CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CÂU CÓ CHỨA CÚ BỊ BAO TỪ VIỆT SANG ANH VÀ TỪ ANH SANG VIỆT
3.2. Chuyển dịch CBB làm chủ ngữ
Trong tiếng Việt, CBB làm chủ ngữ không bắt đầu bằng từ giới thiệu, tác tử phụ ngữ hóa hay kết từ đứng trước khi diễn đạt câu trần thuật khẳng định hoặc phủ định.
- ỉ Những tỏn lỏ xanh / phủ loà xoà lờn tay vịn ở những bậc thang cuối // làm cho mắt Hoàng dịu lại. (14, 5)
- ỉ Một tảng đỏ / phủ xanh rong rờu của năm thỏng // cứ thế trụi băng băng xuống một cái dốc sâu hun hút, vô định. (11, 19)
Khi CBB làm chủ ngữ diễn đạt câu hỏi ở dạng gián tiếp thì có từ nghi vấn đặt ở đầu CBB hay cuối CBB tùy theo loại từ nghi vấn.
- Tại sao cô ấy bỏ đi // không liên quan đến tôi. => Từ nghi vấn Tại sao đặt ở đầu CBB.
- Anh ta làm việc ấy như thế nào // khiến tôi luôn thắc mắc. =>
Từ nghi vấnnhư thế nào đặt ở cuối CBB
3.2.1.1. tV1: C(CBB) → tA2: C(CBB)
CBB tiếng Việt bắt đầu bằng các từ điều, việc, những gì làm chủ ngữ của CBB thường được chuyển dịch thành CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Anh, và các từ điều, việc, những gì có từ tương đương tiếng Anh what, và what có thể sử dụng cho cả số ít và số nhiều. Trong những trường hợp này, vị ngữ tiếng Việt phải được chuyển dịch bằngmột vị ngữ tiếng Anh mang nghĩa tương đương, thì và thể của vị từ chia theo nghĩa của câu và của CBB.
<1> Ví dụ: Tất cả mọi việc / xảy đến // khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn (29, 268). CBB làm chủ ngữ ‘Tất cả mọi việc / xảy đến’.
Bảng 1:
tV1 tA2
Tất cả mọi việc / xảy đến // khiến tôi What / had happened // had surprised
kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. (29, 268)
me so much that at first I just stood there aghast. (28, 242)
- CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Tất cả mọi việc / xảy đến’ → CBB làm chủ ngữ tA2 ‘What / had happened’ (Vị từ ‘xảy đến’ có nghĩa tương tiếng Anh
‘happened’)
<2> Ví dụ: Câu ‘Điều / làm con Vá băn khoăn, bồn chồn // chính là những tiếng xôn xao mà tai người không thể nghe được, nó gần như tiếng búp lá cựa mình, như tiếng chòi non nhú lên khỏi mặt đất mềm. (27 112), có CBB làm chủ ngữ ‘Điều / làm con Vá băn khoăn, bồn chồn’
Bảng 2:
tV1 tA2
Điều / làm con Vá băn khoăn, bồn chồn // chính là những tiếng xôn xao mà tai người không thể nghe được, nó gần như tiếng búp lá cựa mình, như tiếng chòi non nhú lên khỏi mặt đất mềm. (27, 112)
What / actually excited Va // was a rustle that human ears could not perceive; it was like the sound of bud stirring on a branch or a shoot making its way out of the soft soil. (27, 113)
- CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Điều / làm con Vá băn khoăn, bồn chồn’ → CBB làm chủ ngữ tA2 ‘What / actually excited Va’. (Vị từ ‘excite’ trong tiếng Anh có nghĩa tương đương tiếng Việt ‘làm cho ai băn khoăn, bồn chồn’)
<3> Điều / phải xảy ra // đã xảy ra. (29, 59)
→What / had to happen // had happened. (28, 44)
<4> Điều làm tôi cảm động // là ông vừa vẽ vừa phải áng chừng coi trong
năm năm dung nhan vốn không mấy gì xinh đẹp lắm của tôi tàn tạ héo úa đi cỡ nào (27, 136)
→ What / moved me most // was that while he was drawing me, he was also working out exactly how my not-so-exceptional beauty would decline and wither. (27, 137)
<5> Cái làm tôi sợ nhất là chiêm bao. (29, 124)
→ What / frightens me // is the dreams. (28, 106) 3.2.1.2. tV1: C(CBB) → tA2: C1 – V1 + C2 – V2
Do CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Việt không bắt đầu bằng tác tử phụ ngữ hóa như CBB làm chủ ngữ trong câu tiếng Anh nên CBB làm chủ ngữ tiếng Việt thường được chuyển dịch sang tiếng Anh bằng cách thay đổi cấu trúc.
