Những cuộc tiếp xúc đầu tiên vỏi Phương Tây

Một phần của tài liệu Lược sử văn hóa nhật bản tập ii (Trang 161 - 176)

Trôn dây là những sự kiện chính trị chủ yếu trong thố kỷ nội chiến. Bây giò ta co thé quay lại vối một số khịa cạnh của quá trình phát triổn xã hội và thổ chế. Sư nghiệp của Nobunaga chủ yéu là phá hoại, tức là dọn chỏ cho một lâu dài mà Hìdcyoshi sê bát dầu và lcyasu SC hoàn thành. Khi Nobunaga còn sống, một só trào lưu dã bát dầu mà sẽ có ành hưòng lỏn d£n lịch sử sau này. Năm 1542 - khổng rõ ngày tháng nào - ba ngưòi Bồ Dào Nha dang di trôn một chiéc thuyên buồm Trung Hoa d<5 tói Limpo thì bị bão dánh tạt vào Tagcnashima, một hòn dào nhỏ ngoài khoi Osumi mà lúc dó thuôc lónh dịa của họ Shimad/U. Họ dưọc tic'p đún nồng nhiỗt, và những 166

kháu súng hỏa m ai m à họ m ang theo dã làm cho mọi ngưòỉ rát thích thú. Ngưòỉ N hật chưa bao giò được tháy m ột thử hỏa khí nào. T h ế là họ tìm cách bát chước ngay. Từ đó đến suớt nhỉèu thé kỷ sau, tên của súng hỏa m ai ò N hật Bản là "Tanegshỉma". T in về nhừng ngưòi lạ m ặt cũng như vè súng và các đồ vật kỳ lạ khác của họ đã lan nhanh chóng sang các lãnh địa ỏ quanh đó. T rong khi .đó người Bò Đ ào Nha định cư ỏ dọc bồ bỉén T rung Q uóc và ỏ tận M ã Lai, sau khi nghe tin vè vỉộc phát hiộn ra Nhật Bản, lập tức tổ chức những đoàn buôn bán vói thị trường mói này. Chi trong hai hoặc ba nãm - chác chán là trưóc năm 1549 - không chi có m ột só tàu Bồ Đ ào Nha dã đén thảm các cảng ỏ Kyushu, m à thướng nhân Bồ D ào N ha còn đến tận Kyoto m à họ m ô tả như m ột thành phổ vối chín vạn sáu ngàn ngòi nhà. Đây là m ột bàng chứng nữa về nhận định cho rầng, m ắc dừ kinh dô dã trỏ nên diôu tàn do chỉén tranh O nỉn, dân sổ lúc dó ván còn trên nừa triệu, và như vậy là còn lón hơn dân sổ bất kỳ m ột thành phđ châu  u nào vào thòi đó.

T ro n g vòng vài năm , tiếp theo những thương nhân là các tu sĩ dòng C húa Cứu thế ỏ các đoàn truyền giáo tại M acao và G oa. C ác thương nhân dều là ngưòỉ Bò D ào Nha, còn các tu s! dèu thuộc dòng Chúa Cửu thế. D ó là vì Đb D ào Nha đả dược ơ ỉá o hoàng ban cho dộc quyèn vồ các hoạt dộng tinh thàn và thương m ại ỏ Phương D ông, và dòng C húa Cứu thế, dược thành lập năm 1540, dã lập những chủng viện dàu tiẽn cùa m inh trôn lãnh thổ Bồ D ào Nha. H ai sự việc này sẽ có nhièu hậu quả quan trọng trong lịch sử quan hộ giữa N hật Bản với Phương Tây, vì những cuộc tiếp xúc đàu tiổn vói các thương nhân châu Áu dà cho nước này tháy sự cạnh tranh thương m ại quổc tố trong m ột giai doạn của xâm lược vũ trang, và sự hiổu biết dầu tiCn của nước này vò Cơ D bc giáo là thông qua dòng tu hiếu chiến nhát và cực doan nhát của giáo hội này.

