Chương 3. ỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN Ể Ả BẢO THỰC HIỆN CÓ HIỆ
3.2. Một số giải pháp chủ yếu
3.2.1. Tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất -
Phát triển kinh tế ở miền núi, từng bước cải thiện đời sống nhân dân các dân tộc nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng cao để mọi người có cơm ăn, áo mặc, được học hành và được chăm sóc sức khoẻ chính là giải pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh quá trình bình đẳng dân tộc ở tỉnh Yên Bái. Như vậy, cần phải chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp và khai thác tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá sẽ thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng trong tỉnh và tạo ra một thị trường thống nhất, có tác dụng thức tỉnh và lôi kéo các dân tộc ít người và đông người vào các mối quan hệ kinh tế - xã hội, từ đó khắc phục tình trạng cô lập, trì trệ của kinh tế tự cung tự cấp - nguyên nhân của tình trạng lạc hậu, chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc. Đó là giải pháp đúng đắn phù hợp với điều kiện các dân tộc thiểu số ở tỉnh Yên Bái, nhưng đó cũng là cách làm chung nhất. Để khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng mọi năng lực sản xuất, làm cho các dân tộc phát triển mạnh mẽ và vững chắc thì cách làm cần phải cụ thể hơn nữa.
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một trong những chủ trương lớn của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm khơi dậy tính năng động của nền kinh tế, tạo nên sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Thực tiễn những năm đổi mới cho thấy: phát triển kinh tế nhiều thành phần là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế, là phương thức giải phóng lực lượng sản xuất và huy động tối đa, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đồng thời là con đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong suốt thời kỳ quá độ.
Sau hơn 20 năm đổi mới, do các thành phần kinh tế phát triển, tỉnh Yên Bái đã huy động được nhiều nguồn lực trong và ngoài vùng, tạo ra động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao và liên tục trên tất cả các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp dịch vụ. Nhờ đó, đời sống của nhân dân trong vùng được cải thiện và nâng lên; bộ mặt nông thôn cũng như thành thị có nhiều khởi sắc, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong giải phóng sức sản xuất và phát huy nội lực trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên toàn tỉnh.
Song, thực tế phát triển kinh tế nhiều thành phần ở tỉnh Yên Bái vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng và đã bộc lộ nhiều bất cập: quy mô kinh tế còn nhỏ bé, tự cung tự cấp, hiệu quả kinh tế thấp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, các tiềm năng, lợi thế lớn của tỉnh chậm được khai thác; thiếu cơ chế, chính sách phù hợp để sớm khai thác các tiềm năng về đất đai, đồi rừng, thủy điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu… Chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch chưa cao, chưa gắn kết tốt giữa phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghệ chế biến và thị trường… Để phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Yên Bái cần phải giải quyết tốt những vấn đề sau:
Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, cả doanh nghiệp trung ương và địa phương, để doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo. Muốn vậy cần:
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả, xóa bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, để doanh nghiệp nhà nước thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên thị trường và trước pháp luật. Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp; chăm lo đào tạo đội ngũ quản trị giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý doanh nghiệp theo chế độ hiện tại.
Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là cổ phần hóa. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất, kết cấu hạ tầng, chế biến nông sản thực phẩm… Đồng thời đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
- Tiếp tục đổi mới và phát triển loại hình kinh tế tập thể:
Cần tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: tổ hợp tác xã, hợp tác xã liên gia, hợp tác xã kiểu mới, chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cổ phần. Chuyển đổi các nông trường, tổng đội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế thành các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp và chế biến nông sản. Đối với các vùng cây nguyên liệu tập trung đã xây dựng tỉnh cần tăng cường củng cố quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân trên cơ sở hợp đồng kinh tế, cùng với sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước.
Khuyến khích huy động các nguồn vốn từ các thành viên để tăng vốn hoạt động cho hợp tác xã, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ cho hợp tác xã.
Bằng các nguồn vốn phát triển, nhà nước hỗ trợ hợp tác xã theo chương trình mục tiêu cụ thể trên cơ sở đã có quy hoạch phát triển, được các cấp phê duyệt. Trong nền kinh tế thị trường, mọi cá nhân đều bình đẳng như nhau trong cạnh tranh.
