CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ ĐỀ THẾ SỰ
1.2. Cơ sở lịch sử - văn hóa – xã hội hình thành chủ đề thế sự trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.2.2. Chủ đề thế sự trong văn học giai đoạn từ thế kỷ X – thế kỷ XV
Văn học thế sự chưa đồng hành cùng lịch sử văn học dân tộc ngay từ những chặng đường đầu như chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo nhưng càng về sau càng về sau nó càng phát huy vai trò của mình trong tiến trình văn học và đạt được những thành tựu rực rỡ, tạo tiền đề phát triển để góp phần hình thành những khuynh hướng văn học sau này đó là văn học hiện thực, văn học hiện thực phê phán.
Đến khoảng thế kỷ XIV, nhà nước phong kiến cực thịnh với những bài ca hào sảng đã ngày càng đi xuống dốc của sự sa đọa, hưởng lạc. Trước cảnh tượng đổ nát, suy vi của triều Trần, tiếng than bất bình về thời thế đã trở thành âm điệu chủ đạo trong không ít tác giả. Đó là những bài thơ thiền, bài kệ của các nhà sư, những vần thơ của các nho sĩ, trí thức đương thời đã phần nào có nội dung cảm khái thời thế hoặc mô tả hiện thực đương thời gắn với tên tuổi của Trần Nguyên Đán, Trần Quang Thiều, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung, Hồ Tông Thốc,…
Bởi xã hội cuối Trần, triều đại mục ruỗng, suy vi. Các nhà trí thức tâm huyết tiến bộ đã lên án thói vô đạo của bọn quý tộc chủ trương cầm bút ghi chép lại sự thực. Cho đến khi nhà Hồ lên nắm quyền lãnh đạo đất nước thay nhà Trần thì đã mắc phải nhiều sai lầm dẫn đến đất nước rơi bị giặc minh xâm lược, trước hiện thực đó đã xuất hiện những bài thơ thế sự của Lý Tử Cấu, Nguyễn Thời Trung,.. Đây chính là điều kiện cho sự ra đời của những dòng thơ thế sự. Tiêu biểu trong giai đoạn này là những sáng tác của Nguyễn Trãi, ông viết nhiều về thế sự, nhiều chủ đề thế sự đã được đề cập đến trong thơ văn Nguyễn Trãi. Là một vị quan nặng lòng với dân với nước đứng trước thực trạng đương thời ông không thể làm gì để thay đổi được cục diện đó bất lực với thời cuộc nên ông chỉ có thể gửi gắm tâm sự, nỗi lòng của mình vào những vần thơ thế sự.
Đứng trước cảnh hiện thực nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly lũng đoạn triều đình, phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra chống lại triều đình nhà Trần, thời thế thay đổi chính sự rối ren, nhân dân lao động phải chịu nhiều cực khổ bởi thiên tai, bởi sự đàn áp bóc lột của quan lại đương thời. Trần Nguyên Đán một vị quan hưởng bổng lộc của triều đình hết lòng với dân với nước nhưng ông cũng đành bất lực vì không thể làm được gì để thay đổi thời cuộc nên ông chỉ biết gửi gắm tâm sự, trăn trở của mình vào những vần thơ:
Niên lai hạ hạn hựu thu lâm,
Hòa cảo niêu hương lại chuyển thâm.
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ, Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
(Năm nay mùa hè bị hạn, mùa thu lại bị lụt, Lúa khô mạ thối, tai hại càng nhiều.
Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng, Bạc đầu luống phụ lòng thương dân.)
(Nhâm Dần niên lục nguyệt tác)
Trần Nguyên Đán thấy hổ thẹn với chức trách một vị quan mà không thể giúp cho người dân đang phải hứng chịu cảnh thiên tai lụt lội mất mùa.
Ông tự thấy mình là kẻ vô dụng, đọc sách thánh hiền, làm phụ mẫu của dân mà lại phụ lòng người dân. Đây có thể coi là những vần thơ hiếm gặp trong giai đoạn đương thời bởi những bậc làm quan ít ai dám ghi chép lại hiện thực cuộc sống đang diễn ra.
Là một con người có tấm lòng ưu thời mẫn thế, luôn đau đáu nỗi niềm lo cho dân cho nước có lúc Trần Nguyên Đán còn nghĩ rằng khỏe mạnh mà không giúp được việc nước thì thà mang bệnh còn thấy đỡ day dứt hơn:
Mục tiền tận thị quan tâm sự, Bệnh dũ bất nhu do bệnh thì.
(Trước mắt toàn là những việc phải quan tâm Bệnh khỏi không bằng khi còn bệnh.)
(Bất mị)
Thơ Trần Nguyên Đán là tiếng lòng của một người yêu nước thương dân. Ông thông cảm với nỗi khổ của dân đau cùng với nỗi đau của dân và cảm thấy bất lực xót xa khi mình không thể giúp người dân thoát khỏi cảnh ngộ đó. Qua những vần thơ đó chúng ta thấy được một con người đầy trách nhiệm với đời dù khi làm quan hay khi ở ẩn vẫn luôn khắc khoải nỗi nềm lo đời nhưng không có cứu được đời.
