Chương 4: THỰC TRẠNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CHO HÀNG XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT
4.3 Hiệu quả hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ cho hàng xuất khẩu tại
4.3.2 Tỷ trọng phương thức tín dụng chứng từ so với chuyển tiền và nhờ thu
Để đánh giá được thực trạng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho hàng xuất khẩu tại VCB Cần Thơ, ta xem xét tỷ trọng giá trị của phương thức này so với hai phương thức chuyển tiền và nhờ thu trong thanh toán xuất khẩu giai đoạn 2011 đến nay.
Bảng 4.8 Doanh số và tỷ trọng các phương thức thanh toán xuất khẩu tại VCB Cần Thơ giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: nghìn USD (giá trị), % (tỷ trọng) Chỉ tiêu
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Chuyển
tiền 130.338 56,90 119.586 54,83 136.960 57,24 Nhờ thu 49.408 21,57 59.104 27,10 66.426 27,76
L/C 49.334 21,54 39.403 18,07 35.906 15,00
Tổng 229.080 100,00 218.093 100,00 239.292 100,00 Nguồn: Phòng Thanh Toán Quốc Tế Vietcombank Cần Thơ
Hình 4.6 Tỷ trọng các phương thức thanh toán xuất khẩu giai đoạn 2011 – 2013
Dựa vào hình ta thấy, trong ba phương thức thanh toán xuất khẩu, chuyển tiền chiếm tỷ trọng cao nhất sau đó đến nhờ thu, L/C là phương thức chiếm tỷ trọng thấp nhất. Bên cạnh đó, tỷ trọng phương thức L/C còn giảm dần qua các năm trong khi chuyển tiền và nhờ thu có xu hướng tăng lên.
Phương thức chuyển tiền: tỷ trọng phương thức này biến động không đều nhưng có xu hướng tăng khi bước sang năm 2013. Cụ thể, năm 2011 chiếm 56,90% trong tổng doanh thu xuất khẩu tại VCB Cần Thơ; đến năm 2012, tỷ trọng giảm nhẹ xuống còn 54,83% và năm 2013 tỷ trọng có xu hướng tăng trở lại với 57,24%. Sự sụt giảm vào năm 2012 là do ảnh hưởng của sự biến động tình hình kinh tế nói chung và tình hình xuất khẩu trong thời gian này. Nhìn chung, phương thức này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh thu xuất
khẩu và có xu hướng tăng, có thể hiểu rằng do đây là hình thức thanh toán đơn giản, không đòi hỏi thủ tục rườm rà, thời gian xử lý nhanh chóng và chi phí thấp nên khách hàng ngày càng chọn lựa phương thức chuyển tiền tại VCB Cần Thơ. Tuy nhiên, phương thức này chỉ phù hợp với những lô hàng có giá trị vừa và nhỏ.
Phương thức nhờ thu: đây là phương thức chiếm tỷ trọng vừa phải nhưng lại có mức tăng ổn định qua các năm. Từ năm 2011 đến năm 2013, tỷ trọng này liên tục tăng từ 21,57% năm 2011 lên 27,10% năm 2012 và 27,76% năm 2013. Có thể thấy rằng, sự tăng trưởng tỷ trọng của phương thức nhờ thu là do sự sụt giảm của phương thức tín dụng chứng từ trong những năm qua. Tuy đây là phương thức thanh toán có chi phí thấp nhưng không đảm bảo được quyền lợi của bên xuất khẩu, việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của bên nhập khẩu, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian và không chịu bất kỳ trách nhiệm nào nếu bên nhập khẩu không thanh toán tiền.
