiều, nhưng thơ ông có những câu rất xúc động về tình yêu thương và lòng căm hận tội ác khi viết về sự kiện giặc Pháp giết hại, tàn sát nhân dân La Gàn (Tuy Phong) năm 1947, làm cho xóm làng trở nên tiêu điều, vắng lạnh và luôn nung nấu một nỗi lòng, một tinh thần đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước:
“Khách xa dừng lại bên đường vắng Nỗi đau không nói hết lòng thương Nhắn ai mài kiếm trong đêm lạnh Nhớ giữ giùm nhau một lưỡi gươm”
(Chiến sĩ, Lâm Bình Phước)
Phan Hạo, quê ở Quảng Nam, là một người lính tình nguyện vào chiến trường
cực Nam để chiến đấu, khi chia tay Bình Thuận (1948), ông có những dòng thơ gửi gắm nỗi lòng lưu luyến mến yêu với một vùng quê:
“Hôm nay gió lại làm tôi nhớ Bình Thuận miền Nam cách núi sông
Từ lúc tôi đi, non có lở,
Đá mòn, rừng có nhớ thương không?”
(Nhớ Bình Thuận, Phan Hạo)
Hiện thực cuộc sống của nhân dân với tinh thần chiến đấu, hy sinh của quân dân Bình Thuận thời kỳ đầu chống Pháp là đối tượng phản ánh và cảm xúc chủ yếu đối với người sáng tác Bên cạnh những nhà thơ, nhà văn đã trải nghiệm, có những người lần
đầu mới cầm bút sáng tác, như Trương Quang Mỹ viết Chiến thắng Lầu Ông Hoàng, Phạm Quang Pháp viết Chiến thắng Ngã hai, Trương Công Nghĩa viết về anh bộ đội
xung kích gửi cô dân quân gương mẫu vùng Tam Giác sau chiến thắng Ngã Hai, Hồ Phú
Diên (tức Đồng Sĩ Kỳ) với bút kí Trận phục kích Đá Ông Địa…
Đoàn Tá giai đoạn này tiếp tục sáng tác một số bài thơ thể hiện tấm lòng thương
dân, lo lắng về chủ quyền dân tộc như: Đưa con ra trận (1945), Trông cụ Hồ đi Pháp
Trang 29mau về (1946), Cảm hoài chiến sĩ (1946), Nghĩa đồng bào (1951), Vịnh đò ngang sông Long Hương (1952)
Sau năm 1946, các khu trung tâm thị xã, thị tứ, khu tập trung đông dân cư ở Bình Thuận như Phan Thiết, La Gi bị thực dân Pháp tái chiếm, hoạt động sáng tác văn học tại chỗ hầu như chưa có Nhưng một số tác giả quê hương Bình Thuận lại sinh hoạt sáng tác khá sôi nổi ở Sài Gòn, tác phẩm của họ đăng tải trên các báo, tạp chí, khẳng định tên tuổi trên diễn đàn văn học, được công chúng đón nhận như Vũ Anh Khanh, Nguyễn Ngu
Í
Vũ Anh Khanh (1926 – 1957), quê ở quận Hải Long - Mũi Né, nay là phường
Mũi Né thành phố Phan Thiết – Bình Thuận Cha ông là người miền Trung đến Bình Thuận lập nghiệp, có thời gian làm trợ giáo tại Trường tiểu học Khánh Thiện, người dân
ở đây thường gọi ông là trợ Đãi Các tài liệu tìm được hiện có chưa thấy ghi lại việc học hành và làm việc của Vũ Anh Khanh, chỉ xác định thời gian ông vào Sài Gòn sáng tác văn chương – viết văn và làm thơ, trong đó văn xuôi chiếm số lượng lớn Năm 21 tuổi
(1947), ông đã viết tiểu thuyết Cây ná trắc đăng trên Tiếng chuông Tác phẩm của ông
được phát hành rộng rãi và có ảnh hưởng sâu rộng đối với độc giả Về tiểu thuyết có
Nửa bồ xương khô (1949), Bạc xỉu lìn (1949), tập truyện có Sông máu (1949), Đầm Ô
Rô (1949), Bên kia sông (1949), Ngũ Tử Tư (1949) Về thơ có tập Chiến sĩ hành, và bài Tha La Sự nghiệp sáng tác của Vũ Anh Khanh có vị trí lớn trên văn đàn cả nước chứ
không riêng ở Bình Thuận Trong Văn chương tranh đấu miền Nam, Nguyễn Văn Sâm
nhận định tác phẩm Vũ Anh Khanh có ảnh hưởng nhiều đến công chúng, đặc biệt là người dân thành phố, đọc tác phẩm của Vũ Anh Khanh “ta thấy tinh thần yêu nước một cách nồng nhiệt, lên đường làm nhiệm vụ công dân là một lẽ dĩ nhiên” [30, tr 4] Trong