Ngoài ra để tránh những khó khăn có thể xảy ra trong việc xác định cú chính và vị từ chính trong câu tA2 do câu có nhiều cú. Câu được dịch tách ra thành hai hoặc nhiều cú độc lập, hay câ u đơn. Kết cấu câu được sắp đặt lại cho phù hợp với cấu trúc ngữ pháp của tiếng Anh.
<6> Vớ dụ: ỉ Tiếng cười / lan rộng trờn đầm sen rất xa như một gợn giú mạnh // làm những bông sen mở nhị lào xào rụng cánh (29, 461). CBB làm chủ ngữ
‘Tiếng cười / lan rộng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh’
Thay vì dịch là ‘That her laughter / echoed around the lotus pond like a gust of strong wind // shook the blossoms and made them shed their petals.’
CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Tiếng cười / lan rộng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh’ có thể được viết lại bằng CBB chủ ngữ tA2 bắt đầu bằng tác tử phụ ngữ hóa ‘That her laughter / echoed around the lotus pond like a gust of strong wind’.
Nhưng thường thì cách dịch CBB làm chủ ngữ tV1 sang tA2 bằng cách tách thành hai cụm chủ vị làm nòng cốt độc lập được sử dụng phổ biến hơn là sử dụng tác tử phụ ngữ hóa That.
Bảng 3:
tV1 tA2
Tuệ hỏi: ‘Nhà cô ở đâu?’ ‘Dưới đầm sen này.’ Cụ chỉ rồi cười vang. ỉ Tiếng cười / lan rộng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh // làm những bông sen mở nhị lào xào rụng cánh. (29, 461)
‘Where do you live?’ ‘In the lotus pond.’
She laughed loudly. It echoed around the lotus pond like a gust of strong wind, shaking the blossoms, making them shed their petals. (28, 415)
- CBB làm chủ ngữ ‘Tiếng cười / lan rộng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh’ được dịch bằng cách tách thành hai cú. Chủ ngữ của CBB tV1 là danh từ ‘Tiếng cười’ → cú độc lập tA2 ‘She laughed loudly’. (Chủ ngữ
‘She’ được đặt thêm vào tùy theo nghĩa và ngữ cảnh của câu tV1.)
- Vị ngữ của CBB ‘lan rộng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh’ bắt đầu bằng vị từ ‘lan rộng’. Khi chuyển dịch sang tA2, đại từ It được dùng để thay thế cho danh từ ‘Tiếng cười’ làm chủ ngữ cho cú ‘It echoed around the lotus pond like a gust of strong wind’, vì tiếng Anh là ngôn ngữ thiên chủ ngữ, một câu đúng và trang trọng (a proper and formal sentence) phải có chủ ngữ và vị từ được chia theo thì, thể của câu và ngôi, số của chủ ngữ.
3.2.1.3. tV1: C(CBB) → tA2: C-V chính
Trong trường hợp CBB làm chủ ngữ và vị từ chính của câu thuộc nhóm vị từ gây khiến, chuyển tác có thể chuyển dịch sang tA2 theo các bước:
- CBB làm chủ ngữ tV1 → cụm chủ-vị chính tA2.
- Đặt thêm đại từ quan hệ which bắt đầu CBB làm định ngữ của câu tA2.
- Vị ngữ của câu tV1 → vị ngữ của CBB làm định ngữ của câu tA2.