N ăm 1549, Francis Xavier và hai tu sĩ Tây Ban Nha khác thuộc dòng C húa Cứu Ihé dổ bỏ ICn Kagoshima. Tại dó họ bầt dầu truyòn dạo vói sự thỏa thuận hoàn toàn của ngưòi cànì dầu ỏ Satsum a. D ièu này nói rát nhièu vò tính khoan dung của ngưòi Nhật, vi một ngơòi xa lạ truyòn gỉàng một học thuyết xa lạ khổng những khổng bị cám

đoán mà lại còn dưọc cổ vũ bòi mọi ngưòi. Thậm chí cả một s6 lu S1 Phật giáo cùng kính cần nghe những diôu thuyôt trình vồ tín ngưong của Co Dốc giáo. Chằng bao lâu sau Xav'er dã rừa tội cho một trăm năm mưoi con chiOn mỏi. Tuy nhiên, các con chien này chác cũng chỉ hiểu biết lo mo ve tổn giáo mỏi của họ, vì liếng Nhạt là một thư tiéng rất khỏ, và Co Đổc giáo cũng chẳng phủi là dieu dỗ giải thích (2). Có thổ vì nhừng nmíòi mói theo dạo khổng hiổu biél rô về những dòi hòi của dạo mói, nen các tu sĩ Chúa Cứu thế mói dạt dưọc tiCn bộ nhanh chỏng như thố trong những núm dítu của họ. It nhát thi một trong những tài liệu cổ cũng ghi lại rằng các tu sĩ dỏ dang truyCn bá luật của Phạt. Nghi lỗ của họ khổng khác mấy vói nghi lỗ ciìa Phật giáo, và những lòi giảng của họ nghe cỏ thổ giồng như một hình thửc mỏi nào dó của phái A Di Dà, hoăe như hình thửc thò một nữ thần lũ bi giống như Quan Àni Bồ Tát vậy. Nhưng có nhiồu lý do khác xác dáng hon vè những thành công dàu lien của Co Dốc giáo ỏ Nhật Bàn. Sốm nhất và, theo ý lùỂn một vài người, quan trọng nhát là viộc eác lãnh chúa lỏn muốn kiốm lọi qua ngoại thưong. Ta dã thây động co này quan trọng như thố nào, và qua các tài liộu cố, cả của Nhật Bản và Bồ Dào Nha, ta biết rõ ràng một số lãnh chúa ỏ

đặc biột cho các nhà truyèn giáo vì, 1 M UƯtA Cúc thưong nhún rát kính trọng, họ hy vọng sê thu hút dưọc các thưong thuyồn vào các hài cảng trong lãnh dịa của mình. Chi vài nãnì sau khi Xavier dến Nhật Bản, các lănh chúa dua nhau ra lệnh cho dân chúng phài kính trọng các lu sĩ Chúa Cưu thó, hoặc phài theo Co dốc eiáo hàng loạt. Dạc biẹt, các lãnh chúa có hài càng 0 Kyushu, như Kagoshima, T-lirado, Omura và Funai, da tranh nhau bào tro cho các thưong nhân ngoại quỏc, thậm chi còn di xa hon nừa là dàn áp Phật từ. Có lãn thấy không có tâu vào cang, họ xua duỏi các nhà iruyén giáo và bát dân chúng quay vC vói dạo cu. Họ làm the nhiêu khi cũng có lý. VI các tu sĩ Chúa Cứu thé không hỉổu tâm lý ngưoi khác, và lòng sung dạo của họ rát dỏ dàng bién thành một tam lý thiến cận co tinh chất hung hãn màc dù họ dà the hiỌn một thai dộ dùng càm tuyỌt vòi khiến giói quân sự phài kính nC Năm 1550 chính Xavier dã nhân dưọc lệnh phài ròi Satsuma mà

lúc đó là quC hương của Phật giáo, vì thái độ không khoan nhượng của ồng cuổỉ lòng dã làm m ất lòng giói tu sĩ Phật giáo. Tại Y am aguchi, thủ phủ lãnh địa của họ O uchi, X avier lại m ác sai làm là tuyen bổ rằng tất cả những ngưòi chốt mà khi sóng chưa theo Cơ dóc giáo thì sẽ bị thiCu trong lửa luyộn tội m ãi m ãi. D ối với m ột dân tộc xưa nay không hồ nghiồm túc tin vào hỏa ngục và vốn rất trọng vọng vong linh tổ tiên thì dỏ là m ột thuyết dáng ghét. V à không có gì dáng ngạc nhiổn khi những lòi rao truyèn của X avier đã gây ra m ột sự phán nộ ỏ m ột thành phố có nhiồu nhà sư thông tuộ và cũng khổng lạ gì nốu như Cơ Đ ổc giáo dã bị cám ỏ các lãnh dịa của họ Ouchi.