công trình Văn học thời kì 1945 – 1975 ở thành phố Hồ Chí Minh (Vũ Hạnh và Nguyễn
Ngọc Phan) nhận xét: “Vũ Anh Khanh là nhà văn hăng hái và nhiệt tình với cách mạng
và kháng chiến” [25, tr 64] Từ điển Văn học đã ghi nhận những đóng góp và vị trí sự
nghiệp văn học của ông một cách trân trọng: “Vũ Anh Khanh là một trong những nhà văn miền Nam xuất sắc Đối mặt với kẻ thù giữa lòng Sài Gòn Tác phẩm của ông nói
về những mất mát, đau thương, do quân ngoại xâm gây ra, có sức xúc động lớn đối với người đọc, đồng thời cũng dẫn người đọc đến một con đường tất yếu: vùng lên tự giải phóng Tinh thần dân tộc hầu như quyện chặt vào từng nhân vật trong tác phẩm Bên
Trang 30cạnh đấy, ông còn là một nhà thơ Chiến sĩ hành, ca ngợi những người yêu nước, đặc biệt âm hưởng hơi hiu hắt buồn; Tha La miêu tả một xóm vắng, miền rừng, già, trẻ, gái,
trai hàng hàng lớp lớp còn bận lên đường trả nợ núi sông” [46, tr 2017- 2018]
Nguyễn Ngu Í (1921 – 1979), quê làng Tam Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
Thân sinh ông là nhà nho yêu nước, mang tinh thần Đông Kinh Nghĩa Thục đến Bình Thuận “mở trường dạy học, đem cái hay cái mới thức tỉnh đám người làng, gieo hạt giống dân tộc dân chủ, tiêm tinh thần ái quốc, óc xã hội cho đám học trò lớn ở tổng Phong Điền” [19, tr 16] Nguyễn Ngu Í cũng là một tác giả khá đặc biệt cả về cuộc đời
và sự nghiệp sáng tác Năm 7 tuổi, Nguyễn Ngu Í vào Sài Gòn học tiểu học, sau đó học trung học tại trường Petrus Ký (1934 – 1938) Năm 1942, Nguyễn Ngu Í cộng tác với
Nam kỳ tuần báo của Hồ Biểu Chánh, sau đó viết cho Thanh Niên tuần báo, tham gia
Hội truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông là Tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban nhân dân Cách mạng xã Tam Tân, La Gi Cuối năm 1946, ông tham gia Ủy ban kháng chiến miền Nam đặt tại Quảng Ngãi Khi học trường sư phạm, Nguyễn Ngu Í bị bệnh tâm thần nên bỏ học, chuyển sang viết văn, viết báo Là một thanh niên mang tinh thần dân tộc, tư tưởng cấp tiến, nhưng trước tình cảnh nước mất nhà tan và
bổn phận công dân của mình, chưa xác định được hướng đi, ông tỏ ra lúng túng: “Đời
tôi rồi sẽ ra sao? Đò đưa không khách, ai rào đường đi” Nguyễn Ngu Í là tác giả cần
có những công trình nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá đấy đủ về sự nghiệp sáng tác của ông
1.2.3 Xu hướng sáng tác giai đoạn 1954 – 1975
Nếu giai đoạn 1945 – 1954 văn học Bình Thuận ở hai khu vực vùng kháng chiến
và vùng đô thị có đôi nét khác nhau cả về đội ngũ sáng tác và thể loại, phương thức biểu đạt nghệ thuật thì đến giai đoạn 1954 – 1975 những yếu tố đó có những bước chuyển biến mạnh mẽ và được hình thành rất rõ nét
Với văn học vùng kháng chiến, lực lượng sáng tác ở giai đoạn này phát triển nhiều hơn, mạnh hơn so với giai đoạn trước Họ là những cây bút ở địa phương qua chiến đấu đã trưởng thành, cùng với sự góp mặt của những nhà văn, nhà thơ đi tập kết, sau những năm 1960 về lại chiến trường xưa và những văn nghệ sĩ từ miền Bắc chi viện vào hỗ trợ cho chiến trường cực Nam Trung Bộ
Trang 31Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, biết bao xương máu của nhân dân và người lính
đã phải đổ xuống; hy sinh, mất mát, khổ đau về mọi mặt Trong cuộc đối đầu thù địch