Nhưng do hợp tác xã có liên quan đến nông dân, do đó cần có các chính sách miễn, giảm thuế cụ thể.
+ Có thể sử dụng hình thức cho vay vật tư, thiết bị trả chậm, nhằm giúp các hợp tác xã, hiệp hội… của nông dân đầu tư đa dạng hóa sản xuất theo những quy mô hợp lý, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.
+ Coi trọng hỗ trợ về tài chính để đầu tư giống cây con mới, chuyển giao kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm; đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ xuất khẩu; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (khu vực thủy sản, làng nghề, chợ đầu mối), để tạo điều kiện thành lập trung tâm thương mại ở các vùng, khu vực sản xuất hàng hóa lớn.
- Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp tư nhân:
Kinh tế tư nhân là một bộ phận trong cơ cấu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển rộng rãi, trong mọi
ngành nghề hoặc lĩnh vực mà nhà nước không cấm, được hỗ trợ cả về tài chính trên những định hướng ưu tiên của nhà nước.
Thế mạnh của thành phần kinh tế tư nhân là có động lực cá nhân mạnh mẽ, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra năng động, có hiệu quả cao. Vì vậy, việc tổ chức thực hiện tốt hoạt động của thành phần kinh tế này sẽ là phương tiện và động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhân dân phát huy nguồn nội lực, tích cực hưởng ứng, tham gia bỏ vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh một cách rộng rãi và nhanh chóng nhất.
Để kinh tế tư nhân, thành phần kinh tế năng động và có nhiều tiềm năng phát triển, cần phải:
+ Xóa bỏ mọi rào cản, mọi phân biệt đối xử trong các quan hệ tài chính, tín dụng, giá thuê đất, thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp,… cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển, không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế.
+ Tạo môi trường thuận lợi để các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát huy cao độ các nguồn nhân lực để đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh ở mọi ngành nghề mà pháp luật không cấm.
+ Cổ phần hóa doanh nghiệp, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết các doanh nghiệp, liên doanh với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Xây dựng mối quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động.
Khi kinh tế tư nhân trong nước phát triển sẽ đảm đương được các chức năng kinh tế mà kinh tế nhà nước chuyển giao và cùng liên kết với kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã để tạo thành một đối tác mạnh trong liên doanh với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Sự phát triển của kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục góp phần đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cho xã hội, thu hút lao động xã hội, huy động một phần nguồn lực trong dân để phát triển kinh tế.
- Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài:
Trong những năm qua, do kinh tế tư nhân trong nước còn non trẻ, thực lực còn yếu, chưa trở thành đối tác mạnh, nên hầu như toàn bộ vốn đầu tư của nước ngoài vào nước ta vận động dưới các hình thức kinh tế tư bản nhà nước, tức là trong
mối quan hệ liên doanh hợp tác trực tiếp với kinh tế nhà nước. Đây là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế mạnh nhất trong nền kinh tế từ cuối năm 1988 đến nay.
Những năm qua, kinh tế tư bản nhà nước đã góp phần quan trọng vào các thành quả mà nền kinh tế của tỉnh đã đạt được. Để khuyến khích mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nước ngoài đầu tư vào tỉnh nhà, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế của tỉnh sớm hòa nhập vào nền kinh tế trong nước, đáp ứng yêu cầu rút ngắn quá trình phát triển, sớm thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, tỉnh cần chú trọng:
+ Cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế đối với đầu tư nước ngoài. Đa dạng hóa các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài và tỉnh ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng.
+ Mở rộng, thu hút đầu tư của các tổ chức và cá nhân người nước ngoài tham gia hoạt động tại địa bàn tỉnh; có biện pháp đẩy mạnh xúc tiến vay vốn ODA để đẩy nhanh hơn và chấm dứt việc giải ngân nguồn vốn này chậm như hiện nay, chuẩn bị đủ vốn tương ứng, chuẩn bị tốt các dự án đầu tư, nâng cao hiệu quả pháp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn.
