Khởi kiện, thụ lý tranh chấp

Một phần của tài liệu Đề tài Thủ tục tố tụng trọng tài (Trang 35 - 39)

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

2.3 Khởi kiện, thụ lý tranh chấp

Để giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài, nguyên đơn phải gửi đơn kiện đến đúng Trung tâm Trọng tài mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn, bởi vì, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài được xác định bởi sự lựa chọn của các bên tranh chấp. Chỉ có Trung tâm Trọng tài nào được các bên lựa chọn mới có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp giải quyết tranh chấp tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập thì nguyên đơn phải gửi đơn kiện cho bị đơn.

Đơn kiện phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

Ngày, tháng, năm viết đơn;

Tên và địa chỉ của các bên;

Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

Các yêu cầu của nguyên đơn;

Trị giá tài sải mà nguyên đơn yêu cầu;

Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài mà nguyên đơn đã chọn.

Đơn kiện phải được gửi đến Trọng tài trong thời hiệu khởi kiện mà pháp luật quy định đối với từng loại tranh chấp.

Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu, chứng cứ. Các bản sao phải có chứng thực hợp lệ. Đồng thời, nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài.

15 Khoản 2 Điều 7 PLTT.

16 Đỗ Văn Đại, “Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trong tài ở Việt Nam”, http://www.viac.org.vn/vi- VN/Home/baivietlienquan/2009/02/253.aspx, [truy câp: 21/12/2009]

GV hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Bích SV thực hiện: Nguyễn Thị Huệ thẩm quyền của mình không, đặc biệt là thỏa thuận trọng tài của các bên có chọn đích danh Trung tâm Trọng tài mà nguyên đơn gửi đến hay không. Nếu thỏa thuận Trọng tài chọn đích danh Trung tâm Trọng tài và tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, Trung tâm Trọng tài sẽ thụ lý đơn kiện và bắt đầu có trách nhiệm giải quyết.

Tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi Trung tâm Trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập.

Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu kèm theo mà nguyên đơn cung cấp và danh sách Trọng tài viên của Trung tâm.

Bị đơn khi bị kiện có quyền có những ý kiến phản bác một phần hoặc toàn bộ đơn kiện. Cũng có thể bị đơn cho rằng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp…thì khi đó bị đơn có quyền nêu lên ý kiến trong một văn bản gửi cho trọng tài. Văn bản này được gọi là bản tự bảo vệ.

Nếu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu khác kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài bản tự bảo vệ, nếu các bên đã chọn Trung tâm Trọng tài để giải quyết. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài do các bên thành lập thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu khác kèm theo, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bản tự bảo vệ và tên Trung tâm Trọng tài mà mình đã chọn.

Bản tự bảo vệ phải gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;

Tên và địa chỉ của bị đơn;

Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ.

Theo yêu cầu của bị đơn, thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn ba mươi ngày, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp.

GV hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Bích SV thực hiện: Nguyễn Thị Huệ của nguyên đơn. Đơn kiện lại phải được gửi cho Hội đồng Trọng tài đồng thời gửi cho nguyên đơn trước ngày mở phiên họp của Hội đồng Trọng tài giải quyết đơn kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn phải có bản trả lời đơn kiện lại trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện lại. Bản trả lời phải được gửi cho bị đơn và Hội đồng Trọng tài. Hội đồng Trọng tài sẽ giải quyết đơn kiện lại cùng lúc với việc giải quyết đơn kiện.

2.3.2 Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật có quy định thời hiệu khởi kiện thì thực hiện theo quy định của thời hiệu khởi kiện đó. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng.

Thời hiệu đối với việc giải quyết tại Tòa án hay Trọng tài cần được xem xét thận trọng. Việc không tuân thủ thời hiệu có thể sẽ dẫn đến việc mất quyền khởi kiện.

Bộ luật Dân sự quy định về hậu quả pháp lý của việc hết thời hiệu khởi kiện như sau

“thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự” (Điều 154 Bộ luật Dân sự 2005).

