3.2. Những giải pháp cơ bản để phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay
3.2.1. Những giải pháp chung
Khẩn trương chỉ đạo thực hiện một cách có hiệu quả việc trợ giúp phát triển doanh nghiệp trên địa bàn theo qui định của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/07/2006), trong đó tập trung vào các nội dung chính như sau:
3.2.1.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển kinh tế cho các cấp chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong xã hội về tầm quan trọng của việ c phát triển DNTN ở Thái Bình hiện nay. Các cơ quan báo chí, đài phát thanh truyền hình tỉnh có kế hoạch cụ thể xây dựng chuyên trang, chuyên mục về doanh nghiệp để thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp tư nhân. Tuyên truyền sâu rộng cơ chế chính sách và các qui định của UBND tỉnh trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp. Đồng thời biểu dương, tôn vinh những doanh nghiệp điển hình, tiên tiến.
Nâng cao vị trí vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh để mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ và tích cực bỏ vốn tham gia thành lập doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.
- Các cơ quan có liên quan có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin để xây dựng chuyên mục phát triển doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ, giải đáp đầy đủ, kịp thời các vướng mắc của doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện tốt nhất để DNTN yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
3.2.1.2. Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cải cách thủ tục hành chính và chính sách tài chính theo hướng tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng cho doanh nghiệp tư nhân
Hiện nay, nhiều văn bản, chính sách đã được ban hành nhưng các doanh nghiệp rất khó tiếp cận. Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam vẫn còn tình trạng thiếu nhất quán, chưa ổn định, tính công khai, minh bạch kém… Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ số thiết chế pháp lý của 59 tỉnh thành
được các doanh nghiệp chấm dưới 5 điểm (tính trên thang điểm 10). Điều đó chứng tỏ hệ thống pháp lý ở 59 tỉnh, thành chưa được các doanh nghiệp tin cậy. Vì vậy, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cải cách các thủ tục hành chính là vấn đề mấu chốt đặt ra cần phải giải quyết.
* Về hoàn thiện khung khổ pháp lý:
Tiếp tục cải tiến mạnh mẽ, đồng bộ môi trường đầu tư để thu hút đầu tư trong mọi tầng lớp dân cư, thu hút đầu tư nước ngoài, đầu tư tỉnh ngoài vào Thái Bình với các mức đầu tư ưu đãi hấp dẫn, bằng các cơ chế chính sách hợp lý. Điều này sẽ có tác động tích cực thúc đẩy DNTN trong tỉnh phát triển. Ngày 31/3/2006 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ra Quyết định số 30/2006/QĐ-UBND2006 về việc ban hành quy định chính sách khuyến khích phát triển nghề và làng nghề với những khuyến khích ưu đãi về: hỗ trợ vốn đầu tư, về đất đai, về thuế và tiền thuê đất, về thông tin và thị trường, về khoa học - công nghệ và môi trường, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực làng nghề và ưu đãi về đào tạo lao động nhằm khuyến khích phát triền sản xuất kinh doanh, huy động tiềm năng và thế mạnh của các hộ gia đình, các doanh nghiệp tham gia phát triển làng nghề truyền thống và các lĩnh vực tỉnh chú trọng.
Đổi mới quản lý nhà nước đối với các DNTN. Thực hiện phương châm Nhà n- ước không can thiệp sâu vào nội bộ và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đảm bảo quyền tự do, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của các DNTN. Xây dựng một môi trường bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tôn vinh những doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu, làm ăn có hiệu quả theo qui chế khen thưởng doanh nghiệp của tỉnh.
Trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật cần có sự tham gia rộng rãi của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và đặc biệt là có sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp, doanh nhân bởi vì họ là đối tượng chịu sự điều chỉnh của các văn bản đó. Quá trình thực hiện cũng cần thường xuyên tiếp nhận thông tin, đối thoại với các đối tượng thuộc khu vực tư nhân. Điều này sẽ giúp việc soạn thảo và thực thi tốt hơn các chính sách đối với khu vực tư nhân nói chung và DNTN nói riêng, nhờ đó tiến tới hoàn thiện khung khổ pháp lý cho sự phát triển các DNTN ở cấp tỉnh và rộng hơn nữa là cấp quốc gia.