+ Mở rộng các hình thức thu hút nhà đầu tư ngoài tỉnh, đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, bất động sản dưới các hình thức BT, BOT…
Ngoài các chính sách đặc biệt về huy động nguồn vốn đầu tư phát triển cho vùng, các địa phương trong tỉnh cần tiếp tục thực hiện các chính sách hiện hành và các chính sách tại Quyết định 186. Cụ thể:
+ Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định 134/2004/QĐ - TTg, ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Chính sách định canh, định cư, ổn định dân di cư tự do, phát triển vùng kinh tế mới và chính sách xoá bỏ cây thuốc phiện.
+ Chính sách về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, về phát triển dịch vụ, ứng dụng chuyển giao khoa học và công nghệ.
+ Chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nhằm đảm bảo yêu cầu phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất ở tỉnh Yên Bái phát triển là một giải pháp quan trọng để góp phần xây dựng tồn tại xã hội mới ở tỉnh Yên Bái.
3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng dân tộc ở tỉnh Yên Bái
Trên thực tế những năm qua, công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng dân tộc ở vùng Yên Bái còn nhiều bất cập, hạn chế, dẫn đến chất lượng công tác tuyên truyền chưa cao. Vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho phù hợp hơn, đạt hiệu quả cao hơn, với những giải pháp chủ yếu là:
Cùng với những nội dung cơ bản trước đây vẫn tuyên truyền, như: tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc; các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc và các chương trình lớn của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (Chương trình 134, 135, 167…) cũng như những kết quả đạt được trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình này, thời gian tới, cần căn cứ vào yêu cầu phát triển của Yên Bái trong bối cảnh mới để đẩy mạnh nội dung tuyên truyền.
Một là, yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Yên Bái. Nghị quyết 37 -NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 đã xác định mục tiêu: “Đẩy nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ cao hơn nhịp độ phát triển chung của Nhà nước; cải thiện rõ rệt hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế;… gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng an ninh, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia". Đến nay đã bước sang năm cuối của việc thực hiện Nghị quyết 37 nhưng nhiều mục tiêu Nghị quyết đề ra vẫn chưa đạt được. Vì vậy, những năm tới, các mục tiêu này vẫn đòi hỏi các cấp, ngành và nhân dân tỉnh Yên Bái cần phải phấn đấu nỗ lực thì mới thực hiện được. Để thực hiện hoàn thành các mục tiêu này, nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh Yên Bái là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chỉ có bằng con đường này thì mới đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, đưa Yên Bái sớm thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu và góp phần vào thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp có trình độ phát triển trung bình vào năm 2020.
Tuy nhiên, do ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trình độ dân trí còn thấp, chưa nhận thức đầy đủ về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nên thời gian tới cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Yên Bái hiểu rõ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng dân tộc - miền núi; tuyên truyền về những cơ hội, thách thức, các thể chế, định chế… khi Việt Nam đã là thành viên của WTO. Cổ vũ, động viên đồng bào các dân tộc chuyển đổi cơ cấu sản xuất; khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc. Tuyên truyền về tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Yên Bái để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào vùng này.
Hai là, trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng, tăng cường tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống đại đoàn kết giữa các dân tộc trong lịch sử cũng như công cuộc đổi mới để tạo sự thống nhất và nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, ý thức quốc gia dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào dân tộc sinh sống ở vùng biên giới, vùng đồng bào Mông.
Ba là, tuyên truyền, giáo dục, giải thích cho đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái nhận thức rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu, hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết; lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để thực hiện
“diễn biến hoà bình” và bạo loạn lật đổ cách mạng nước ta của các thế lực thù địch cũng như các luận điệu vu cáo, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình, khiếu kiện của các tổ chức phản đông, các phần tử cực đoan.
Bốn là: Các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường thời lượng phát sóng, tăng chuyên trang, chuyên mục để phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào dân tộc. Chú trọng mở rộng phạm vi phủ sóng, tăng số lượng phát hành báo, tạp chí, bản tin... bằng tiếng dân tộc thiểu số ở các dân tộc có chữ viết. Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên để nâng cao kiến thức, nghiệp vụ, am hiểu phong tục,