Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém còn tồn tại của các doanh nghiệp

Một phần của tài liệu LUẬN văn doanh nghiệp tư nhân ở thái bình hiện nay (Trang 55 - 59)

2.3. Một số vấn đề đặt ra và nguyên nhân

2.3.2. Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém còn tồn tại của các doanh nghiệp

2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan

Trong 20 năm đổi mới, Thái Bình đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Tuy vậy Thái Bình vẫn là tỉnh nông nghiệp. Tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong GDP năm 2005 chiếm 47%, cao gấp 2 lần so với bình quân chung của cả nước. Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

- Hệ thống pháp luật và môi trường kinh doanh đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Do đó cơ chế, chính sách còn thiếu đồng bộ và chưa ổn định, còn có nhiều thay đổi, văn bản pháp quy còn có những điểm chồng chéo, tính hiệu lực chưa cao. Điều đó làm cho các DNTN gặp phải khó khăn khi tìm hiểu, vận dụng và chấp hành. Công cuộc cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, một số cán bộ, công chức còn gây phiền hà cho doanh nghiệp, gây không ít khó khăn cho các DNTN khi tiếp xúc với cơ quan quản lý nhà nước.

- Một số quy định trong chế độ kế toán, đặc biệt đối với các DNTN vừa và nhỏ là quá phức tạp và trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp, không phù hợp với năng lực thực tế của DNTN. Bên cạnh các quy định về chế độ kế toán còn phức tạp thì các tài khoản trong chế độ kế toán lại thường xuyên thay đổi, do đó các DNTN không thể theo kịp, dẫn đến những vi phạm trong việc hạch toán kế toán của doanh nghiệp. Ví dụ như các quy định về hệ thống tài khoản mới nhất đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện theo quyết định số 15/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

- Hệ thống chính sách thuế bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân… đã được nghiên cứu, điều chỉnh nhưng đến nay nhìn chung chính sách thuế vẫn chưa thực sự ổn định và thông thoáng, còn mang tính chất chắp vá, sửa đổi theo kết quả triển khai trên thực tế, thiếu đồng bộ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thu thuế thiếu sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Bình quân mỗi DNTN trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện nay phải nộp ít nhất 4 loại thuế (Thuế GTGT, TNDN, môn bài, thuế đất), ngoài ra còn có các loại thuế khác như: tiêu thụ đặc biệt, tài nguyên, xuất khẩu…

tùy theo từng loại hình kinh doanh.

- Chính sách đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản trị doanh nghiệp và đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng mực. Về phía chính quyền địa phương chưa có giải pháp đồng bộ, chưa phát huy được vai trò của các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề tại địa phương. Việc đào tạo chủ yếu mang tính chất chắp vá chủ yếu mang tính chất đào tạo lại trực tiếp tại địa phương ở những ngành nghề lĩnh vực tỉnh thiếu, chưa có kế hoạch lâu dài đào tạo nguồn nhân lực cho những ngành nghề địa phương cần trong tương lai. Về phía doanh nghiệp khả năng tài chính có hạn đã không đủ điều kiện để nâng cao trình độ người lao động đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh, chủ yếu đào tạo đáp ứng nhu cầu trước mắt.

- Các doanh nghiệp chưa xây dựng được kế hoạch và chiến lược kinh doanh mang tính ổn định bền vững, chưa theo kịp để nắm bắt được thị trường chung. Một mặt do năng lực của các chủ doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu thông tin và thiếu năng lực tài chính, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nâng cao năng suất lao động.

- Trong các chính sách vẫn còn sự phân biệt đối xử trong một số cơ quan quản lý nhà nước giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đặc biệt là vẫn còn tư tưởng phân biệt đối xử với thành phần kinh tế tư nhân. Sự phân biệt này thể hiện ở chỗ đối xử trong quan hệ giao dịch về mặt bằng SXKD, vay vốn, tiếp cận thông tin thị tr- ường chưa công bằng. Nhất là các DNTN đang còn mất rất nhiều thời gian để làm thủ tục được thuê đất làm mặt bằng sản xuất cũng như xây dựng nhà xưởng, văn phòng làm việc.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các DNTN để sản xuất chưa kịp thời.

- Nhiều DNTN khó tiếp cận với các nguồn vốn vay chính thức (DNTN phải vay từ các nguồn phi chính thức với lãi suất rất cao). Đây là một khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp tư nhân. Hầu hết các DNTN cho rằng việc tìm đủ vốn là một trong những khó khăn hàng đầu cả trong giai đoạn thành lập cũng như trong suốt thời gian hoạt động sau đó. Việc tiếp cận của các doanh nghiệp với các Ngân hàng rất khó khăn đặc biệt là vấn đề thế chấp tài sản để vay vốn. ở đây cũng cần phải nhận thấy rằng về phía doanh nghiệp chưa làm cho Ngân hàng đủ độ tin cậy khi cho vay. Về phía ngân hàng họ cũng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ do đó vấn đề đảm bảo an toàn vốn vay được đặc biệt quan tâm vì vậy cũng làm hạn chế giao dịch giữa doanh nghiệp và Ngân hàng. Hầu hết các DNTN không thể vay vốn Ngân hàng nếu thiếu các điều kiện và thủ tục quy định nhất là trong

trường hợp các loại giấy tờ về tài sản thế chấp chưa đầy đủ mặc dù đó là do lỗi của hoàn cảnh khách quan hay chủ quan. Trong trường hợp này doanh nghiệp lại phải thực hiện thêm một loạt các bước để chứng minh quyền sở hữu tài sản của họ. Điều này đã làm cho các DNTN mất khá nhiều thời gian và ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh.