Bạch nhật thăng thiên dị, Trí quân Nghiêu Thuấn nan.
Trần ai lục thập tải, Hồi thủ quý hoàng quan.
(Ban ngày bay lên trời còn dễ,
Giúp vua để vua được như Nghiêu, Thuấn mới khó.
Sáu mươi năm sống trong cõi trần,
Nghoảnh lại luống thẹn với người đội mũ vàng.) (Đề Huyền Thiên quán)
Cũng có tâm sự như Trần Nguyên Đán muốn đem tài năng để giúp dân, giúp nước nhưng lại không được trọng dụng nên trong những vần thơ của Nguyễn Phi Khanh vẫn luôn mang nặng nỗi niềm cảm thán thời thế. Sống trong giai đoạn triều Trần đã bước vào thế suy vong, Nguyễn Phi Khanh là người chứng kiến một thời cuộc điên đảo, rối ren, nhiều éo le oan trái nên thơ ông là những vần thơ “tâm sự”, thế sự muốn được cứu đời, cứu dân nhưng lại khó thực hiện được:
Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh, Trữ sầu khi ngọa sổ tàn canh.
(Bao chuyện đều trái với ý người, đêm dài thêm mãi, Chất chứa mối sầu nằm trằn trọc đến canh tàn!)
(Thu trung bệnh)
Tư thế và tâm trạng của Phi Khanh trước thế sự cuộc đời:
Ngưng trữ bách niên thành nhất khái, Hoàng hôn tiểu lập tự nga thi.
(Đứng lặng suy nghĩ, cảm khái việc trăm năm,
Hoàng hôn rồi, đứng lại chốc lát một mình ngâm thơ.) (Bạc Nguyễn gia lăng)
Bên cạnh những vần thơ giãi bày nỗi buồn tâm thế, Nguyễn Phi Khanh còn dành nhiều vần thơ viết về người dân lao động:
Ruộng nương nghìn dặm đỏ như lửa cháy,
Đồng quê than vãn không biết trông cậy vào đâu.
Núi sông của thần đất khô nứt nẻ, Mưa móc của trời còn xa lắc
Lưỡi tham quan lại vơ vét cạn kiệt…
(Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng công )
Những dòng thơ trên đã cho thấy được hiện thực cuộc sống của nhân dân thật đáng xót thương, hình ảnh những cánh đồng lúa hạn hán có sức tố cáo mạnh mẽ. Những người là cha mẹ của dân không cùng đồng lòng giúp đỡ những người dân gặp hoạn nạn mà lại còn ra sức vơ vét, bóc lột của dân để mưu lợi cho bản thân mình, thơ thế sự của Nguyễn Phi Khanh có sức phê phán, tố cáo hết sức mãnh liệt.
Với những vần thơ khi thì giãi bày tâm trạng, khi thì miêu tả thời cuộc, nhân tình thế thái hay chỉ là những cảm hứng, tâm sự đã cho chúng ta thấy được Nguyễn Phi Khanh là một con người có tài năng, có nhân cách nhưng lại sinh bất phùng thời cho nên đành dùng văn chương để thể hiện hoài bão, nhân cách, tâm hồn mình.
Ở giai đoạn thế kỷ XV, một trong những nhà thơ có đóng góp lớn lao cho sự nghiệp văn học dân tộc mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Nguyễn Trãi. Dù sáng tác của Nguyễn Trãi chỉ là những vần thơ thế sự viết về cuộc sống thường ngày hay những vần thơ cảm hứng, tức sự, tự thuật để bày tỏ cảm xúc, tâm trạng, tỏ chí cũng đã góp phần tạo nên những vần thơ viết về chủ đề thế sự.
Nguyễn Trãi tuy đã lui về ở ẩn nhưng trong ông luôn vương vấn một tình yêu bao la đối với dân với nước. Người anh hùng luôn cố gắng xây dựng, cải tạo xã hội nhưng thấy mình bất lực, thấy mọi cố gắng của mình như giọt nước đổ biển cả, như giấc mộng mà thôi:
Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư, Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú, Kết ốc hoa biên độc cựu thư.
(Đời người là cái thừa của giấc mộng kê vàng, Tỉnh lại muôn việc đều thành không cả.
Như nay ta chỉ thích ở trong núi, Làm nhà bên hoa mà đọc sách xưa).
(Ngẫu thành)
Câu thơ chứa đựng một tâm sự chán nản, buồn đau của người anh hùng Nguyễn Trãi khi thấy đất nước không được như mình mong muốn: “Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn”. Quá thất vọng trước thực tại, ông thấy cuộc đời như cái thừa của giấc mộng, mọi việc đều thành không. Việc thích ở trong núi, thích làm nhà bên hoa mà đọc sách của ông phải chăng là sự lẩn tránh cuộc đời, lẩn tránh một thực tại đáng buồn mà ông không cách nào thay đổi, không cách nào cứu vãn?