Thường xuyên công khai các chính sách, qui định mới và tiến hành đánh giá các tác
động của các chính sách đó tới các doanh nghiệp, xây dựng hệ thống thu thập thông tin một cách chính thức các ý kiến thắc mắc của DNTN. Một mặt, nhằm phát hiện những qui định trái với lợi ích của doanh nghiệp và trái với qui phạm pháp luật khác. Mặt khác, giúp các doanh nghiệp nắm rõ các cơ chế chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo hướng tích cực, hiệu quả. Việc thu thập cần tiến hành có tính định kỳ và trở thành việc làm thường xuyên. Các cơ quan này phải có trách nhiệm thông báo lịch trình giải quyết các khiếu nại của DNTN và xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, công chức làm sai. Có như vậy mới tạo được lòng tin trong giới doanh nhân vào lập trường và quyết tâm của chính quyền là cùng nhau xây dựng và phát triển. Đây là một trong những yếu tố quyết định tốc độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân nói chung và các DNTN nói riêng.
* Đẩy mạnh cải cách hành chính:
Tiếp tục cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính, giải quyết nhanh gọn các thủ tục khi doanh nghiệp yêu cầu. Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ra Quyết định số: 32/2006/QĐ- UBND2006 ngày 07/4/2006 về việc ban hành chương trình cải cách hành chính tỉnh giai đoạn 2006 - 2010, cụ thể là:
- Các cơ quan kế hoạch và đầu tư chủ trì phối hợp với cơ quan công an, thuế rà soát lại qui trình, thủ tục tại các khâu của quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp, bao gồm:
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, khắc dấu, đăng ký mã số thuế và mua hoá đơn.
Trên cơ sở đó xây dựng một qui trình, thủ tục hợp lý, đúng luật để đăng ký thành lập doanh nghiệp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian xử lý công việc. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về chỉ số PCI 2006 - Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2006 công bố ngày 1/7/2006 thì chi phí gia nhập thị trường của tỉnh Thái Bình đứng ở vị trí 46 trên tổng số 64 tỉnh được điều tra đánh giá. Điều này cho thấy thời gian gia nhập thị trường của Thái Bình ở mức trung bình thấp. Vì vậy, xây dựng một qui trình hợp lý là vấn đề cấp thiết đặt ra cho tất cả các cơ quan quản lý có liên quan trong tỉnh.
- Các cơ quan chuyên ngành rà soát lại các giấy phép con, loại bỏ những giấy phép không còn hiệu lực thuộc ngành quản lý và triển khai áp dụng cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” trong việc cấp các loại giấy phép và chứng chỉ hành nghề một cách nhanh chóng cho các doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp giảm chi phí khởi sự doanh nghiệp đến mức thấp nhất. Hàng năm, ngoài việc tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo tỉnh với các doanh nghiệp thuộc các ngành và các cấp, chính quyền huyện, thị xã đều phải đưa vào chương trình, kế hoạch của mình trong việc gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp nhằm giải quyết tất cả những khó khăn, vướng mắc tại địa phương. Qua đó doanh nghiệp có thể nhận được những tham vấn về kinh doanh, nộp hồ sơ, thực hiện thủ tục hoàn thuế và khai thác những thông tin nhanh chóng và chi phí thấp nhất. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình, các ngành cần có kế hoạch để trả lời và giải quyết nhanh chóng cho các doanh nghiệp những vấn đềể mà doanh nghiệp thắc mắc, kiến nghị Nhà nước về chính sách về vốn, đất đai, xử lý môi trường, thuế…
Điều này giúp cải thiện môi trường đầu tư, nghĩa là thủ tục hành chính sẽ hiệu quả và thuận tiện hơn đối với doanh nghiệp, qua đó nâng cao tỷ lệ đầu tư, giúp các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt hơn, góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm.