<7> Cái áo sơ mi / có hai sọc trắng kẻ bên trái ngực // LÀM thân thể cô như một ngọn cây vươn về phía mặt trời (29, 141). CBB làm chủ ngữ ‘‘Cái áo sơ mi / có hai sọc trắng kẻ bên trái ngực’
Bảng 4:
tV1 tA2
Cái áo sơ mi / có hai sọc trắng kẻ bên trái ngực // LÀM thân thể cô như một ngọn cây vươn về phía mặt trời. (29, 141)
Her shirt had two white stripes running diagonally across her left breast, which MADE her body look like a tree reaching up toward the sun. (28, 122)
- Câu có CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Cái áo sơ mi / có hai sọc trắng kẻ bên trái ngực’ → cụm chủ-vị chính tA2 ‘Her shirt had two white stripes running diagonally across her left breast’.
- Đại từ quan hệ which được đặt thêm vào nhằm thay thế cho cả cụm chủ-vị chính.
- Vị ngữ chính của câu tV1 ‘LÀM thân thể cô như một ngọn cây vươn về phía mặt trời’ → vị ngữ của CBB làm định ngữ câu tA2 ‘MADE her body look like a tree reaching up toward the sun’. (Trong trường hợp này nếu không đặt thêm đại từ quan hệ which để thay thế cho cả cụm chủ-vị chính, thì có thể thế bằng một cụm chủ vị khác tùy theo nghĩa của câu.)
<8> Xét câu ‘Chiều tối, cô / ngồi duỗi chân dài, nấu cơm bên bếp lửa //
LÀM ông có cảm tưởng hai người đang lạc vào hang sâu, chung quanh không tiếng người, duy chỉ tiếng lá dừa rơi mới làm ông tỉnh mộng.’ (29, 182), CBB làm chủ ngữ
‘cô / ngồi duỗi chân dài, nấu cơm bên bếp lửa’
Bảng 5:
tV1 tA2
Chiều tối, cô / ngồi duỗi chân dài, nấu cơm bên bếp lửa // LÀM ông có cảm tưởng hai người đang lạc vào hang sâu, chung quanh không tiếng người, duy chỉ tiếng lá dừa rơi mới làm ông tỉnh mộng.’
(29, 182)
In the evening, she / stretched out her legs on the floor and cooked dinner by the fire. Whenever he pictured this scene, it was as if the two of them were lost together in a deep cavern, with no other human voices to be heard. Only the sound of a falling coconut frond could bring him back to reality. (28, 173)
- Câu có thể chuyển sang tA2 với đại từ quan hệ which để thay thế cho cả cụm chủ-vị chính là ‘In the evening, she stretched out her legs on the floor and cooked dinner by the fire, which made him feel as if the two of them were lost together in a deep cavern, with no other human voices to be heard. Only the sound of a falling coconut frond could bring him back to reality.’; tuy nhiên CBB định ngữ cho cụm chủ-vị ‘which made him feel’ có thể được thay thế bằng cú trạng ngữ
‘Whenever he pictured this scene’, nhằm tách câu phức có CBB làm định ngữ câu thành 2 câu đơn để diễn đạt và dễ viết câu hơn.
*** Ngoài ra CBB làm định ngữ cho cụm chủ -vị có thể được rút gọn thành ngữ hiện tại phân từ.
<9> Xét câu ‘Bên cạnh nó ngồi rải rác những mảnh vỡ của một chiếc bình cổ. Những mảnh vỡ / ngập chìm dưới cát bụi // làm biến mất một phần họa tiết được khắc trên đó.’ (29, 167)
Bảng 6:
tV1 tA2
Bên cạnh nó ngồi rải rác những mảnh vỡ của một chiếc bình cổ. Những mảnh vỡ ấy / ngập chìm dưới cát bụi // làm biến mất một phần họa tiết được khắc trên đó.
(29, 167)
Around her were scattered shards of an antique vase. The shards / were half – burried in the sand, hiding much of their engraved decoration. (28, 159)
- Câu tV1 ‘Những mảnh vỡ ấy / ngập chìm dưới cát bụi //
làm biến mất một phần họa tiết được khắc trên đó’ có thể được chuyển dịch câu tA2 bằng cách dùng tác tử phụ ngữ hóa that → ‘That the shards / were half –burried in the sand // hid much of their engraved decoration.’
