* Chụp CLVT 64 dãy không chỉ cung cấp thông tin ưu việt hơn x quang phổi chuẩn, nội soi phế quản, chụp cắt lớp vi tính phổi phân giải cao về hình thái, vị trí, mức độ GPQ mà còn bộc lộ được nhiều tổn thương khác kèm theo với GPQ như các tổn thương đông đặc, tổn thương dầy tổ chức kẽ, giãn phế nang ,tổn thương u... và đặc biệt nhất, có vai trò rất quan trọng là bộc lộ được các cấu trúc mạch máu trong lồng ngực, các nhánh chính và các nhánh tách ra từ đó. CLVT 64 dãy với các phần mềm tái tạo mạch giúp xác định vị trí, số lượng, đường đi của các động mạch bệnh lý đi vào nhu mô phổi gây HRM nó giống như một bản đồ mạch máu và có giá trị tương đương với chụp DSA mạch máu, điều này trước đây là hạn chế của tất cả các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn.
Trong bệnh lý giãn phế quản có biểu hiện lâm sàng ho ra máu có sự liên quan chặt chẽ giữa ĐMPQ và ĐMNPQ bệnh lý với triệu chứng HRM.
* Đặc điểm hình ảnh GPQ trên CLVT 64 dãy:
Trong nghiên cứu của chúng tôi với 86 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng GPQ có triệu chứng HRM được chụp CLVT 64 dãy thấy rằng tỷ lệ
GPQ được xác định 86 trường hợp 100%, không thấy trường hợp không GPQ trên CLVT 64 dãy.
4.2.1. Các thể giãn phế quản trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM.
Hình thái
Nghiên cứu
Hình trụ (%)
Hình túi (%)
Hình tràng hạt
(%)
Hình hỗn hợp
(%) Lê Thị Trâm (Chụp PQ cản quang
phế quản) 32,4 38,4 2,7 26,5
Hoàng Minh Lợi (Chụp HRCT) 65,6 12,2 2,43 19,5
Chúng tôi chụp (CLVT 64 dãy) 2,3 3,5 8,1 96,1
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thể GPQ hình trụ, hình túi, chuỗi hạt và hỗn hợp lần lượt là: 2,3%; 3,5%; 8,1%; 86,1%.
Coles P J (1995) nhận xét trong nghiên cứu của mình GPQ hình trụ và hình túi là phổ biến nhất [6]. Lê Thị Trâm (1997) [58]. Nghiên cứu lâm sàng, x quang phổi chuẩn của giãn phế quản đối chiếu với chụp phế quản cản quang và giải phẫu bệnh sau phẫu thuật, thấy thể GPQ hình trụ là 32,4%. Hoàng Minh Lợi (2001) [40]. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh x quang phổi chuẩn và cắt lớp vi tính độ phân giải cao trong bệnh giãn phế quản, thấy thể hình túi là:12,2 % .
Thể GPQ hỗn hợp của nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 86,1%, cao hơn so với kết quả của Hoàng Minh Lợi (2001) với tỉ lệ 19,5%; Nguyễn Đình Kim (1990) với tỉ lệ là 16,6% [5]. Có thể do máy chụp CLVT 64 dãy của chúng tôi sử dụng các lát cắt được liên tục hơn cho nên có sự khác biệt về tỉ lệ GPQ thể hỗn hợp.
Thể GPQ chuỗi hạt có tỉ lệ 8,1 % cũng có thể do chúng tôi dùng các lát cắt liên tục và sử dụng được phần mềm tái tạo đa mặt cắt lên kết quả cung cao hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Trâm [58].
Hình 4.1. Giãn phế quản thể hỗn hợp và GPQ hình trụ
BN Phạm Quang Th., 49 tuổi SBA:16.0010359 chụp ngày 26.3.2016
4.2.2. Mức độ GPQ trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM Mức độ GPQ
Nghiên cứu Nhẹ(%) Vừa (%) Nặng(%)
Hoàng Minh Lợi (Chụp HRCT) 62,2 20,7 17,1
Ngô Trọng Nguyên 15,0 82,5 3,50
Chúng tôi chụp (CLVT 64 dãy) 4,7 73,3 22,0
Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy mức độ GPQ vừa chiếm tỉ lệ cao nhất 73,3%; mức độ GPQ nặng chiếm tỉ lệ 22%; mức độ GPQ nhẹ chiếm tỉ lệ 4,7%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần giống với kết quả của Hoàng Minh Lợi (2001) về mức độ GPQ nặng (17,1%), nhưng khác nhau về GPQ mức độ giãn phế quản nhẹ (62,2%). Sự khác nhau này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đã có thời gian mắc bệnh GPQ dài hơn so với nghiên cứu của tác giả.