3.2.1.3. Tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân
Trong nền kinh tế thị trường, sự quản lý của nhà nước đối với DNTN là rất cần thiết và quan trọng. Sự quản lý của nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các DNTN hoạt động đúng định hướng và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp. Nếu sự quản lý của nhà nước thiếu một cơ chế chính sách đúng đắn, quản lý thiếu khoa học sẽ làm cho nguồn lực kinh tế phân bổ kém hiệu quả, những nơi cần thiết lại không được phân bổ nguồn lực, những nơi quá dư thừa thì lại được phân bổ nhiều dẫn tới sử dụng các nguồn lực không hiệu quả, lãng phí, không phát huy được vai trò sáng tạo của các chủ thể trong nền kinh tế.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với DNTN ở Thái Bình hiện nay cần thực hiện tốt các nội dung cơ bản sau:
- Rà soát, đánh giá lại các qui hoạch phát triển ngành nghề trên địa bàn tỉnh, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các qui hoạch phát triển ngành nghề cho phù hợp với thực tế và phù hợp với điều kiện phát triển của các doanh nghiệp và định hướng của tỉnh trong tương lai. Cụ thể, tiếp tục duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, lâu đời, vốn là thế mạnh của tỉnh như dệt, chạm bạc,… đồng thời du nhập thêm nhiều ngành nghề mới trên cơ sở khai thác các tiềm năng sẵn có, tận dụng nguồn nhân lực dồi dào.
- Xây dựng và công bố qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch phát triển ngành nghề, qui hoạch chi tiết về sử dụng đất, qui hoạch phát triển đô thị, qui hoạch phát triển khu công nghiệp, làng nghề, qui hoạch phát triển nguyên liệu để người dân và doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư đều được thông tin đầy đủ, chính xác nhất. Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có lựa chọn cơ hội đầu tư theo khả năng và sở trường của mình. Đến nay, tại các khu công nghiệp của tỉnh Thái Bình đã được lấp đầy 85 - 100%
diện tích, nhiều DNTN đã được phân đất kinh doanh trong các KCN, nhiều KCN đang được nghiên cứu để xây dựng nhằm thu hút vốn đầu tư (Tỉnh đang quy hoạch xây dựng thêm 2 KCN mới là Ngã ba Đọ và Gia Lễ với diện tích trên 200 ha với tổng số vốn đầu tư trên 200 tỷ đồng) đồng thời quy hoạch làng nghề thành một chu trình sản xuất tiêu thụ khép kín và hiệu quả theo hướng công nghiệp hiện đại. Điều này góp phần tạo cơ hội cho các doanh nghiệp giải quyết vấn đề quỹ đất, khuyến khích hình thành và phát triển các doanh nghiệp mới.
- Xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp trao đổi thông tin và cụ thể hoá thẩm quyền trách nhiệm của các cơ quan kế hoạch và đầu tư, các sở, ngành kỹ thuật, công an tỉnh và thanh tra nhà nước tỉnh, cục thuế, cục thống kê, chi cục quản lý thị trường và UBND các huyện, thị xã trong việc hỗ trợ và quản lý nhà nước đối với DNTN sau khi đăng ký kinh doanh.
- Rà soát lại bộ máy các cơ quan đăng ký kinh doanh từ tỉnh đến huyện, thị xã và xây dựng phương án củng cố, kiện toàn theo yêu cầu nâng cao năng lực để thống nhất thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp.
- Các ngành, các cấp căn cứ vào chức năng nhiệm vụ phải tăng cường trách nhiệm của mình trong việc chủ động triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Đồng thời kiên quyết xử lý những doanh nghiệp làm ăn vi phạm pháp luật, vi phạm lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp khác và vi phạm lợi ích của người tiêu dùng, có các chế tài chặt chẽ và nghiêm khắc hơn nhằm tạo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp.
Tóm lại đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với DNTN là tránh sự can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Thay vào đó nhà nước chỉ định hướng DNTN phát triển theo đúng mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.
3.2.1.4. Thực hiện các chính sách phù hợp để cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, đồng thời bảo vệ môi trường và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với DNTN ở Thái Bình hiện nay, thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh là một vấn đề khó khăn mà các doanh nghiệp đang gặp phải. Do đó để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cần phải có một chính sách đúng, phù hợp với nhu cầu thực tiễn đặt ra. Để tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp cần phải thực hiện một số giải pháp sau:
Trên cơ sở Luật đất đai sửa đổi và các nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thi hành, xây dựng quy trình giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng quỹ đất theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất và thế chấp khi vay vốn.