dữ dội giữa hai chiến tuyến đó, với những nhà văn vừa cầm bút vừa cầm súng ở vùng kháng chiến, nhân vật trung tâm mà họ tập trung phản ánh là những con người mang lý tưởng cách mạng của thời đại, đứng về phía chính nghĩa của dân tộc chống phi nghĩa, với tinh thần vượt qua mọi khó khăn thử thách, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Đó cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo, là đối tượng chính trong sáng tác của những người cầm bút ở vùng kháng chiến lúc bấy giờ Người cầm bút cùng sống, chiến đấu, chứng kiến mọi diễn biến khốc liệt của cuộc chiến với bao đổ nát, đau thương trên quê hương này để viết và để lại những tác phẩm chứa chan tình cảm yêu thương với nhân dân kháng chiến, với đồng đội và ca ngợi thể hiện niềm tự hào về tinh thần bất khuất, dũng cảm của nhân dân, của chiến sĩ Những tác giả đã góp phần làm nên bộ mặt văn học kháng chiến Bình Thuận giai đoạn này như:
Giang Nam (sinh năm 1929), quê ở Khánh Hòa, địa bàn hoạt động văn học của
ông rất rộng Trong Nhà văn Việt Nam: chân dung tự hoạ ông tâm sự: “Sau hiệp định
Giơ-ne-vơ 1954, tôi được bố trí ở lại miền Nam bí mật hoạt động trong các thành phố, thị xã (Nha Trang, Phan Thiết, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Sài Gòn ) và vùng giải phóng của ta (Khánh Hoà, Khu 6 - Cực Nam Trung Bộ, miền Đông Nam Bộ, Long An, Bến Tre, Thành phố Sài Gòn Gia Định ” [61]
Các tác phẩm chính của ông trong thời kỳ này: Tháng Tám ngày mai (thơ, 1962),
Quê hương (thơ, 1965), Người anh hùng Đồng Tháp (thơ, 1969) Vầng sáng phía chân trời (thơ, 1975) Trong những tác phẩm này có nhiều bài thơ mà nguồn cảm hứng từ quê
hương, con người Bình Thuận, như Quê mẹ cực Nam, Bức thư miền Nam, Cả miền Nam
sẽ chuyển thư em… Đó là vấn đề nhận thức, là tinh thần đấu tranh, là những hoạt động
tuy âm thầm lặng lẽ nhưng đã khuấy động lên những cao trào đấu tranh mạnh mẽ trong lòng địch, làm cho phía đối phương dao động, lo sợ:
“Đã đứng lên rồi, bẻ xiềng nô lệ
Đã đứng lên rồi, súng vững trong tay Đêm Phan Thiết truyền đơn bay trắng phố
Tề, điệp như đèn trước gió lung lay”
Trang 32(Quê mẹ cực Nam – Giang Nam)
Nam Hà (sinh năm 1935), quê ở Nghệ An, là người lính được tăng cường vào
Nam những năm đầu 1960 và trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Bình Thuận Những sáng tác của ông nơi đây đã nhanh chóng hòa vào dòng chảy của văn học cả nước Ông
nói về hoàn cảnh sáng tác bài thơ Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam
ơi! : sau trận đánh đồn Bắc Bình thắng lợi, đơn vị ông rút về Rừng Lá (Tánh Linh – cách
Bắc Bình trên 130 cây số), ông đã hoàn thành bài thơ trong hào khí thắng trận đó Bài thơ đã nhanh chóng đi vào lòng bạn đọc trên toàn quốc Tác phẩm của ông giai đoạn
này có: Chuyện một người cha (truyện ngắn, 1960), Gió vịnh Cam Ranh (tập truyện ngắn, 1969), Trên chốt thép (ký, 1974), Chúng con chiến đấu (thơ, 1985)
Sau năm 1975, Nam Hà tiếp tục lấy cảm hứng từ thời gian và không gian về cuộc chiến tranh đã đi qua trong quá khứ trên quê hương Bình Thuận, tiếp tục sáng tác các
tác phẩm như Trở lại Bác Ái (truyện, ký, 1976), Khi Tổ quốc gọi lên đường (thơ, 1976),
Mùa rẫy (truyện vừa, 1978), Mặt trận Đông Bắc Sài Gòn (ký sự, 1978), Đất miền Đông