- Hoặc chuyển dịch CBB làm chủ ngữ tV1 thành cụm chủ- vị chính tA2 và vị ngữ chính của câu tV1 thành CBB làm định ngữ bổ nghĩa cho cụm chủ-vị chính ‘The shards / were half –burried in the sand, which hid much of their engraved decoration.’
- Hoặc CBB làm định ngữ bổ nghĩa cho cụm chủ-vị chính
‘which hid much of their engraved decoration’ có thể rút gọn thành ngữ hiện tại phân từ bằng cách:
- Tỉnh lược đại từ quan hệ which
- Vị từ của CBB làm định ngữ được viết lại ở dạng ngữ hiện tại phân từ (V-ing): Những mảnh vỡ ấy / ngập chìm dưới cát bụi // làm biến mất
một phần họa tiết được khắc trên đó → The shards / were half –burried in the sand, hiding much of their engraved decoration.
*** Câu có chứa CBB làm chủ ngữ cũng có thể được dịch chuyển thành hai câu đơn.
- (1) CBB làm chủ ngữ tV1 → cụm C-V tA2 (1)
- (2) CBB làm chủ ngữ tV1→ Đại từ tA2 tương ứng làm chủ ngữ của cụm C-V tA2 (2); Vị ngữ của câu tV1→ Vị ngữ của cụm C-V tA2 (2)
<10> Xét câu ‘Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió // rơi xuống phủ trên tấm thảm trúc dày.’ (29, 102), với CBB làm chủ ngữ ‘Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió’
Bảng 7:
tV1 tA2
Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió //
rơi xuống phủ trên tấm thảm trúc dày.
(29, 102)
Some dried and yellow leaves // circled in the wind and they // fell to cover the thick carpet already in the ground. (28, 87) - CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió’ → cụm C-V tA2 ‘Some dried and yellow leaves // circled in the wind’
- CBB làm chủ ngữ tV1‘Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió’ → Đại từ tA2 tương ứng làm chủ ngữ của cụm C-V tA2 ‘they’; Vị ngữ của câu tV1 ‘rơi xuống phủ trên tấm thảm trúc dày’→ Vị ngữ của cụm C-V tA2 ‘fell to cover the thick carpet already in the ground’.
- Câu có CBB làm chủ ngữ tV1 ‘Vài cái lá vàng khô / quay tròn theo gió // rơi xuống phủ trên tấm thảm trúc dày.’ (29, 102) được chuyển dịch
thành hai cụm C-V độc lập ‘Some dried and yellow leaves // circled in the wind (1) and they // fell to cover the thick carpet already in the ground.’ (2) (28, 87)
3.2.1.4. tV1: C(CBB) → tA2: Danh ngữ
a/ tV1: C(CBB) → tA2: Dt/Dn trung tâm - Đ(CBB)
CBB làm chủ ngữ tV1 có thể được chuyển dịch sang tA2 bằng cách biến đổi thành danh ngữ có CBB làm định ngữ. Trường hợp này do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, nghĩa là vị từ của câu hay vị từ của CBB không phải chia theo thì, thể, ngôi, giống, số, nên không có ranh giới đánh dấu rõ ràng giữa vị từ của CBB và vị từ của câu; trong khi đó tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình và thiên chủ ngữ, bắt buộc trong câu chỉ có một vị từ chính được chia, hay nói cách khác là không thể có hai vị từ được chia viết liền nhau trong một câu hay một cú.
Do đó khi chuyển dịch câu có chứa CBB làm chủ ngữ từ tV1 sang tA2, có thể đổi CBB làm chủ ngữ tV1 thành danh ngữ có định ngữ là CBB tA2 bằng cách:
- Chủ ngữ của CBB tV1 → Danh từ trung tâm của danh ngữ tA2.
- Đặt thêm đại từ quan hệ, hay trạng từ quan hệ tùy theo nghĩa của CBB và nội dung mà danh từ trung tâm diễn đạt.