Hình 4.2. Giãn phế quản mức độ nặng
BN Kiều Văn B. 60 tuổi SBA: 16.0206991, chụp ngày 01.01. 2016
4.2.3. Phân bố vị trí GPQ trên chụp CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vị trí GPQ ở cả hai bên phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (75,6%), vị trí GPQ ở phổi phải (17,4), vị trí GPQ ở phổi trái (7,0%).
Các tác giả Hessens (1957); Clark, Norman S.(1963) nghiên cứu tỉ lệ GPQ ở phổi thấy xấp xỉ 50% trường hợp giãn phế quản ở thùy dưới của hai phổi.
Theo nghiên cứu của Cartier Y.(1999) trên 261 bệnh nhân GPQ có kết quả thống kê như sau: tỉ lệ GPQ lan tỏa cho cả 6 thùy phổi chiếm 47%, 5 thùy chiếm 20%, 4 thùy cho 5 %, 3 thùy cho 6%, 2 thùy cho 5%. Phân bố cục bộ cho thùy dưới phải chiếm 86%, thùy lưỡi 84%, thùy dưới trái 85%, thùy giữa phải chiếm 83%, trên phải 75%, trên trái 67% [27]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không chia chi tiết cụ thể các thùy phổi mà chia thành GPQ phổi phải, GPQ phổi trái và GPQ hai phổi, tính chung thấy GPQ thùy dưới hai phổi là hay gặp nhất.
Hình 4.3. Giãn phế quản lan tỏa phổi hai bên
Trần Thị Huyền Tr 24 T, SBA: 16.0216360. Chụp ngày 01.06.2016
4.2.4. Các tổn thương phối hợp khác với GPQ trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM
Các tổn thương phối hợp khác kèm theo với GPQ trong nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.13 thấy tỉ lệ hình ảnh tổn thương GPQ phối hợp với hội chứng kẽ, giãn phế nang, xơ phổi trên phim chụp CLVT 64 dãy chiếm tỷ lệ cao nhất (lần lượt là 97,7%, 79,1%, 65,1%).
Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tý năm (2013): Qua nghiên cứu 60 bệnh nhân đánh giá các tổn thương phổi ở bệnh nhân có HRM thấy có tổn thương GPN chiếm tỉ lệ 51,6%, dầy tổ chức kẽ chiếm tỉ lệ 28,3%, xơ phổi chiếm tỉ lệ 28,3%.
Trong nghiên cứu của Ngô Trọng Nguyên năm (2012): Qua nghiên cứu 71 bệnh nhân giãn phế quản thấy có các tổn thương kèm theo như: Dầy tổ chức kẽ chiếm tỉ lệ 31,1%, xơ phổi chiếm tỉ lệ 25,7%, giãn phế nang chiếm tỉ lệ 8,1%.
Kết quản nghiên cứu của chúng tôi về các tổn thương trên gặp nhiều hơn so với 2 nghiên cứu trên. Do nghiên cứu của chúng tôi trên đối tượng bị giãn phế quản đã lâu năm và đã có biểu hiện HRM.
Hình 4.4. Hình ảnh tổn thương đông đặc kèm theo với GPQ hình trụ thùy dưới phổi trái, xơ dầy tổ chức kẽ thùy trên trái
Phạm Văn C., 49T SBA 16.02.20514. chụp ngày 14.07.2016
4.2.5. Hình ảnh giãn động mạch phế quản và có giãn động mạch ngoài phế quản trên CLVT 64 dãy
Trong nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.15 thấy hình ảnh giãn ĐMPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy có tổng số là 61 bệnh nhân chiếm tỉ lệ (70,9%).
Trong đó số những bệnh nhân có hình ảnh giãn ĐMPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy ở mức độ giãn vừa có tỉ lệ cao nhất (57,4%), tiếp theo là ở mức độ giãn nhẹ là 23,0% và mức độ giãn nhiều là 19,6%.
Cũng trong nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.15 này thấy hình ảnh giãn ĐMNPQ là 17 động mạch chiếm tỉ lệ 19,8%.
Hình 4.5. Hình ảnh giãn động mạch phế quản hai bên