Phương thức tín dụng chứng từ: đây là phương thức an toàn nhất trong ba phương thức thanh toán. Tuy nhiên, tỷ trọng của phương thức này lại giảm dần qua các năm. Năm 2011 tỷ trọng đạt 21,54%, con số này giảm khi bước sang năm 2012 chỉ còn 18,07% và tiếp tục sụt giảm khi bước sang năm 2013 khi chỉ chiếm 15,00% trong tổng doanh thu xuất khẩu. Nguyên nhân của sự giảm sút về doanh thu lẫn tỷ trọng trong phương thức này là do chi phí cao và thời gian khá lâu để thực hiện hợp đồng, hơn nữa phương thức này thường dùng để thanh toán các món hàng có giá trị lớn để đảm bảo an toàn quyền lợi của hai bên XNK, vì vậy việc thực hiện khá phức tạp, đòi hỏi nhiều thủ tục và phải có sự am hiểu của khách hàng khi đến giao dịch. Bên cạnh đó, nền kinh tế trong thời điểm này biến động không ngừng nên các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu chọn xuất khẩu các món hàng có giá trị nhỏ và ngắn hạn , vì thế thanh toán bằng L/C sẽ tốn kém về thời gian và chi phí, do đó các doanh nghiệp chuyển sang lựa chọn phương thức chuyển tiền và nhờ thu thay vì L/C.
Bước sang 6 tháng đầu năm 2014, tổng doanh thu xuất khẩu của ngân hàng và doanh số của hai phương thức chuyển tiền, nhờ thu tăng lên trong khi đó phương thức L/C lại tiếp tục với xu hướng giảm. Dưới đây là bảng tỷ trọng các phương thức 6 tháng đầu năm giai đoạn 2011 – 2013.
Bảng 4.9 Doanh số và tỷ trọng các phương thức thanh toán xuất khẩu tại VCB Cần Thơ 6 tháng đầu năm giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: nghìn USD (giá trị), % (tỷ trọng) Chỉ tiêu
6 tháng đầu năm 2013 6 tháng đầu năm 2014 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Chuyển tiền 54.460 55,85 60.307 57,87
Nhờ thu 27.400 28,10 31.585 30,31
L/C 15.658 16,06 12.319 11,82
Tổng 97.518 100,00 104.211 100,00
Nguồn: Phòng Thanh Toán Quốc Tế Vietcombank Cần Thơ
Hình 4.7 Tỷ trọng các phương thức thanh toán xuất khẩu 6 tháng đầu năm giai đoạn 2013 – 2014
Qua bảng số liệu ta thấy, cùng với sự giảm sút về doanh số, tỷ trọng của phương thức tín dụng chứng từ có xu hướng giảm khi bước sang năm 2014, doanh số 6 tháng đầu năm chiếm 11,82% trong khi cùng kỳ năm 2013 chiếm 16,06%, giảm 4,24%. Ngược lại, tỷ trọng phương thức chuyển tiền và nhờ thu tăng lên; cụ thể 6 tháng đầu năm nay, phương thức chuyển tiền chiếm 57,87%, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm 2013; nhờ thu chiếm 30,31%, tăng 2,21%. Có thể thấy rằng, sự sụt giảm tỷ trọng của phương thức tín dụng chứng từ là do sự tăng trưởng về tỷ trọng của hai phương thức còn lại trong những năm qua.
Từ các phân tích trên, ta thấy tỷ trọng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho hàng xuất khẩu tại VCB Cần Thơ liên tiếp giảm dần. Dù đây là phương thức có tính an toàn cao cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu nhưng chi phí lại lại khá cao, đòi hỏi nhiều thủ tục hơn so với hai phương thức còn lại, sử dụng phương thức này tại ngân hàng thường là các doanh nghiệp xuất khẩu
lớn, có uy tín trên trường thế giới, sử dụng L/C cho thanh toán các lô hàng có giá trị lớn; trong khi trên địa bàn TPCT, phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có nhiều kinh nghiệm nên các lô hàng xuất đi thường có giá trị không lớn, chính vì vậy họ lựa chọn sử dụng chuyển tiền hoặc nhờ thu để tiết kiệm chi phí và thời gian. Trước khó khăn trên, VCB Cần Thơ cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao giá trị thanh toán cũng nhƣ tỷ trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bởi phương thức này mang lại giá trị cao đóng góp vào doanh thu xuất khẩu nói riêng và tổng doanh thu XNK nói riêng, góp phần gia tăng thị phần của ngân hàng, giữ vững uy thế của VCB Cần Thơ trong lĩnh vực thanh toán quốc tế.