(tiểu thuyết, 1984), Mùa xuân (tập truyện ngắn, 1985), Đường về Sài gòn (tiểu thuyết, 1990), Lửa xuân (tiểu thuyết, 1993), Trong vùng tam giác sắt (tiểu thuyết, 1995), Dưới
những cánh rừng ô rô (tiểu thuyết, 1995) Tuy tác phẩm viết ở thời gian sau 1975 nhưng
hiện thực diễn ra trong các tác phẩm là những hồi ức được tái tạo một cách chắt lọc, thể hiện sự nghiền ngẫm từ hiện thực đầy ác liệt, hiểm nguy và sôi động của chiến trường trong những năm tháng chống Mỹ Với những tác phẩm này, có thể nói, Nam Hà thật
sự là người ghi lại một cách thành công và thuyết phục “biên bản chiến tranh” của thời
chống Mỹ trên quê hương Bình Thuận Hai tiểu thuyết Đất miền Đông và Trong vùng
Tam giác sắt của ông được trao Giải thưởng Nhà nước năm 2007 Trong đó, tiểu thuyết Trong vùng tam giác sắt là tác phẩm viết về chiến khu Lê Hồng Phong, địa danh nổi
tiếng về tinh thần bất khuất của quân dân Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ
Phan Minh Đạo (1930 – 2006), quê ở Quảng Ngãi, năm 1961, ông được Tổng
Công đoàn Việt Nam phân công đi B, chiến đấu và tham gia công tác tuyên huấn ở chiến trường Bình Thuận Ông sáng tác không nhiều, nhưng tác phẩm của ông đã động viên,
cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước, hăng hái chống giặc, giữ vững niềm tin yêu vào lý tưởng và tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến chống xâm lược Những tác phẩm
của ông: Ý thơ (thơ, 1948); sau 1975, ông vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về cuộc sống và
Trang 33con người kháng chiến: Khu 6 yêu thương (thơ, 1980), Tiếng tơ lòng (Thơ, 2001); một
số bài ký: Trở về buôn rẫy, Tấm ảnh và ống muối cụ Hồ, Xưởng dệt Bình Thuận, Đường
tháng Tám, Những cánh hoa ấp Bắc, Khu Lê anh hùng, Khu Lê bất khuất, Tình quê chiến đấu, Nhớ tam giác
Nguyên Nam (1932 – 2008), tên thật là Nguyễn Tiến Hải, quê ở Bình Định, năm
16 tuổi đã vào bộ đội, chiến đấu ở Liên khu 5 cho đến ngày tập kết ra Bắc (1954) Năm
1962, ông về lại miền Nam, chiến đấu ở chiến trường Khu 6, viết truyện và ký Một trong
những truyện ngắn của ông được chú ý nhất trong thời kỳ này là Du kích vùng ven (được
tặng giải thưởng cuộc thi báo Văn nghệ Giải phóng, 1963)
Hồ Phú Diên (1927 – 1984), tên khai sinh Đồng Sỹ Kỳ, quê Thừa Thiên – Huế,
tham gia chiến đấu ở Bình Thuận, rồi tập kết ra Bắc Năm 1962, ông trở về Khu 6, hoạt
động văn nghệ, viết truyện, ký, làm thơ Truyện ngắn Tổ chim ròng rọc (1968) nói về
tinh thần chiến đấu của du kích và cán bộ, bộ đội địa phương ở vùng quê miền núi của ông được chú ý nhiều nhất thời ấy
Văn học vùng kháng chiến thời chống Mỹ tuy có được những thành quả nhất định
và khá rõ nét hơn về diện mạo văn học so với thời kỳ chống Pháp, nhưng về số lượng tác giả, tác phẩm chưa thật sự phong phú
Văn học vùng đô thị giai đoạn 1954 – 1975 tiếp tục phát triển mạnh hơn giai đoạn trước về nhiều mặt Đối tượng cảm hứng, phản ánh, phân tích, miêu tả của những người cầm bút ở đô thị đa chiều, phong phú, phức tạp, nhưng vấn đề tập trung vẫn là hình ảnh dân tộc với cuộc chiến tranh chịu nhiều đau thương, bất hạnh Đội ngũ sáng tác cũng phát triển nhiều hơn trước
Có tác giả khẳng định tên tuổi trên văn đàn giai đoạn 1945 – 1954 nay tiếp tục sáng tác như Nguyễn Ngu Í Ông là cây bút có sung lực và được đánh giá rất cao trong
thời kỳ này ở đô thị miền Nam Từ 1957, ông là người cộng tác đắc lực cho Tạp chí
