Bài 3. Kiểm tra, điều chỉnh bơm cao áp PE trên băng thử
1. Nguyên tắc cân góc độ dầu phun
Đối với các loại bơm pittông có vạt xéo thì ta có hai phương pháp cân : 1.1. Phương pháp cân ngưng trào mạch đóng.
Bơm cao áp loại pittông có cạnh vạt xéo nằm phía dưới phải thực hiện phương pháp mạch đóng, tức là hiệu chỉnh đệm đẩy thế nào khi pittông di chuyển lên, cạnh ngang phía trên đầu pittông vừa án lỗ nạp và thoát đúng thời điểm, liên hệ với góc độ của cốt bơm.
Điều lưu ý là :
a) Cạnh ngang của đầu pittông không thay đổi thời điểm phun cũng như góc độ phun mặc dù ta có xoay pittông bơm, trừ trường hợp cúp dầu.
b) Cạnh vạt xéo nằm bên mặt, bên trái đều không ảnh hưởng gì đến quá trình cân bơm.
1.2. Phương pháp cân dầu trào mạch hở.
Bơm nhiên liệu cao áp loại pittông có cạnh vạt xéo nằm phía trên được thực hiện theo phương pháp dầu trào mạch hở tức là hiệu chỉnh đệm đẩy thế nào khi pittông bơm di chuyển lên, cạnh ngang phía dưới pittông vừa mô lỗ thoát đúng thời điểm dứt phun dầu.
Điều lưu ý là :
a) Cạnh vạt xéo bên trên của pittông tạo thời điểm khởi phun thay đổi nếu ta xoay pittông tới hoặc lui, vì thế phải lấy cạnh ngang của thời điểm dứt phun dầu làm chuẩn để cân. Cạnh ngang nơi phía dưới pittông không thay đổi thời điểm dứt phun dầu cũng như góc độ dứt phun, mặc dù ta có xoay pittông qua lại, trừ trường hợp cúp dầu.
42
b) Cạnh vạt xiên nằm bên mặt hay bên trái không ảnh hưởng gì đến quá trình cân bơm.
Chú ý : Đối với pittông bơm có cạnh vạt xéo bên trên và bên dưới của pittông thì có đặc tính khởi và dứt phun dầu thay đổi. Do đó, tuỳ trường hợp cụ thể để thực hiện phương pháp mạch đóng hoặc mạch mở theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất ghi nơi bảng hiệu bơm.
1. Gá bơm cao áp lên băng thử Bước 1: Gá bơm lên băng thử
Dùng đồ gá lắp cho chính xác và chắc chắn Bước 3: Gắn các ống dầu vào và ra
a. Gắn ống C11 đến lỗ vào bơm b. Gắn ống C13 đến lỗ dầu ra
Bước 4: Đặt cần chế độ A10 đúng vị trí In (Inline) Bước 5: Đặt cần áp suất cao A 9 ở vị trí Stop Bước 6: Xoay núm bơm dầu B10 vị trí On
Bước 7: Chỉnh núm áp suất C7 và nhìn đồng hồ C5 đạt 1,6 Kg/ cm2 Bước 8: Xoay núm chiều quay A1 đúng chiều quay của bơm
Bước 9: Đặt số lần phun bằng cách chỉnh núm Strock Bước 10: Đặt số vòng quay RPM ở A2
2. Cân chỉnh góc phun Bước 1: Khởi động băng thử - Đóng cầu dao điện - Mở khóa băng thử
Bước 2: Mở bơm tiếp vận cho dầu vào bơm cao áp - Chỉnh áp lực dầu cho đúng (2kg/cm2 )
Bước 3: Để thanh răng qua vị trí trung bình
Bước 4: Tháo đầu nối ống của tổ bơm số 1 (gần đệm nối) lấy van cao áp ra và lắp lò xo đầu nối ống và siết vừa phải.
