Các khái niệm chính của đề tài

Một phần của tài liệu Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tại các trường trung học cơ sở huyện ngọc hiển tỉnh cà mau (Trang 21 - 26)

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Có người cho rằng quản lý là cai quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, trọng tài, cũng có người quan niệm quản lý là “nghệ thuật”.

Frederics William Taylor - Mỹ (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”. [25, tr.89]

C.Mác cũng đã từng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó”. [21, tr.199]

PGS.TS Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý về bản chất bao gồm quá trình

“quản” và quá trình “lý”. Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ thống. Lý là thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển. Trong quản lý phải có mầm mống của lý và trong lý phải có hạt nhân của quản. Điều này tạo ra mối liên hệ hiện thực: ổn định đi tới sự phát triển, phát triển trong thế ổn định”.

[18, tr.176]

Theo quan điểm cá nhân tôi: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt kết quả cao bằng cách vận dụng các hoạt động chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, hoạt động quản lý sẽ đem lại hiệu quả cao.

1.2.2. Khái niệm qu n lý giáo d c

Từ khi hoạt động giáo dục ra đời, tất yếu kéo theo sự xuất hiện của QLGD. Theo lý luận của PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. [17, tr.124]

Nhà lý luận Xô Viết Mechti-Zade đã chỉ rõ: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính,…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất

lượng”.

Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH TW Đảng khoá VIII viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn hiệu quả nhất”[12, tr.35]

M.I.Khônđacôp đã định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp, (tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính,…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [22, tr.93]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý giáo dục là sự tác động của hệ thống quản lý giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến địa phương, đến khách thể quản lý và hệ thống giáo dục quốc dân và sự nghiệp giáo dục của mỗi địa phương nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn” [23, tr.35]. Khái niệm quản lý giáo dục được diễn đạt dưới nhiều góc độ tiếp cận nhưng tất cả đều tập trung ở bản chất quản lý giáo dục. Vậy tóm lại, “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra”.

1.2.3. Khái niệm hội h a

Thuật ngữ “Xã hội hóa” dùng để chỉ chức năng nguyên thủy của giáo dục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917) là một trong số rất ít người sử dụng thuật ngữ “Xã hội hóa”. Ông nêu: “Giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa”.

Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu và định nghĩa XHH khác nhau:

- Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội.

- Xã hội hóa là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội.

- Đại từ điển Tiếng Việt nêu lên khái niệm: “Xã hội hóa được hiểu là làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”. [24, tr.1848]

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

thì thuật ngữ XHH được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội nghị, hội thảo.

TS. Lê Quốc Hùng cho rằng: “Xã hội hóa là việc Nhà nước huy động mọi cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện một số dịch vụ công cộng trên cơ sở có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước”. [20, tr.17]

Nhiều công trình nghiên cứu về XHH đều nhận định: “Bản chất của xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân”.

Công tác XHH còn tương đối mới mẻ, trong mỗi chúng ta và hơn nữa là những nhà quản lý giáo dục cần phải nhận thức đầy đủ. Xã hội hóa không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật.

XHH gắn liền với mở rộng dân chủ, khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc cho Nhà nước.

XHH là làm sao phải thu hút được mọi tổ chức trong xã hội, mọi thành phần kinh tế để tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước.

Quá trình thực hiện chủ trương XHH được Nhà nước Việt Nam tiến hành theo các bước sau:

- Xoá bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế xin cho.

- Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan chức năng Nhà nước.

- Không ngừng củng cố các dịch vụ công và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.

Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ về nội dung, vai trò cũng như ý nghĩa của hoạt động xã hội hóa.

1.2.4. Khái niệm hội h a giáo d c

Qua nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động giáo dục, cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa công tác giáo dục. Thực tế nếu tự thân vận động, giáo dục dù không có định hướng cụ thể rõ ràng vẫn thể hiện tính chất xã hội nhưng không đạt đến trình độ XHH đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó. Cần phân biệt XHHGD và xã hội hóa công tác giáo dục.

XHHGD là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng

một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động xã hội và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội.

XHHGD là cách nói gọn của XHH công tác giáo dục với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáo dục. Đảng ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận không thể thiếu trong đường lối giáo dục của Đảng. XHHGD là làm cho giáo dục mang tính xã hội, trong đó người giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động về nội dung và phương pháp thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao.

Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đạo đức, lối sống.

Đặc điểm của XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng - giáo dục cho mọi người - xây dựng XHHT. Hoạt động giáo dục từ chỗ là trách nhiệm của ngành giáo dục, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo. Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổng hợp, tính công bằng xã hội của GD&ĐT.

Như vậy, XHHGD là quá trình tăng cường tính xã hội của giáo dục lên tầm cao mới, đa phương hóa nguồn lực, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, cộng đồng hóa trách nhiệm.

GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng XHHGD là: “Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa giáo dục”. [26, tr.17]

XHHGD đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và thực hiện từ nhiều thập kỷ qua, hoạt động XHHGD luôn vận động và phát triển.

Ở Việt Nam, XHHGD là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển GD&ĐT, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng. “XHHGD là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập”.

Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam có nêu: “Thực hiện chủ trương XHHGD, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”.

[2, tr.73]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”.

Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”.

[15, tr.34]

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHHGD, đào tạo, trên ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của công đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”. [16]

Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương XHHGD và XHHGD phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào giáo dục, làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội.

Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “Khái niệm XHHGD ở nước ta thường được hiểu là quá trình vận động lực lượng xã hội tham gia, đóng góp xây dựng nhà trường”.

[28, tr.382]

XHHGD là một tư tưởng chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn xã hội tham gia công tác giáo dục. Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và nền giáo dục toàn dân nói chung. Tư tưởng ấy xuyên suốt toàn bộ quá trình giáo dục nhằm đạt những mục tiêu đề ra.

Như vậy có thể nói một cách khái quát, XHHGD là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáo dục. Trong đó mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện các mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.

1.2.5. Khái niệm qu n lý c ng tác hội h a giáo d c

Quản lý CTXHHGD là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích và tổ chức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự phối kết hợp các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục nhằm phát triển giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của xã hội.

Quản lý CTXHHGD là quản lý sự phối hợp các LLXH tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ ở lứa tuổi học sinh. Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí khác. Các cấp chính quyền, các cơ sở giáo dục, các tổ chức chính trị - xã hội phải được tham gia hoạch định CTXHHGD.

Quản lý CTXHHGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào hoạt động CTXHHGD nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã xác định. Khi thực hiện Quản lý CTXHHGD trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hóa, tạo hành lang pháp lý để hoạt động XHH đi đúng theo mục tiêu đã đặt ra.

CTXHHGD là một trong những nhân tố quan trọng trong việc triển khai thực hiện mục tiêu, chương trình, cũng như kế hoạch hóa các loại hình giáo dục.

CTXHHGD phải đảm bảo sự thống nhất quản lý, sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục. Quản lý CTXHHGD là quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách do nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chưc, cá nhân cho sự phát triển giáo dục; để đảm bảo tốt CTXHHGD phải có sự tham gia của nhân dân và của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, tham gia hoạch định CTXHHGD. Quản lý CTXHHGD bao gồm việc xây dựng chiến lược; chỉ đạo và tổ chức thực hiện CTXHHGD. Trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay, để nâng cao được chất lượng giáo dục thì việc thực hiện tốt công tác quản lý XHHGD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà trường.

Luật Giáo dục (2005) trong điều 12 ghi rõ: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh,… Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”. [27]

Một phần của tài liệu Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tại các trường trung học cơ sở huyện ngọc hiển tỉnh cà mau (Trang 21 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)