N hưng X avier và các tín hữu của ông đã học được m ột bài học quý báu tro n g thòi gian lưu lại ỏ các lãnh địa m ỉèn tây. H ọ phát hiện ra ràng ỏ N hật Bản mà dược lòng các vương hàu thì m uốn gì cũng dược. Vì thế, họ dến Kyoto vỏi ý dịnh xin sự che chò của hoàng đế.

N hưng kinh dô đang rói ren vì chiến tranh, nôn họ không gặp dược ai trong giói càm quyèn. N ăm 1552 X avier ròi N hật Bản, và trong m áy năm sau, các tu sĩ dòng C húa Cửu thế không đạt được máy kết quả. N ếu có tranh thủ thẽm được m ột số con đạo m ói ỏ nơi này thì họ lại gây chuyộn hằn thù ỏ nơi khác. Những con đạo tự nguyộn phàn lớn là đám dân hạ lưu mà họ thưòng chạy chữa thuốc thang cho. M ột báo cáo truyền giáo nãm 1576 thừa nhận ràng không m ột người có dịa vị nào lại dám tiếp nhận sách cám truyồn. Báo cáo dó cũng cho biết rằng tại m ột lãnh địa nọ trong suốt hai chục năm chi có m ột nhà quý tộc chịu theo dạo, và dó là người được các nhà truyòn giáo chữa cho khỏi bỌnh giang mai. Nhưng sau dó các tu sĩ Chúa Cứu thố lại gập may. H ọ dã rửa tộì dược cho một sổ lảnh chúa, và các lãnh chúa này lại buộc dân của mình cũng phải theo. H àu hét những người mói theo dạo này dổu ờ m iền tủy Nhật Bản. Những người này, hoặc vì cuồng tín hoặc vì muốn buổn bán, dã không ngàn ngại dàn áp các tín dồ Phật giáo. Tiốp dó, các tu sĩ Chúa Cứu thố cũng thành cỏng ò gan Kyoto. M ột trong sớ họ, Vilela, dã dc'n núi H ieĩ năm 1559, theo lũi mời của viCn trưởng ỏ dõyằ một người th ^ ) phái T cndai nhưng rất m uốn tìm hitfu ve dao mới. o kinh dồ, ván dò

thưong mại không nổi lỏn ngay, và các tu sĩ dòng Chúa Cửu thé dưọc ngưòi ta xct theo tính cách cá nhân và theo giá trị của cái tôn giao mà họ truyòn giảng. Sau thòi gian khỏi dầu khá khó khăn vói sự phan dối của các tu viộn ỏ Hiei - noi ngưòi ta rất ghet các tôn giáo - mOl nhóm nhò các tu sĩ Chúa Co Dốc, khoảng trôn dưói mưòi người - da bắt dầu hoạt dộng khá tốt trong các tàng lỏp thưọng lưu và, mặc dù bị căm ghét trong một só giói khác, đã ngoi dần lẽn dưọc tỏi nìột dịa vị khiến ngưòi khác phủi kính nổ ỏ nhừng nôi cao sang. H ọ dược tưóng quân tiếp và cài dạo dược cho một sổ lãnh chúa nhò. Những lãnh chúa này trò thành những con chiCn rất sùng dạo, và quan hộ thân tộc của họ dã trò nCn rất có giá trị đổi vói các nhà truyfcn giáo.