43
Bước 5: Quay bằng tay vành nối cốt bơm đến khi pittông của tổ bơm số 1 hạ xuống phía dưới lỗ nạp được ló dạng, dầu xuyên qua phía trên đầu pittông và trào lên lỗ thoát (miệng đầu nối ống). Rồi tiếp tục tuỳ theo loại :
a. Loại bơm có vạt xéo phía dưới 1) Loại có dấu cân bơm :
Ví dụ : Loại 6 xy lanh
a. Quay cốt bơm theo chiều quay đến khi cân bơm ở đệm nối ngay mũi chỉ dầu phải ngưng trào. Nếu đã ngưng trào hay chưa thì phải chỉnh đệm đẩy xuống hay lên cho vừa ngưng trào.
b. Xoay mâm chia độ để số 00 ngay mũi chỉ cố định ở thân bơm.
c. Ráp van cao áp của tổ bơm số 1 lại.
d. Tháo ốc lục giác, lấy van cao áp, ráp lò xo ống lục giác của tổ bơm có thứ tự thì nổ kế tiếp số 5.
e. Quay cốt bơm để số 600 ngay mũi chỉ. Lúc này dầu sẽ ngưng trào, nếu chưa phải chỉnh đệm đẩy để dầu vừa ngưng trào.
f. Tiếp tục quay cốt bơm và thực hiện ở các góc độ kế tiếp 1200, 1800, 2400, 3000 tương ứng với các tổ bơm 3, 6, 2, 4.
2) Loại bơm không có dấu cân bơm.
a. Quay cốt bơm để pittông số 1 lên cao nhất (TĐT). Dùng cây vặn vít bẩy đệm đẩy để kiểm tra khe hở giữa đỉnh pittông và mặt dưới bệ xú báp. Khe hở này ở trong giới hạn từ 0,3 – 0,7 ly (0.012” – 0.028”). Nếu chưa được phải chỉnh đệm đẩy để có khe hở trên.
b. Quay cốt bơm để pittông bơm xuống TĐH cho dầu trào ra ở ống lục giác, tiếp tục quay cho đến khi dầu ngưng trào.
c. Tiếp tục thực hiện các động tác b, c, d, e, f, như loại có dấu.
b. Loại bơm có vạt xéo phía trên.
Phương pháp thực hiện tương tự như loại vạt xéo dưới chỉ khác công tác thực hiện trước khi để mâm chia độ ở 00, cụ thể như sau :
44
a. Quay cốt bơm để pittông số 1 xuống thấp nhất cho dầu trào ra ở ống lục giác, tiếp tục quay cho đến khi dầu ngưng trào. Sau đó quay từ từ cho dầu vừa trào ra lại. Xoay mâm chia độ để số 00 ngay mũi chỉ.
b. Thực hiện các động tác còn lại giống như các động tác b, c, d, e, f, như loại có dấu vạt xéo dưới.
Lưu ý :
Đối với loại vạt xéo trên cũng như dưới. Khi đã thực hiện xong mỗi tổ bơm cần phải kiểm tra lại khe hở ở đỉnh pittông và dưới bệ xú báp. Khe hở tối thiểu là 0,25 ly. Nếu dưới mức trên phải hạ vít chỉnh xuống một chút, mặc dù góc độ phun có sai lệch chút ít.
3. Cân Đồng lượng bơm cao áp pe 3.1. Mục đích
Tập cân lưu lượng dầu của các loại bơm cao áp pittông và nhiều tổ bơm PE.
- Biết thiết kế các trang thiết bị dùng cho công tác này.
- Nắm vững nguyên tắc định phân lưu lượng nhiên liệu của mọi kiểu pittông bơm cao áp để thực hiện đúng phương pháp.
3.2.2. Động tác thực hiện.
Phương pháp cân lưu lượng này ứng dụng cho một bơm cao áp pittông APE kiểu American Bosch. Có đặc điểm ấn định do nhà sản xuất cung cấp số liệu đầy đủ cho mọi chế độ làm việc của động cơ.
Bước 1: Lắp bơm cao áp vào máy thử bơm có hệ thống gá lắp thích hợp cho từng loại và kiểu bơm. Tháo rời bộ điều tốc khỏi bơm.
Bước 2: Di chuyển thanh đến vị trí trung bình và cho máy thử chạy trong 250 v/p trong 5 phút để ổn định hệ thống bôi trơn của máy thử và bơm cao áp đồng thời để xả gió trong bơm cao áp.