Điều 21 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định: “Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng Trọng tài là 2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp…”. Cách quy định này dẫn đến nhiều khó khăn cho đương sự và cả Trọng tài khi xem xét thụ lý. Bởi không biết căn cứ vào cơ sở nào để xác định chính xác ngày xảy ra tranh chấp. Thực tiễn kinh doanh cho thấy, ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm với ngày xảy ra tranh chấp không phải lúc nào cũng là một, thông thường người ta chỉ có thể có căn cứ để xác định ngày lợi ích bị xâm phạm chứ khó có thể có căn cứ để xác định ngày xảy ra tranh chấp. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại đều xác định thời hiệu khởi kiện kể từ ngày quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, nên cách quy định này của Pháp lệnh đã thể hiện sự bất cập và gây nhiều khó khăn cho thực tiễn áp dụng. Đề xuất, “đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện bằng trọng tài là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại”.

GV hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Bích SV thực hiện: Nguyễn Thị Huệ Địa điểm giải quyết tranh chấp là nơi công việc giải quyết tranh chấp được tiến hành. Vấn đề xác định địa điểm giải quyết tranh chấp thích hợp có ý nghĩa tạo điều kiện cho các bên tranh chấp. Chính vì thế, mà theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tranh chấp các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh chấp. Việc lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài chỉ được Hội đồng trọng tài quyết định khi các bên không đạt được sự thỏa thuận, “các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp; nếu không có thỏa thuận thì Hội đồng Trọng tài quyết định, nhưng phải bảo đảm thuận tiện cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp”. Và đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì “các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh chấp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài”. Như vậy, quy định trên cho thấy quyền xác định địa điểm phiên họp giải quyết tranh chấp trước hết thuộc về các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chọn một nơi nào đó mà các bên cho là thuận tiện và đủ điều kiện để tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp. Chỉ khi các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được việc xác định địa điểm để tiến hành giải quyết tranh chấp thì khi đó Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định.

Địa điểm giải quyết tranh chấp không chỉ là địa điểm tiến hành phiên họp xét xử mà còn có thể là nơi tiến hành các thủ tục tố tụng khác có sự tham gia của một hoặc các bên, hoặc của người làm chứng.

Việc các bên được tự do thỏa thuận địa điểm tiến hành tố tụng là một đặc trưng của tố tụng trọng tài, xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích cho các bên tranh chấp, hạn chế sự phiền phức khi đi lại và giảm mức chi phí cho các bên. Điều đó cho thấy việc xác định địa điểm trọng tài hoàn toàn khác với việc xác định địa điểm tiến hành tố tụng trong tố tụng Tòa án. Trong tố tụng Tòa án, các bên không có quyền xác định địa điểm của phiên tòa xét xử cũng như nơi tiến hành các hoạt động tố tụng khác mà do pháp luật ấn định, những người tham gia tố tụng phải tuân theo.

Quyền tự do lựa chọn nơi tiến hành trọng tài của các bên đương sự không những được ghi nhận trong pháp luật về trọng tài của nước ta mà còn được pháp luật về trọng tài của các nước thừa nhận, được các tổ chức trọng tài trên thế giới tôn trọng.

Chẳng hạn, trong khoản 1 Điều 20 Luật mẫu UNCITRAL quy định: Các bên được tự do thỏa thuận nơi tiến hành trọng tài. Nếu không thỏa thuận, nơi tiến hành trọng tài sẽ được Hội đồng trọng tài quyết định căn cứ vào hoàn cảnh của vụ kiện, tới sự thuận tiện cho các bên.

GV hướng dẫn: TS. Dư Ngọc Bích SV thực hiện: Nguyễn Thị Huệ cũng quy định: Địa điểm tiến hành trọng tài sẽ do Tòa án ấn định trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Pháp lệnh Trọng tài thương mại cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, của bản quy tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài trên thế giới không quy định bắt buộc các bên phải xác định địa điểm trọng tài một cách chi tiết, song để tiến hành phiên họp xét xử cũng như những hoạt động tố tụng khác được tiến hành thuận lợi nhất trong thỏa thuận chọn địa điểm trọng tài các bên cần xác định địa điểm một cách cụ thể về địa danh, nơi tiến hành trọng tài. Điều đó cho phép các bên cũng như trọng tài viên không bị động khi phải tiến hành các hoạt động cần thiết.

Một phần của tài liệu Đề tài Thủ tục tố tụng trọng tài (Trang 35 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(63 trang)