Nhiồu lần, trong, những năm họ sống ỏ Kyoto và các tinh, giữa thòi buổi luổn luôn xảy ra chuyộn giốt chóc và khi mạng người rát rỏ, họ đã dưọc cứu khỏi nguy bỏỉ những ngưòi bạn trung thành mà không phải tất cả dồu là dân c ỏ Dốc giáo. Cuối cùng, năm 1568, họ dưọc Nobunaga tiếp. Lúc đó, Nobunaga dã gần như ỏ đỉnh cao của quyÊn lực. Ỏng tiổp các tu sĩ Co Dốc giáo rất ân càn. Những ngưòi trưỏc dây vẫn nghĩ rằng Nobunaga là một chúa tổ khổng khoan nhượng và thô cục nay phải ngạc nhiôn. Từ dó dổn lúc chốt, Nobunaga dánh

đám n g ư ò i n à y t r ò n e n p h á t dạt n h ờ o à n g d ế v ì t ô n t r ọ n g c á c t u s ĩ Tendai

m a n g ă n c ấ m C o D ó c g i á o c ũ n g c h ằ n g c ó n g h ĩ a lý g ì . N o b u n a g a l à n g ư ò i c à m q u y e n c ó t h ó l ự c n h ấ t ò N h ậ t B à n , v à c á c n h à t r u y ề n g i á o c ó t h ể g ặ p õ n g m ộ t c á c h d ỏ d à n g . D ô i k h i h ọ c ù n g ă n v ó i ô n g , v à t h ậ m c h í c ò n t i ế p ô n g k h ô n g c ỏ t ù y t ù n g t ại c á c c h ủ n g v i ệ n d à n h c h o c o n c á i c á c n h à q u ý t ộ c . K h ô n g g ì c ỏ t h e h a y h o n l ị c h sir c ủ a n h ữ n g n g ư ũ i n ư ú c n g o à i n à y ( c a n c ứ v à o t h ư lữ c ự a c h ớ n h c ỏ c n h à truyởn

g i á o v à v à o c á c n g u ồ n t ài l i ệ u N h ậ t ) VC q u ã n g d ò i h ọ s ổ n g t ạ i m ộ t t n ồ u đ ì n h n ư ó c n g o à i , t a i d ó h ọ l à m t h â n d ư ọ c v ó i m ộ t n h à c h u y C n ch e ' h ù n g m ạ n h v à d ư ọ c t h e o d õ i c h ậ t c h ẽ , t h ậ m c h í d ư ọ c t h a m g i a

t r ự c ti C p , v à o n h ữ n g s ự k i ệ n s ô i n ổ i .

T u y n h i ê n , t h à n h l í c h c ù a h ọ k h ó n g l ó n l ắ m vC m ặ t s ố l ư ọ n g . B á o c á o c ù a h o g ừ i v e R o m a n à m 1 5 S 2 c h o b i é t t ổ n g s ổ d â n c à i d a o ò r t h á t B à n là m ư ò i l a m v a n m a p h a n l ó n là n g ư ò i ò c á c l à n h d ị a t ạ i

Kyushu, noi mà các lãnh chúa đã bát (lân của m ình phải Ihco đạo hàng loạt.

N gưòi ta đã bàn tán nhiồu vồ động co của N obunaga và các thủ lĩnh q u ân sự lỏn khác khi họ dung túng và thậm chí khuyến khích các giáo sĩ nưỏc ngoài. M ỗi nhà Sừ học đều có khuynh hưỏng chọn m ột lý do này và bỏ qua những lý do khác. T a dã đè cập đến dộng cồ kỉnh tế, và rõ ràng là nốu không có những khuyến khích vè thưong m ại từ phía dòng b ào của m ình, các nhà truyồn giáo C húa Cửu th ế chưa chắc dã chịu di đốn những noi xa xôi như thế. Nhưng đièu đó chưa đủ dổ giải thích tại sao N obunaga lại tò ra không những là rộng lượng mà còn rát lịch sự và thân m ật nữa. Tuy nhiổn, nếu ta xét đến vị trí của N o b u n ag a thì SC hiổu rõ tình cảm của ông ta. T rư óc hết N obunaga là m ột nhà chuyôn chố. Ô ng không thổ xuồng xã vói chư hàu, nhưng rất có thổ hoan nghốnh quan hộ vói những ngưòi có tính cách m ạnh m ẽ và có học vấn cao mà không có diồu gì phải sộ cả. Có nhỉèu bàng chứng cho thấy N obunaga khâm phục sự dũng cảm của các nhà tru y ín giáo. N hững ngưòi này có thổ không khoan nhượng tói m ửc tàn ác, nhưng họ tuân theo luật lô m ột cách nghiôm túc. H ọ có d òng dõi cao sang, có học ván cao và thậm chí hoi kỉôu ngạo.

