Chính sách bài ngoại(1)

Một phần của tài liệu Lược sử văn hóa nhật bản tập ii (Trang 195 - 200)

Chúng ta đâ tháy trong suốt chiồu dài lịch sử các nhà cầm quyèn phong kiến Nhật Đản đã ra sức như thé nào đổ ngăn chận các quá trình thay dổi bằng cách ban hành luật pháp vĩnh viỗn và nuôi dưõng một nếp dạo dức mà hợ nghĩ là dổ có định dược một nÈn trật tự trong dó họ là tối thượng. Icyasu và những ngưòi kế tục theo đuổi trỉột dđ chinh sách dà dược án dịnh trước này; song ngay từ đầu đả thấy rõ dáu hiộu thát bại và lịch sử thòi Tokugawa có thể coi như một bài học vè nỗi bát lực trong mưu toan chổng lại các lực lưọng có thế lực mạnh không lưòng dưọc.

Theo lòi khuyCn của Hidcyoshi, Icyasu dã xây dựng Ycdo thành bản doanh quân sự của mình, và cùng vói thòi gian noi dây nổi lCn thành một dòn bỉnh lỏn nhát và thành phố ỉón nhát ò Nhật Bản*

ỉeyasu đCn dóng tại Ycdo nâm 1590, song phải mãi sau trận chiến Segỉkahara ổng mói quyết dịnh chọn nới này làm kinh đổ của mình.

Yedo, luy thòi bA'y gỉò chỉ là một làng nhỏ trôn dầm íầy, cũng đá có một thành tích dáng kính nổ. ơ vùng phụ cận, các di chỉ thòi đá mói tập trung còn dãy dặc hdn hất kỳ nciĩ nào khác IrCn dát Nhật. D o nằm d dầu mũi vịnh, địa hình khó tiếp cẠn từ phía sau tứi nOn Ycdo dả có một giá trị chiốn lược dối vói một quAn nhân muốn thổng.soái các tĩnh m&n*dAng; và chính một chiến tưóng thôi Ashikaga. một ngưòi ten là Ota Dokwan. dă nhẠn thức dưộcdièu này vã nAm I45í> dã xAy dựng tại dó một tòa thành.

201

Dây là một quyết định quan trọng. Có nghĩa là từ nay ông cát ràng buộc vói Kyoto và trị vì Nhật Bản từ trung tâm quvồn lực quân sự của mình. Trưóc đó từ lảu, Yoritomo đã :6 tình đóng cách xa Kyoto ra, và sự tan rã'của chế độ Shogun trong những thô kỷ tiếp sau có thổ giải thích được một phần là do những người ké vị ông không giữ mình dưọc trước sửc cám dỗ của cuộc sổng cung đình và những hiém họa của các mưu đồ trong chốn hoàng cung. Ieyasu quyết tránh lỗi làm của các bậc tiòn nhân. Kamakura vổn đã từng là bản doanh của quyồn lực phong kiến khi chế dộ phong kiến còn non yếu và ỏ Kyoto vẫn cỏ một chính quycn dân sự thực thi quyòn thế của mình, dù rằng yốu ót. Song chính sách của Icyasu là làm sao biến Ycdo không chi thành một kinh đô quân sự và hành chính, mà cả vè kinh té và tất nhiCn là trung tâm vãn hóa của Nhật Bản. Nhiều dải dát rộng lón được cho khẩn hoang, nhièu khu vực được ban cáp dổ dựng dinh trang cho các chúa phong kiến nhò, rồi kho lương dược lập ra đổ cung cấp cho thương nhân, tiốu chủ báy giờ dã kéo nhau từ Kyoto và Osaka tỏi do sức thu hút của nơi thủ đô mói được tạo dựng. Một tòa lâu đài đồ sộ đưọc xây dựng lên, còn nguy nga hơn cả tòa thành vĩ đại ỏ Osaka. Đổ trộ sức vào các viộc này Ieyasu kêu gọi sự đóng góp của các vị nam tước dưới quyồn, và cũng qua đó vỏi các khoản thuế cống tương tự ông ra hạn chổ dược nguồn thu nhập của các vị kia, và tát

T ? T ' 1 *' hàng dàu của ông là

^ .iốn nhỏ nào có thổ đủ giàu và mạnh dd tranh chấp lại dược ổng, và dồ phòng chống mọi âm mưu lien két có thổ làm lung lay vị trí của ổng. Đổ dạt mục dích này, ổng dã có những bước di rấl quyốt dịnh, dáng dược mơ tà, bời vì những quyết dịnh dó làm nen tàng thực sự khơng chi cho chính sách phong kiến của nhà Tokugawa, mà còn cho lìhiòu thổ chó dặc trưng nhát của thời kỳ Ycdo.