Công tác thanh tra, kiểm tra là hoạt động quản lý cần thiết nhằm giúp doanh nghiệp chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhưng hiện nay công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp, các ngành chưa có sự thống nhất. Các cuộc thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo và gây không ít khó khăn, phiền hà cho các doanh nghiệp vì cơ quan nào cũng có chức năng thanh tra, kiểm tra lĩnh vực mình quản lý. Nhiều doanh nghiệp trong một vài tháng phải làm việc với 2-3 đoàn thanh tra, kiểm tra của các cơ quan như: kế hoạch đầu tư, thuế, công an, quản lý thị trường, xây dựng, bảo hiểm, lao động ... Điều này đã làm cho doanh nghiệp mất khá nhiều thời gian, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Việc thanh tra, kiểm tra của các đoàn kiểm tra còn mang nặng tính chất xử lý, xử phạt mà chưa thực sự chú ý đến công tác hướng dẫn, giúp đỡ và uốn nắn các doanh nghiệp tư nhân để họ hoạt động đúng quy định pháp luật.

2.3.2.2. Nguyên nhân khách quan

Xuất phát điểm của kinh tế Thái Bình vẫn còn thấp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nguồn thu của tỉnh phụ thuộc nhiều vào sự điều tiết từ ngân sách Trung ương. Sự đầu tư của chính quyền địa phương cho phát triển hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là DNTN còn hạn chế. Mặt khác, bản thân các DNTN đều trưởng thành từ kinh tế hộ cá thể.

Mặc dù được xem là vùng đất màu mỡ, rất thích hợp cho phát triển nông nghiệp nhưng diện tích canh tác bình quân đầu người thấp. Vì thế kinh tế hộ ở Thái Bình cũng có nhiều hạn chế, nhất là về năng lực tài chính. Điều đó đã ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển DNTN.

Tiến trình mở cửa, hội nhập và việc thực hiện các cam kết quốc tế về gia nhập WTO, AFTA bên cạnh việc đem lại nhiều thuận lợi quan trọng thì cũng đồng nghĩa với các doanh nghiệp tư nhân trong cả nước nói chung và doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng phải “chơi cùng sân” với các doanh nghiệp quốc tế. Nhà nước phải cắt giảm những chính sách bảo hộ đối với sản xuất trong nước và phải từ bỏ những chính sách bao cấp. Trong khi đó các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng kinh tế mạnh,

có công nghệ sản xuất hiện đại, có kinh nghiệm quản lý và nhiều thế mạnh khác. Trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình vốn dĩ nhỏ bé, khả năng tài chính hạn hẹp, trình độ sản xuất lạc hậu, năng lực quản lý yếu kém. Cùng với những bất cập từ cơ chế chính sách, đồng thời nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức đúng mức độ ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu không có những hướng đi thích hợp có thể dẫn tới đổ vỡ, phá sản.

Thời gian qua, Nhà nước đã có sự đầu tư có hiệu quả để giúp đỡ, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển. Nhiều cơ chế, chính sách được ban hành nhằm khuyến khích kinh tế tư nhân trong đó có doanh nghiệp tư nhân đầu tư sản xuất kinh doanh ở những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên trong xã hội tâm lý phân biệt đối xử giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể vẫn còn tồn tại gây ra những khó khăn không nhỏ tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Chương 3

Phương hướng và giải pháp phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của các quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu khách quan, là quá trình trong đó các quốc gia vừa phụ thuộc lẫn nhau, vừa mâu thuẫn với nhau, nhằm đạt được lợi ích của các quốc gia, dân tộc và lợi ích chung của quốc tế. Trong điều kiện đó Việt Nam chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” với tinh thần “là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế". Điều này sẽ tạo ra những thuận lợi và cơ hội cho các DNTN.

Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tạo ra một môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, an toàn thuận lợi cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Các loại thị trường được hình thành đồng bộ, vững chắc, từ thấp đến cao. Sự hoàn thiện dần thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là điều kiện tốt để các DNTN phát triển.

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, trong quá trình đổi mới vừa qua, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đã có bước phát triển nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao.

Tình hình quốc tế và trong nước, trong tỉnh về cơ bản là thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho hoạt động SXKD của các DNTN. Bên cạnh đó nhiều vấn đề khó khăn cũng đặt ra cho các DNTN do điều kiện khách quan mang lại. Vì vậy các DNTN trước hết phải nhận thức được những tác động tích cực cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Một phần của tài liệu LUẬN văn doanh nghiệp tư nhân ở thái bình hiện nay (Trang 55 - 59)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)