Những đức tính đó dược ngưòi ta rát kính trọng ỏ Nhật Bản phong kiến. Vì những lý do dó, và có thổ vì trong tính cách N hật Bản có cái gì dó phù họp vỏi tính cách la tinh, nCn ngoài các tu sĩ C húa Cứu thế ra thì khó có ngưòi châu Ảu nào thòi đó lại có thổ gây án tưọng tốt như th ế dổi vói ngưòi Nhạt*. Có m ột lý do chắc chán đổ N obunaga thích ngưòi C o Đ ổc giáo. Dó là vì ông ghct ngưòi theo dạo Phật.

T ro n g suổt thòi gian có quan hộ vói các tu sĩ C húa Cửu thế,

Chỉ vồ hò ngoài thỏi, các nhà truyòn giáo này trông khơng d£n nỡi đáng sợ

như những người Bác phương. Nhiòu thố kỷ trước đó, người Trung Hoa dã tạo ra ch o các thó giới vơ hình những con quỷ rÁt ít giông với người, những sinh vột có mặt d ò gav, lóc vàng hoe, mắt xanh vã lồi. Vì thố, khi mới trơng ^ thây người Hắc phương họ tự nliiOn kCu lOn: "Bọn ngoại q u vd ây rồi!"

Nobunaga mải miết đàn áp các giáo phái phiến loạn. Ong tnột ph*t Hici năm 1571, rồi tiếp đó tiĩín đánh các lực lưọng Ikko ỏ Osaka.

Mặc dù Nobunaga và các lu sĩ Chúa Cửu thổ đCu ghct các nha sư, và mặc dự Phạt giỏo hồi dú cũng dó cú những dấu hiỌu suy đoiằ

dièu đó không có nghĩa là Nobunaga tích cực luyôn truyồn cho c ỏ Dốc giáo vói tính chát là một tín ngưòng. Thinh thoảng Nobunaga cũng nghe giảng dạo, và vót tư cách là một ngưòi cầm quyền, ông tan thành bất kỳ tỏn giáo nào khuyổn đưọc ngưòi ta biết cư xử tốt và bi¿1 vùng lòi. Nhưng ỏng thích các nhà truyền giáo bỏi vì họ cò ích và bidt di£u dối vói ông, và ổng quan tủm nhiồu dc'n học ván của họ hon giáo dièu của họ. Nobunaga thích dàm luận vỏi họ vồ các ván dồ của Phưong Tây, và tát nhiôn ông hài lòng vè nhừng tăng phẩm Phưong Tây của họ. Chiéc mũ sắt của ông mà ngày nay ngưòi ta còn giữ dưọc trang trí ỏ phía trưốc bằng một loại vủi diêu Bồ Dào Nha hoặc Hà Lan gì dó. Nói chung, mặc dù dã tìm thấy ỏ Nhật Bản củ thánh và những ngưòi tử vì dạo, Co Dốc giáo dã dể lại rất ít dấu vốt trong sinh hoạt dân tộc, và tất nhiốn ành hưòng của nó dối vói tư tưỏng và tình cảm của người Nhật cũng không bÈn vững bằng ành hưòng của triét hoe Chu Hv. Npưòi Nhât nhanh chóng tranh thủ dưọc một sô loi ích ' ỉ ày. Có le se dúng nổu nói rang khoai tay v a tiìuoc l a - nnững cùa quý do ngưòi chriu Àu mang dổn - dưọc (án thưòng nhieu hon các học thuyết của ngưòi chau Âu*. Những thử như dồng hồ, quả dịa càu, bàn dồ và nhạc cụ hình như dû gọi khá nhiCu sự tò mò, \à một sri học già muổn tim hiổu các khái niÇm của Phưong Tây vè khoa học tự nhiOn, nhưng khó có thd nói dưọc rằng ngưoi Nhạt cũng san sàng ti£p Ihu tư duy chiYu Âu như họ da sẵn sàng tiOp thu văn hỏa Trung Quốc một cách ồ at trong thổ kỷ Vll.