- Vị từ của CBB làm chủ ngữ tV1 → vị từ của CBB làm định ngữ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm tA2.
<11> Xét câu ‘Đám mây mù xám / che ánh trăng // đã tan loãng, vẫn ánh trăng suông nhưng tỏ rạng ra đôi chút.’ (29, 292) có CBB làm chủ ngữ ‘Đám mây mù xám / che ánh trăng’.
Bảng 8:
tV1 tA2
Đám mây mù xám / che ánh trăng //
đã tan loãng, vẫn ánh trăng suông nhưng tỏ rạng ra đôi chút. (29, 292)
The dark clouds which had obscured the moon // were scattering, and the moonlight is brighter now. (28, 261)
- Chủ ngữ của CBB tV1 ‘Đám mây mù xám’ có nghĩa tương đương tA2 ‘The dark clouds’, và vị ngữ của CBB ‘che ánh trăng’ được viết bằng tiếng Anh ‘had obscured the moon’. Do danh từ trung tâm ‘The dark clouds’ là danh từ chỉ vật làm chủ ngữ của vị từ nên CBB làm định ngữ được bắt đầu bằng đại từ quan hệ which. CBB làm chủ ngữ ‘Đám mây mù xám / che ánh trăng’ được chuyển dịch thành danh ngữ tA2 ‘The dark clouds which had obscured the moon’
<12> Xét câu ‘Mối quan hệ ấy giữa hai mẹ con / vốn hết sức tự nhiên //
bỗng trở nên khó khăn, họ phải dùng ý thức để điều chỉnh.’ (29, 54), có CBB làm chủ ngữ ‘Mối quan hệ ấy giữa hai mẹ con / vốn hết sức tự nhiên’
Bảng 9:
tV1 tA2
Mối quan hệ ấy giữa hai mẹ con / vốn hết sức tự nhiên // bỗng trở nên khó khăn, họ phải dùng ý thức để điều chỉnh.
(29, 54)
A relationship that / had once been natural // became difficult, and they had to use their will to adjust to it. (28, 40)
- Chủ ngữ của CBB tV1 ‘Mối quan hệ’ có nghĩa tương đương tA2 ‘A relationship’, và vị ngữ của CBB ‘vốn hết sức tự nhiên’ được viết bằng tA2 ‘that had once been natural’. Do danh từ trung tâm ‘relationship’ là danh từ chỉ
sự vật làm chủ ngữ của vị từ nên CBB làm định ngữ được bắt đầu bằng đại từ quan hệ that. CBB làm chủ ngữ ‘Mối quan hệ / vốn hết sức tự nhiên’ được chuyển dịch thành danh ngữ tA2 có định ngữ là một CBB ‘A relationship that had once been natural’
<13> Những hạt giống / gieo xuống đất mới // nằm lặng câm trong nỗi chờ đợi chờ mỗi ngày càng thêm vô vọng của con người. (27, 164)
→ To our increasing disappointment, the seeds we sowed in the new land / lay silent and still. (27, 165)
<14> Người / quen biết thầy trước kia // không còn bao nhiêu. (27, 308)
→ No one who / had known him // lived there any more. (27, 309)
<15> Một nhà văn / đoạt giải Nobel // sẽ nói suốt một năm cho đến khi có bác Nobel năm sau lên nói thay. (27, 284)
→ A writer who / wins the Nobel Prize // has a whole year to talk before someone else take his place. (27, 285)
<16> Người nào / nghe quen như tôi và ông Hải // thì biết là nó hát chứ không phải khóc. (27, 140)
→ Only people who / are used to the sound like me and Hải can tell whether she is singing or crying. (27, 141)
<17> Viên bác sĩ nghỉ hưu / bấy lâu nay vẫn hành nghề đông y trên đường Huỳnh Tịnh Của // đã chết vì các viên gardenan. (29, 245)
→ The retired physician who / had decided to practice traditional medicine on Huynh Tinh Cua Street // has passes away from an overdose of sleeping pills. (28, 223)