Bước 3: Xác định đơn vị đo lường cho thích hợp, về dung lượng của nhiên liệu đo được
45
Bước 4: Ví dụ : Bơm cao áp mang đặc điểm APE… được hướng dẫn trong công tác hiệu chỉnh như sau :
Vận tốc 900 v/p, thanh răng ở vị trí 12 mm, lưu lượng 96 mm khối trong một cuốc.
Bước 5: Các ống nghiệm dung tích được ghi theo đơn vị là ml (1ml = 1000mm khối) do đó để việc kiểm nghiệm được chính xác so với lưu lượng hứng được nhiều hơn ta có thể hứng một loạt 100 cuốc thay một cuốc như vậy lưu lượng là : 96 . 100 = 9600 mmkhối = 9.6 ml. Ta cũng có thể tăng gấp 5 lần cho mỗi loại tuỳ nơi thể tích có thể chứa được của ống nghiệm : 9,6 . 5 = 48 ml = 48 cc.
Bước 6: Lưu lượng hứng được ở mức có tải của bơm cao áp được ấn định dung sai là 4% cho các loại bơm mới và 8% cho các loại bơm cũ.
Ví dụ :
Sau khi hứng được trong các ống nghiệm ta có : 9,6; 9,7; 9,8; 9,5; 9,4 và được áp dụng cách tính như sau : Lấy lưu lượng cao nhất 9,8 cc trừ đi lưu lượng nhỏ nhất 9,4 cc ta được 0,4 cc. Sai biệt này đem chia cho số lượng cao nhất thì được 4% đây là dung sai được ấn định.
Chú ý :
Muốn cho việc hiệu chỉnh được dễ dàng, đẩy thanh răng từ khoảng 12 mm trở về chiều cúp dầu như thế đầu vít siết vòng răng hướng ra ngoài có thể chui lưỡi vặn vít vào rảnh được thẳng góc và vẫn chắc để nới ra đồng thời dùng cây vặn vít kềm vòng răng đứng yên, tay trái dùng cây que để chỉnh ống xoay pittông qua lại để hiệu chỉnh lưu lượng.
Bước 7: Lưu lượng nhiên liệu được tăng khi ta xoay ống xoay pittông qua chiều di chuyển của thanh răng dẫn đến cúp dầu. Lưu lượng giảm khi xoay ống xoay pittông qua chiều di chuyển của thanh răng dẫn đến tăng nhiên liệu.
Lưu ý :
46
Sau khi hiệu chỉnh xong lưu lượng, dùng cây vặn vít siết chặc vít kềm vòng răng trước khi tiếp tục liên tục tổ bơm khác.
Bước 8: Kiểm tra lại lưu lượng nhiên liệu ở chế độ cầm chừng 225 v/p dung sai lưu lượng ấn định trong chế độ này khoảng 10 – 20% theo sự tính toán như mục 6.
Bước 9: Có trường hợp không đề cập đến lưu lượng ở chiều tối thiểu thì ta cần lưu ý đến vị trí cúp dầu “Stop” của thanh răng và khi ta kéo thanh răng theo chiều có dầu thì nhiên liệu phải chớm xịt, có thể nếu kéo từ 3 -4 mm thì lưu lượng hứng là 3,4 cc trong 80 cuốc nếu ở mực 5.
Bước 10: Khi ráp bơm dấu đồng lượng ghi nơi ống xoay và vòng răng đã bị xóa, thì sau khi hiệu chỉnh lưu lượng xong thì ta ghi lại dấu mới.
Bước 11: Khi bơm cao áp của hãng này có gắn bộ điều tốc thì lưu ý nơi mặt ép trên của nắp đậy bộ điều tốc có 2 lằn gạch ngang, và lằn gạch ngang trên của mỏ chận kiểm lực của bộ điều tốc phải ngay nhau. Khi bộ điều tốc ở thế vững của điều kiện có tải. Có thể hiệu chỉnh bơm ở mọi chế độ khi có bộ điều tốc.