Hình như họ khổng thích cái thử triết học có tính suy doán mà theo nhận xct của một nhà quan sát châu Àu (Kaempíer) hồi cuổi thổ kỷ X V I1, họ coi như một trò tiCu khiổn chỉ thích họp vói những nhà tu

* Khoai tây lunli như do ngưũi Anh mang lư Cliava đón iiAm lí) 15, Iliuổc la

ngUdi Uô Dao Nha du nhập \no khoáng 15‘Ml.

h ành lười hiếng. N gư ọc lại n g ư ò r N h ậ t lại rất coi trọ n g cái mà K a c m p í e r gọi là "phan luân lý" của triết học này. T h à n h lựu lỏn nhát c ủ a tư tư ỏ n g P h ư o n g Tây, lặng p h ẩ m cỏ giá trị m à châu À u thòi dó hình như dã giành riêng cho ngưòi N hật thì lại làm cho người N hật bị hất ngô hoặc khồim dư ọc họ sẵn sàng tiếp nhận, vì theo lòi của K a e m p f e r , ngưòi N hật "không biết gì ve toán học, dặc hiẹt khổng hiểu gì vè nhữ ng p h àn sâu hon và có tính chất suy d o á n của m ồ n này"(3). D ô i khi ngưòi ta nói rằn g việc du n h ập các hỏa khí dã cách m ạ n g hóa nghẹ thuật chién tran h của N hật, dû g óp p h àn hình thành m ộ t loại bộ binh kiổu A sh ig a ra , dà thay dồi chien lưoc và thúc dẩy việc xây dự n g nhữ ng p h á o dài dồ sộ có lỏ châu mai, cửa ra vào và cầu b ọ c sất. N h ư n g không như ỏ P h ư ong Tây, súng hỏa mai và dại bác k h ỏ n g ả n h hư ỏng tỏi co cáu xã hội, vì chúng ta khổng thúc dẩy sự tan rà c ủ a chủ nghĩa p h o n g kiến. N hữ ng chiên binh chuyCn nghiẹp - N h ữ n g vỏ sĩ d ạ o m à vũ khí là thanh g ư om - ván giữ một vị trí cao, tr o n g khi ò chảu Ả u, các hiẹp sĩ cưõi ngựa dã bị thay the' b ằ n g bộ bin h m à lúc dàu dưọc tran g bị billig nỏ rồi sau bằng súng*

Kliỏng pliAi chì vi liióin hòa khi. mã còn vi c;íc tưứng quân khỏng khuyến khích chư líAu dùng hòn khí. Ngưữi tn con tìm cúclì kicm sont vã mun bán hòn khi.

Tuy nhiCn crt gnng niiy không mnng lụi két qu.í.

M ỏ i q u a n tâm hàng d âu của cac nhà lãnh d ao Nhật Bàn từ curtí the kỷ X V I là trán h không d ể xày ra những thay dổi trong các thổ che dã d ư ọ c họ thict lập. Vì thrt, hoặc tự giác, hoặc không tự giác, họ c hổng lại b át kỳ sự dổi mói nào có the làm dào lộn những co cấu sẵn có.

T lico một tfifing ke nAm I6.V*. tại Snlsumn. Iiìột lãnh djn dưực trnng bị rÁt trtl. cứ hm mưdi Iigưãi dnn õng vnn chưn cô dưực một khnu súng. Trong nhỳng dụi quAn lcin mủ ene múng quAn Clin ho Tokugnwn dừi chư h'Au phài cung cAp. cứ bn mư<ii bn ngưch CO h.II ngưdi dùng hôn mni. một ngưdi dùng nò. bn nguõi dùng gino. sei con gù dùng kiêm. Cũng trong số dùng kiém. cứ mdừi ngưúi Ihi mội nguụi di ngựn (tlỡỏng ko nAm Uằ5<1) C'ỷng vủo thoi kỹ nủy.

những clul hAu nhũ (h.itnm oto) cựn Idling quAn mủ ene lAnh d|n trị giủ nuit ligón koku lun mổi nAm. phni cung cAp lì.II nuidi bn ngưõi. trong d o cõ m*>t Iigưừi dung nô. một ngưữi dùng hon mni V.I lim ngưài dùng giáo.

Một phần của tài liệu Lược sử văn hóa nhật bản tập ii (Trang 161 - 176)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(303 trang)