Bách Khoa, phụ trách nhiều chuyên mục như viết về các nhân vật lịch sử, về tiếng địa
phương, phỏng vấn các văn nghệ sĩ Ông còn cộng tác với các báo và tạp chí khác như
Mai, Sáng dội miền Nam, Nghệ thuật…Tác phẩm của ông gồm: Lịch sử Việt Nam
(1956), Khi người chết có mặt (1962), Sống và viết (1966, là loạt bài phỏng vấn 12 văn nghệ sĩ đăng trên tạp chí Bách Khoa để lại nhiều ấn tượng với người đọc), Hồ Thơm –
Trang 34Nguyễn Huệ – Quang Trung (Bách Khoa số: 28, 30, 34, 39 (1958), 51 (1959), Lê Lợi hình ảnh dân tộc Việt, Sử gia Tàu đối với bà Triệu (Bách Khoa số 2/1957), Trần Hưng Đạo, một Người và một anh hùng dân tộc (Bách Khoa số 18/1957), Quê hương (tập thơ,
1967), Thơ điên (tập thơ, 1970), Hạnh phúc nơi chính bạn (tiểu luận, 1970), Suối bùn
reo hay 15 chuyện phụ nữ (phiếm luận, 1970) Một loạt bài viết với nhan đề Tiếng địa phương thể hiện tình yêu tiếng Việt, qua cách tìm hiểu giá trị của việc hiểu đúng, dùng
đúng ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Ngu Í là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà báo, nhà khảo cứu lịch sử, dù ở cương vị nào người ta vẫn thấy ở ông: “một mực thiết tha với lòng nhiệt thành vì đất nước, vì dân tộc, thể hiện bằng nhiều trạng thái: khi tỉnh táo hy vọng, khi lo âu, khắc khoải, khi đau đớn chua xót, khi buồn bã chán chê, khi phẩn hận liều lĩnh, khi tức tưởi chịu đựng gần như thúc thủ quy hàng vì sự bất lực của mình” [19,
tr 94]
Những cây bút mới xuất hiện ở vùng đô thị đã gây được nhiều sự chú ý đối với độc giả như Hoài Khanh, Yên Hy Ba, Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Như Mây, Lê Nguyên Ngữ
Hoài Khanh (1933 – 2016), tên thật là Võ Văn Quế, quê ở Phan Thiết, Bình
Thuận Từ năm 1954 ông vào Sài Gòn viết văn, làm báo, cộng tác với nhiều tạp chí ở
Sài Gòn như tập san Giữ thơm quê mẹ, chủ trương và điều hành nhà xuất bản Ca dao Tác phẩm của ông gồm Thân phận (thơ, 1962), Lục bát (thơ, 1968), Gió bấc trẻ nhỏ hoa
hồng và dế (thơ, 1970), Trí nhớ hoang vu và khói (tập truyện, 1970) Ngoài ra ông còn
là một dịch giả, đã dịch nhiều tác phẩm: Tuổi trẻ băn khoăn (tiểu thuyết của Hermann Hesse, 1968), Hành trình sang Đông Phương (bút ký, 1967), Đâu mái nhà xưa (tiểu thuyết của Hermann Hesse, 1973), Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống (Jiddu Krishnamurti, 1969), Mozart cuộc đời và nghệ thuật (Percy M Young, 1972), Nghệ thuật truyền thống
và chân lý (Walter Kaufmann, 1967), Beethoven một phiến tài tình thiên cổ lụy (J W
Sullivan, 1972), Tchaikovsky cuộc đời và nghệ thuật (Percy M.Young, 1972)
Đặt trong bối cảnh lịch sử đau thương của dân tộc, tác phẩm của Hoài Khanh như dòng phù sa mang đậm nỗi niềm nhân thế Nỗi niềm ấy cất lên từ một tâm hồn gắn chặt với quê hương, nhiều khi mang cảm xúc thiền định sâu lắng của kiếp người đau khổ
Yên Hy Ba (1934 – 1969), tên thật là Lê Duy Hiến, quê ở xã Chí Công, huyện
Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Ông tham gia hoạt động cách mạng từ lúc nhỏ (15 tuổi),
Trang 35đã đối diện với những thử thách gian khổ, bị giặc bắt bốn lần, trong đó có ba lần ngồi tù tại các nhà lao ở Phan Thiết và Sài Gòn Vào tháng 3/1969, trên đường ra Bắc để chữa bệnh, Yên Hy Ba bị phục kích, hy sinh tại ngã ba biên giới Việt – Lào Thời gian sáng tác của Yên Hy Ba chủ yếu từ cuối những năm 1950 đến 1969, với nhiều bút danh như Yên Hy Ba, Hà Thủy Hồng, Nguyễn Lê, Lê Văn Hiến Tác phẩm của ông được biết