Nhưng sau chiến tranh, chế độ mà Nguyễn Trãi đã góp phần gây dựng lên lại không có chỗ dung thân cho một người như ông. Ông không có cơ hội để thực thi chí hướng của mình. Thời bình mà lòng người như loạn lạc, các quan chia bè chia phái, người cương trực thì ít mà kẻ xiểm nịnh thì nhiều, gian thần lộng hành, thắng thế. Trong Tự thuật (bài 9) ông đau xót thốt lên:
“Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng - Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”.
Không gian rộng lớn, cao đẹp đúng ra là nơi chim phượng tung cánh bay lượn thì lại chỉ thấy có diều hâu mà thôi. Mặt đất bao la, tươi tốt thì lại không làm cho hoa đẹp mãi, tươi mãi được mà nó là chỗ cho cỏ xanh um. Hai câu thơ vang lên đầy mỉa mai đau xót về thực trạng đáng buồn của xã hội. Cái xấu, cái ác, cái bất nhân thì luôn chiếm thế thượng phong, còn cái đẹp, cái thiện thì lại ngắn ngủi, mong manh quá.
Trước thời cuộc đương thời Nguyễn Trãi cũng đã viết những vần thơ thể hiện những suy tư trăn trở của ông trước cuộc đời
Nhãn trung phù thế tổng phù vân, Oa giác kinh khan nhật Tấn Tần.
Thiên hoặc táng tư tri hữu mệnh, Bang như hữu đạo diệc tu bần.
Trần Bình tự tín năng vi tể, Đỗ Phủ thùy liên dĩ ngộ thân.
Thế sự bất tri hà nhật liễu, Biến chu quy điếu Ngũ Hồ xuân.
(Nhìn vào cuộc thế đều là mây nổi cả,
Sợ thấy cảnh Tấn Tần tương tranh hàng ngày như chuyện sừng ốc sên
Khi trời đã bỏ mất nền tư văn tất có mệnh, Nước có đạo đức mà nghèo thì cũng xấu hổ.
Trần Bình tự tin có thể làm tể tướng,
Đỗ Phủ ai ngờ bị lầm lẫn mà thân phải khổ.
Việc đời không biết ngày nào xong,
Chèo một con thuyền nhỏ về câu cá mùa xuân ở Ngũ Hồ là tốt.
(Mạn thành I)
Thương xót nhân dân, Nguyễn Trãi đau đáu mong tìm được người cùng chí hướng, một lòng lo cho dân để đem tài năng của mình ra giúp nước, giúp đời. Nguyễn Trãi vẫn náu lòng để đợi thời trong nỗi thương nhớ quê hương, thân bằng. Nhưng đối với Nguyễn Trãi, con người vì dân vì nước, ông luôn chôn chặt nỗi “khổ tư gia” trong lòng, nên trong thơ ông rất ít nói đến tình cảm cá nhân với gia đình, người thân. Ông đã biến tình cảm cá nhân đó thành tình cảm bao la, rộng lớn hơn. Đó là tình yêu nước, thương dân, là chí hướng tìm ra chân chúa – người thực sự vì dân đen để cống hiến tài năng của mình.
Đó mới chính là chí hướng suốt cuộc đời nhà Nho quân tử Ức Trai:
Nhất sinh tập khí hồn như tạc, Bất vị ky sầu tổn cựu hào.
(Một đời vẫn giữ quen cái nết ngày trước,
Chẳng phải vì mối sầu xa quê hương mà giảm chí khí cũ).
(Lâm Cảng dạ bạc)
Nguyễn Trãi còn viết những vần thơ so sánh đầy hình tượng cho thấy được sự thay đổi của lòng người, miệng lưỡi thế gian
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng người quanh nữa nước non quanh
(Bảo kính cảnh giới)
Câu thơ vừa cụ thể, vừa khái quát về lòng người trong xã hội, người đọc còn cảm nhận được một nỗi đau xót xa của nhà thơ đó là một thái độ bất bình và lên án đầy chua xót trước sự đời, trước sự khó hiểu của lòng người.
Nhà nghiên cứu Trần Hoa Lê có nhận xét: “Nguyễn Trãi có nói đến xã hội đen bạc thì chủ yếu là thể hiện nỗi đau xót từ góc độ đạo đức - chính trị hoặc thế nhân nóng lạnh lẽ thường: Bui một lòng người cực hiểm thay; Tiếng thị phi chăng dóng đến tai; Miệng người tựa mật; Ở thế tin gì miệng đãi bôi;
Ghê thay biến bạc làm đen). Dù đây đó đã bộc lộ sự quan sát về thói đời trọng danh lợi: Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu/ Bần tiện ai là kẻ trọng yêu (Bảo kính cảnh giới, 8); Giàu người họp khó người tan, Phú quý thì nhiều kẻ đến chen - Bảo kính cảnh giới, 12, 13)…”.
Điều này cho thấy ở Nguyễn Trãi không chỉ “trữ tình thế sự” mà đã ít hiều xuất hiện “tư duy về thế sự”. Tất nhiên tư duy về thế sự phải đến giai đoạn sau ông mới bộc lộ hết tiêu biểu cho kiểu thơ này là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.