VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
2.1. Hồi quy với dữ liệu bảng
2.3.2. Sự kết hợp chính sách theo lý thuyết bộ ba bất khả thi
Dựa vào kết quả tính toán các chỉ số độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính trong thực tế của các quốc gia, luận án xác định mẫu hình bộ ba bất khả thi của từng quốc gia trong mẫu quan sát như sau:
Hình 2.8: Sự lựa chọn chính sách bộ ba bất khả thi ở các quốc gia
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO China
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Hongkong
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO India
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Indonesia
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Korea
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Malaysia
Nguồn: tổng hợp và tính toán từ nguồn IMF
Kết quả mô tả cho thấy mỗi quốc gia trong mẫu quan sát đã có sự lựa chọn khác nhau ở từng mục tiêu chính sách, song đều có điểm chung là chỉ số độc lập tiền tệ (MI) hầu hết giảm nhẹ suốt những năm gần đây, tạo điều kiện cho việc gia tăng hội nhập tài chính trong khi vẫn muốn duy trì mức độ ổn định tỷ giá nhất định. Đồ thị cũng chỉ ra rằng tất cả các quốc gia luôn phải đánh đổi giữa các mục tiêu chính sách bộ ba bất khả thi và có xu hướng kết hợp đồng thời cả ba mục tiêu ở vùng trung gian thay vì lựa chọn tuyệt đối hai trong ba chính sách.
Trong số 10 quốc gia, Singapore và Hong Kong có những ưu tiên rõ rệt nhất trong việc lựa chọn hai mục tiêu là tự do hóa dòng vốn và chính sách tỷ giá ổn định. Những nền kinh tế khác như Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá ở mức cao đi kèm với tự do hóa gia tăng và độc lập tiền tệ ở mức thấp. Ngược lại là trường hợp Philippines với chính sách hội nhập tài chính được ưu tiên hàng đầu đi kèm với độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá ở mức thấp. Những ràng buộc của bộ ba bất khả thi được thể hiện rõ hơn ở Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia – nơi thường xuyên cho thấy sự đánh đổi giữa các mục tiêu chính sách. Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Philippines
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Singapore
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Thailand
0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00 1.20
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012
MI ER FO Vietnam
Patnaik và Shah (2010) cho 11 nền kinh tế Châu Á, mặc dù các chỉ số bộ ba bất khả thi trong nghiên cứu năm dựa vào dữ liệu của Chinn và Ito.
Về Việt Nam, các chỉ số bộ ba bất khả thi cũng cho thấy quốc gia đang hướng tới một sự lựa chọn trung gian, tức là điểm phối hợp ba chính sách nằm bên trong tam giác minh họa lý thuyết bộ ba bất khả thi. Ngay cả những năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ Việt Nam vẫn không thực sự theo đuổi tuyệt đối và cũng không từ bỏ hoàn toàn bất kỳ một mục tiêu nào của bộ ba chính sách. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng mức độ mở cửa tài khoản vốn của Việt Nam đã gia tăng liên tục theo thời gian, do đó sự đánh đổi giữa ổn định tỷ giá và hiệu quả của chính sách tiền tệ là điều không tránh khỏi.
Như có thể quan sát trong Hình 2.9, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam rất lớn ngay sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO. Vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán cũng tăng mạnh (chỉ số VN-Index đạt mức cao nhất trên 1.100 điểm trong năm 2007). Kết quả là NHNN phải tung tiền đồng ra mua ngoại tệ vào (khoảng 150 ngàn tỷ đồng để mua vào 9 tỷ USD) để đảm bảo tiền đồng không lên giá, gây bất lợi cho xuất khẩu. Kết quả là lạm phát năm 2008 tăng mạnh, lên mức cao nhất vào đầu năm là 28%. Sau đó, NHNN lại thi hành nhiều biện pháp thắt chặt tiền tệ như tăng gấp đôi lượng dự trữ bắt buộc (từ 5% lên 10% vào cuối năm 2007), phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 23.500 tỷ đồng để rút bớt lượng tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát. Như vậy, với dòng vốn vào tăng mạnh cộng với mục tiêu giữ tiền đồng không tăng giá đã làm chính sách tiền tệ không độc lập khi phải thực hiện các biện pháp bị động để kiềm chế lạm phát. Rõ ràng Việt Nam đã không đồng thời đạt được cả ba mục tiêu chính sách theo lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Hình 2.9: Vốn F I vào Việt Nam qua các năm (F I thực hiện, triệu US )
Nguồn: số liệu từ Tổng cục thống kê
Sang năm 2009, khi lượng vốn vào giảm dần đi và khủng hoảng kinh tế lan rộng, chính phủ Việt Nam phải tung ra gói kích cầu để kích thích nền kinh tế. Trong trường hợp này, NHNN giữ được chính sách tiền tệ độc lập nhưng đã không thể ngăn được sự giảm giá của đồng Việt Nam. Lại một lần nữa chúng ta có thể quan sát được sự ràng buộc của lý thuyết bộ ba bất khả thi đối với các mục tiêu chính sách.