nhiều ở thể loại truyện ngắn và thơ, đăng trên các báo, tập san ở Sài Gòn như: Nhân
Loại, Tạp chí Bách Khoa, Bông lúa, Ngày mới, Nhân quyền, Giữ thơm quê mẹ, Tiểu thuyết tuần san, Văn nghệ tuần báo…Ngoài những tác phẩm của Yên Hy Ba được đăng
ở các tạp chí, báo, tập san văn nghệ ở Sài Gòn, còn tìm thấy một số tác phẩm được viết trong thời gian bị cầm tù in ở các tập nội san trại giam Bình Thuận Những truyện ngắn
tiêu biểu của ông đã đăng tải trên báo chí như: Những dòng lệ Ba Lê, Người trai miền
nương xanh, Tiếng hát trên đường vũ bão, Nắng lên, Những vồng khoai xanh, Tiếng trúc trên đồi, Tòng quân chinh, Nước bấc về gành, Trăng trên sông, Vỡ tổ, Lá bay về cội, Thương để trong tim, Đi vào bão biển, Dấu nước mắt trên gối, Người chết chưa chôn, Màu xanh của tim anh dù mất, Cháy đỏ đêm dài, Tình chim câu trắng, Sông sâu, Những con én vàng, Bên bờ biển cả Nhận xét về vị trí của Yên Hy Ba trong văn học
Bình Thuận giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Địa chí Bình Thuận viết: “Đặc biệt trong
giai đoạn này, xuất hiện một cây bút tài năng Lê Duy Hiến, anh đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm văn thơ với nội dung phong phú và đa dạng” [15, tr 668]
Truyện ngắn của Yên Hy Ba, đề tài phản ánh tương đối rộng, mở ra một thế giới hiện thực khá phong phú, mỗi trang viết đều để lại những giá trị tư tưởng nhân đạo Người đọc có thể tìm thấy ở đó một tấm lòng, một tiếng nói ngợi ca khát vọng sống, tình yêu thương, có thể tìm thấy cái hạnh phúc lớn lao được sống dấn thân, cống hiến, chọn đúng con đường để sống sao có ý nghĩa ở cuộc đời này Đó là những điều mà tưởng như phải trải qua một quá trình trải nghiệm, hay phải qua nhiều biến cố lớn lao của cuộc đời mới có được Chính điều đó đã cho ta thấy được những gửi gắm sâu xa ở những trang viết của tác giả
Yên Hy Ba sống trong lòng đô thị miền Nam, vừa hoạt động cách mạng, vừa sáng tác Ông từng bị bắt giam, chịu tra tấn trong các nhà tù, nên đã chứng kiến và cảm nhận sâu sắc được ý nghĩa của lẽ sống khi đất nước mất chủ quyền, con người mất tự do bằng chính trải nghiệm của mình Vấn đề ông đặt ra là chủ quyền dân tộc, là giá trị và
Trang 36lẽ sống của con người – của nhân loại, nên cảm hứng qua ngòi bút của ông là những tình cảm lớn lao về tình yêu quê hương, đất nước, yêu tự do, chính nghĩa, yêu thương thân phận con người và tinh thần hòa giải các dân tộc… Đọc những trang viết của Yên Hy
Ba về đề tài chiến tranh, chúng ta thấy được triết lý nhân sinh, mang tính nhân văn sâu sắc, cao đẹp
Huỳnh Hữu Võ (sinh năm 1944), quê ở Tuy Phong, Bình Thuận, là nhà thơ có
đặc điểm khá đặc biệt về mối giao duyên giữa thơ ông với nhạc Giai đoạn 1954 – 1975, ông làm y tá trong quân đội Sài Gòn, làm thơ với các bút danh Thanh Vũ, Thy Vũ Hà Như, Hoa Đất Nắng Những bài thơ của ông từ 1960 – 1974 chỉ in trên các báo, tạp chí
ở Sài Gòn, chưa in thành sách Sau này ông sưu tầm lại in thành tập Hòa bình ơi! Hãy
đến Nội dung thơ của ông trước 1975 mang tinh thần phản chiến, chống lại chiến tranh
Trong thơ, ông miêu tả rất xúc động tình cảnh đau thương, chết chóc và biệt ly của con người do chiến tranh gây ra; tình cảnh Bắc Nam phân chia, tiếng thơ khát vọng hòa bình hóa thành tiếng kêu thương tha thiết:
“Những trái sáng thắp thành chùm sao nhỏ
Trời thu buồn đêm thành phố đưa tang Dòng Bến Hải phân chia tình Nam Bắc Núm ruột rà ai cắt làm đôi
Bom vẫn nổ máu hòa chan đất mẹ Màu tang thương che kín cả vùng trời”
(Đi trên nỗi buồn, Huỳnh Hữu Võ)
Tâm trạng xót đau đó của Huỳnh Hữu Võ còn bộc lộ, gửi gắm ở rất nhiều bài thơ
trong tập Hòa bình ơi! Hãy đến Trong đó bài Đi vào quê hương với những lời thơ mang nỗi đau sám hối của người lính Việt Nam Cộng hòa: “Tôi vào quê hương bằng xe
Traction/ Chiếc xe chở đầy chất nổ ngàn cân/ Tôi đặt nó lên xương sườn của mẹ/ Mẹ Việt Nam ơi thân mẹ tan tành” – bài thơ này Phạm Duy đã phổ nhạc, Khánh Ly, Diễm
Chi hát trước 1975
Nói thơ Huỳnh Hữu Võ có duyên với nhạc, bởi cho đến nay số lượng thơ của ông
đã có hơn 70 bài được phổ đến 180 ca khúc (có bài 10 nhạc sĩ phổ) với những tên tuổi
Trang 37nhạc sĩ như Phạm Duy, Nguyễn Văn Tý, Hà Ngọc Yến, Mai Văn Hiên, Mặc Tuân, Mai Văn Thưởng, Trần Quế Sơn, Đào Nguyên, Lê Thái Vũ ở hải ngoại có Tuấn Hiền, Lâm Đình Thuận (theo tài liệu lưu giữ của Huỳnh Hữu Võ)
Trên dòng thơ phản chiến ở Bình Thuận giai đoạn này nổi lên gương mặt đặc sắc nhất: thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn (1944 – 2015) Ông sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết Cha là cán bộ cách mạng, tập kết ra Bắc, ông ở lại miền Nam, đi lính Việt Nam Cộng hòa Ông bước vào cuộc chiến với cái nhìn, cách nghĩ, một cảm quan khác biệt về thời cuộc Tập
thơ Chiến tranh Việt Nam và tôi (Nxb Đồng Dao, Sài Gòn, 1972) ra đời, chỉ với 26 bài
thơ, nhưng đã gây một tiếng vang rất lớn trong lòng người đọc với giọng điệu khác lạ,
ngang tàng của người thanh niên yêu nước Tập thơ Chiến tranh Việt Nam và tôi là
“tiếng hát lồng lộng bi tráng của một người tham dự chiến tranh Việt Nam, một thiền sư bụi đời, một gã du đãng trầm mặc Những bài thơ xa như tiền chiến, xưa như Đường thi, nhưng kỳ lạ thay, mới tinh và gần gũi như sáng nay” [58] Hai mươi năm sau khi chiến
tranh kết thúc, ông cho in tập thơ Ở đời như một nhà thơ Đông phương (1995) với cảm
quan về cuộc đời, về sự sống mang màu sắc triết học, nhiều yếu tố thiền
Đỗ Hồng Ngọc, bác sĩ, nhà thơ, sinh năm 1940, quê ở La Gi Bình Thuận, hiện
sinh sống tại Sài Gòn Trước 1975, ông cộng tác với nhiều báo, tập san, tạp chí như:
Bách khoa, Mai, Văn, Ý thức, Tuổi Ngọc, Mây Hồng… Ông có một số tập thơ viết về
quê hương Bình Thuận như Tình người (1967), Thơ Đỗ Nghê (1973) Một vài trong những bài thơ để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc là Mũi Né (1970), Trên sông
khói sóng (1971)
Nguyễn Như Mây, sinh năm 1949, quê ở Phan Thiết, Bình Thuận Tham gia
phong trào sinh viên học sinh từ 1969 trong Đoàn văn nghệ sinh viên học sinh tại Sài
Gòn Tác phẩm của ông đăng trên các báo, tạp chí như: Điện tín, Trình bày, Đối diện, Ý
thức, Sinh viên Thơ của ông bộc lộ một nỗi lòng đối với đất nước và nói lên tinh thần
đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc:
“Hôm nay căm giận trong tù Ngày mai ta gửi bóng cờ về quê Đồng bào ơi, một câu thề Gắng lên từng bước tiến về quang vinh…
Trang 38Hôm nay lửa cháy Sài Gòn Muôn cờ nhuộm máu gọi hồn Thanh Niên Đứng lên, anh mở xích xiềng!
Đứng lên, chị đạp bạo quyền dưới chân!”