Ban hành quy chế phân bổ mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Lập quy hoạch chi tiết sử dụng đất đến tận xã, phường và công khai các quy hoạch này để đảm bảo cơ sở chắc chắn cho việc giao đất, cho thuê đất để các doanh nghiệp tiếp cận với quỹ đất phục vụ sản xuất kinh doanh. Có đến 70%
doanh nghiệp được hỏi cho rằng nếu tiếp cận được đất cho sản xuất thì họ sẽ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất. Vì vậy, công việc này là yêu cầu cấp thiết và cần phải thực hiện càng sớm càng tốt nhằm tạo tiền đề cho việc thu hút vốn đầu tư và hình thành các DNTN mới. Giải pháp này đã được thực hiện tại Bình Dương và đã thu được kết quả tốt đẹp. Theo quy định, để có thể được cấp và cho thuê đất, doanh nghiệp buộc phải có được sự đồng ý từ các cấp thôn, xã, huyện, sở tài nguyên môi trường, sở tài chính, ban chỉ huy quân sự địa phương và rất nhiều các cơ quan ngành liên quan tùy theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại không quy định cụ thể trách nhiệm, thời gian mà các cấp trung gian này phải phản hồi. Hậu quả là doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và chi phí. Tỉnh Bình Dương đã đưa ra giải pháp là thành lập Hội đồng tư vấn đầu tư với các thành viên là đại diện của các cơ quan liên quan. Vì vậy, khi xem xét phê duyệt cấp hay cho doanh nghiệp thuê đất chỉ cần triệu tập một cuộc họp là có thể thống nhất được ý kiến từ tất cả các cơ quan liên quan.
Giải quyết những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư và kiên
quyết thu hồi đất đối với những khu vực sử dụng đất đai sai mục đích, không hiệu quả, lãng phí tài nguyên đất, đảm bảo giữ gìn môi trường sinh thái. Xây dựng được tổ chức phát triển quỹ đất trực thuộc Sở Tài nguyên và môi trường.
Làm tốt công tác chuẩn bị dự án đầu tư và đầu mối với các Bộ, ngành Trung ương, thông qua đó tranh thủ sự hỗ trợ các nguồn vốn đầu tư của Trung ương để phát triển kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp.
Sửa đổi các quy định về đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất đang làm mặt bằng sản xuất kinh doanh hoặc đất doanh nghiệp mua lại bằng quyền sử dụng đất đã đủ các điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài. Đối với những loại đất này đều có thể giao dịch hợp pháp trên thị trường bất động sản và được coi là tài sản hợp pháp có thể thế chấp vay vốn.
Căn cứ vào Luật đất đai và các quy định của Nhà nước về phân cấp quản lý đất đai, tỉnh Thái Bình tạo mọi điều kiện thuận lợi để các DNTN được thuê đất theo khung giá phù hợp đối với từng loại đất như: đất nội thành (thành phố, thị trấn); đất ngoại thị (đất khu dân cư, đất chuyên dùng, đất các khu công nghiệp, ven quốc lộ, đất làng nghề). Các loại đất nói trên có mức giá từ 0,03USD/m2/năm - 0,18 USD/m2/năm hoặc từ 50 USD - 150 USD/ha/năm theo từng loại đất. Riêng đất bãi bồi ven biển, diện tích mặt nước tuỳ theo điều kiện thuận lợi có mức giá từ 8.000 đồng/m2/năm - 16.000 đồng/m2/năm. Về thời hạn cho thuê đất để các DNTN đầu tư SXKD tuỳ theo yêu cầu của dự án nhưng không quá 49 năm.
Đối với những diện tích đất sử dụng sai mục đích hay bỏ hoang thì chính quyền thu hồi để cho các DNTN thuê làm mặt bằng SXKD.
Có chính sách giảm các loại thuế, phí trong việc đăng ký mua hoặc chuyển quyền sử dụng đất. Đặc biệt là khuyến khích các DNTN sử dụng những vùng đất còn nhiều đất chưa được sử dụng, đất có độ màu mỡ thấp và các điều kiện tự nhiên thiếu thuận lợi.
3.2.1.5. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó có doanh nghiệp tư nhân
Vấn đề nguồn nhân lực rất quan trọng đối với DNTN Thái Bình hiện nay. Tuy