(Lửa cháy thành Sài Gòn – Tạp chí Sinh viên, Xuân 1972)
Lê Nguyên Ngữ, sinh năm 1950, quê ở Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trước
năm 1975, ông làm lính thông dịch của chế độ Việt Nam Cộng hòa, chỉ làm thơ, nhưng
không nhiều, đăng trên các báo, tạp chí ở Sài Gòn, như: Khởi hành, Văn, Bách khoa,
Tiền phong, Nghiên cứu văn học, Phổ thông Thơ ông trong giai đoạn này thường man
mác một nỗi buồn chưa tìm ra lối thoát: “Ta không là mùa thu/ Sao lòng đầy lá chết” (Xế đời đao thủ phủ, 1971) Có khi ông ngẫm về thân phận người lính của chính bản
thân mình:
“Đường có đưa về dãy núi xa
Mà sao đoàn lính âm thầm quá Bóng lẫn mù mưa tựa bóng ma”
(Chiều đơn sơ – Nguyệt san Tiền phong, 10/1973)
Sau năm 1975, ông mới thực sự tập trung vào sáng tác để khẳng định ngòi bút của mình bằng thể loại truyện ngắn
Ngoài những tác giả nêu trên, chúng tôi còn tìm thấy một số tác giả cùng thời với Nguyễn Ngu Í, có thơ văn đăng các báo, tập san, tạp chí ở Sài Gòn, nhưng chưa được sự chú ý rộng rãi của người đọc, như Song Mộc Thị, Bạch Phụng, Đơn Thanh, Như Ba, Lê Thanh Thái Riêng Trần Yên Thảo, tác giả trẻ hơn, sinh năm 1940 tại
Hàm Tân, Bình Thuận, có các tác phẩm: Mắc cạn (Tập truyện, 1970), Hát từ thơ Trần
Yên Thảo (Thơ – Trần Văn Bùi, Viết Chung, Nguyễn Tùng soạn thành ca khúc – Nhà
xuất bản Hành Động – Sài Gòn, 1971)
Như vậy, đội ngũ sáng tác văn học ở Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975 có 3 thành phần: Trước hết, là những nhà văn, nhà thơ từ nơi khác đến, đa phần họ là những
Trang 39chiến sĩ cách mạng được điều động từ miền Bắc, miền Trung vào chiến trường Bình Thuận tham gia kháng chiến như Tế Hanh, Tịnh Hà, Giang Nam, Phan Minh Đạo, Nam
Hà, Nguyên Nam, Hồ Phú Diên Có thể gọi cách khác đó là lớp nhà văn – chiến sĩ, có người giữ chức vụ chính trị viên, có người trực tiếp cầm súng, chiến đấu bảo vệ tổ quốc Sáng tác của họ ghi lại những tình cảm yêu nước, căm thù giặc, tinh thần đấu tranh cách mạng, về vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh Thứ hai, tác giả người địa phương, vừa tham gia hoạt động cách mạng vừa sáng tác (tác phẩm đăng tải trên các báo, tạp chí ở Sài Gòn) như Yên Hy Ba Họ là những cây bút đã làm nên diện mạo văn học kháng chiến Bình Thuận Thứ ba, là những tác giả không tham gia cách mạng, sống
và sáng tác ở các đô thị, có nhiều tác phẩm nói lên tình cảnh quê hương đau thương, kêu gọi đứng lên chiến đấu bảo vệ đất nước, hay thân phận con người, như Vũ Anh Khanh, Nguyễn Ngu Í, Hoài Khanh, Nguyễn Bắc Sơn, Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Như Mây, Lê Nguyên Ngữ
Tiểu kết
Văn học Bình Thuận giai đoạn 1945 – 1975 diễn ra trọn vẹn trong 30 năm, từ chiến tranh chống Pháp đến chiến tranh chống Mỹ Văn học hình thành và phát triển
trên cơ sở tiếp nối truyền thống anh hùng ở vùng đất vốn là nơi là tị địa của các văn
nhân, chí sĩ yêu nước, những nhà cách mạng Vùng đất này cũng là nơi chiến trường ác liệt nhất là cuối những năm kháng Pháp và suốt thời kỳ chống Mỹ
Lực lượng sáng tác bao gồm những tác giả sống và viết trong lòng đô thị, những người lính cầm bút, những nhà văn, nhà thơ, những người làm công tác văn nghệ trên đường Nam tiến, chi viện cho chiến trường miền Nam đến với Bình Thuận Điểm gặp
gỡ của các tác giả là tình yêu đất nước, con người nơi đây; yêu mến và trân trọng lịch
sử đấu tranh, niềm cảm thông ngưỡng mộ vẻ đẹp tâm hồn, sự giản dị trong cuộc sống đời thường; anh hùng và bất khuất trong đấu tranh của người Bình Thuận Đó cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo của giai đoạn văn học này
Từ cơ sở tài liệu được sưu tầm, nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm văn học giai đoạn này, có 3 đề tài trung tâm được các nhà văn – nhà thơ tập trung phản ánh, miêu tả,
phân tích là: quê hương, chiến tranh và số phận con người Những nội dung từ các đề
tài đó được chuyển tải qua các thể loại có số lượng chiếm ưu thế là thơ, truyện và ký (trong đó truyện ngắn và ký có số lượng nhiều hơn truyện dài và tiểu thuyết) Những tác
Trang 40phẩm gây được ấn tượng có sức bền thời gian lan tỏa đến với người đọc trong giai đoạn này gắn liền với một số tác giả có tên tuổi trên văn đàn như Vũ Anh Khanh, Tế Hanh, Nguyễn Ngu Í, Hoài Khanh, Yên Hy Ba, Nam Hà, Nguyễn Bắc Sơn