ít lủu sau trận chiến Sckigahara (năm 1601), Ieyasu buộc các tiểu chỳa phong kiến phủi ký lời tuyờn thỗ trung thành, họ phủi thũ tuân hành mọi mộnh lệnh từ Ycdo và không dươc bào vộ hoặc che chò cho kè thù của chế dộ Shogun. Đáy là mội tài liỌu quan trọng nhất; bàn tuvén thệ dược ký chững iỏ leyasu dã làm chủ hoàn toàn

dược chư hầu của ông, bòi vì trong các chuẩn mực trung chính phong kiốn trưỏc kia tuy có nhiòu khiêm khuyỂt sàu thảm song ngưòi chiến sĩ Nhật Bàn đúng theo nguyCn tác bao giò cũng phải giữ đúng lòi chữ cam kết của mình. Két quà là, khi Icyasu hàng phục dược các kẻ thù còn lại của mình qua cuộc bao vây Osaka (1615), ông đã ò một vị trí mạnh hổn bát kỳ mọi Shogun trưóc, và ông dã tiến hành củng cố nó bàng mọi cách trong tầm quyồn lực của mình. Tuy Icyasu dã qua dòi năm 1616, song chính sách của ông vẫn dược những người kế tục tiếp nói, dó là vị Shogun Tokugawa độ nhị, Hidctada (1616-1622) và vị Shogun Tokugavva dộ tam, Icmitsu (1622-1651). Ta có thổ mô tả các sỏc lộnh của cỏc vị này mà khụng càn đặc biỗt nhỏc dốn ten một ngươi nào cả, bơi vì những lỌnh dụ ấy là tác phẩm của bộ máy Bakufu, thé hiộn không chi tình cảm của cá nhân các nhà cầm quyồn mà cả quan niệm phong kiên thịnh hành của xã hội. o dây tường cũng thích họp dổ vạch ra rang, trong khỉ vào thòi đó các thổ chổ phong kiến ỏ châu Âu dã sụp dổ và dược thay thổ bàng chính quyèn quân chủ tập quyòn, thì ỏ Nhật Bản chế dộ phong kiến mói chỉ dạt dc'n dộ trưòng thành, và tuy chính quyên dã dưọc tập trung và chuyên chế hổn chưa từng có trưỏc dây song nó lại dược thực thi bỏi một thủ lĩnh phong kiốn tổi cao và một nòn quân chủ dang ò tình trạng khiếm khuyết.

Một trong những bưóc dầu tien chế dộ Shogun thực hiộn là vạch ra các quy dịnh vồ chức nâng và cách ứng xử của hoàng đế và trièu dinh, lcyasu tỏ ra khá rộng rãi vỏi hoàng tộc, cho họ những khoản thu nhập thỏa dáng, tuy nhien mọi daimyo (lănh chúa) trừ những người tháp hen nhíít dồu giàu hon quốc chủ và dinh thần, hơn nữa những vị vua quan này lại phải nhận thu nhập bàng hiộn vật chứ khổng dược phép sò hữu dất dai. Không còn một chức năng hành chính nào giành lại cho ngôi báu cà. Các quan lặi Bakuíu quyồn thế ỏ ngay trong cung de giám sát và thực ra là chi huy Hoàng dế; dặc quyòn duy nhát còn lại của hoàng de' là cử Shogun vù vài quan lại nhà nước khác. Những quan chức này là thuần tuý hình thức và văn phòng ngự tien, tuy hãy CÒI1 khoác cái vè đương bộ thòi xưa, song cũng chỉ hoàn toàn là nghi thức.

Đổ đfc phòng các chư hầu không chịu thuần phục, các Shogun Tokugavva đã thực thi những biện pháp rất thận trọng. Dói vói các nam tưỏc họ có sự phân biột đói xử gỉữa những người đã từng sát cánh chién đáu từ thòi nhà Tokugawa hãy còn là những tỉéu lãnh chúa nhỏ nhoi ỏ địa phương vói những ngưòi chỉ chịu thần phục họ sau trận Sekigahara. Loại thứ nhát được coi là chư hầu ké nghiộp (fiiđ a i), loại thứ hai là lãnh chúa bCn ngoài (iĩozama). Các lãnh chúa bCn ngoài vè mặt cá nhân là giàu nhát và trông có vẻ cao chức nhất trong só các chư hàu. Cho đến khi chế độ Shogun cảm tháy được xác lập vững vàng, họ dồu dược Shogun đói xừ trang trọng coi gàn như ngang hàng, mà quà thật họ dáng phải dược như vậy, bỏi vì bàn thân Shogun vồ gốc gác là vô nghĩa so vói ngưòi dửng dầu các tộc họ lãnh chúa như Macịla, Shimadxu và Date. Song tất cả mọi viộc gì có thể làm đé giảm thỉ.ẽu sức tán công của họ dều được thực thi. Họ buộc phải dóng góp nặng nè, như ta đã tháy, vào các công trình công cộng to lỏn, và đé họ'khồng gây được rác rối trong lãnh địa của họ, một ché độ con tin được phát triổn, ròi cuối cùng thành một hình thửc gọi là "luân phiên tham gia" ịsankin kotai, tham cần giao đại) ỏ triều Shogun, theo ché độ đó mỗi lãnh chúa quan trọng buộc phải vfe sổng ỏ Ycdo nhiều tháng trong một nảm, ròi khỉ trỏ lại lãnh địa mình ơhâi đổ vơ và gia đình ờ lai Yedo. Các chư h*.u nghỉộp tuy không

c giao đát đai ỏ những

UỈCMÌIỂ co t a n ì cnỉca iùọc quan trọng, kiiong chế dược các con lộ và các thành phó chính, hoặc ỏ những nơi có quan hệ vói lãnh địa của các chúa có thổ là thù dịch vói Shogun dé họ có thổ de dọa được phía sườn hoặc mặt lưng các lãnh chúa này một khi họ lièu lĩnh tiến công vào Yedo. Chế dộ Bakuĩu hạn che chặt chẽ viỌc xây dựng ngay cả những sửa sang nhò nhặt các lâu dài phong kiên. Trong khi ờ châu Âu các thành phớ lớn như Vơnidơ hoặc các thành phổ Hans có khuynh hướng duy trì hoặc tăng cường lợi quyCn dặc biọt của họ, thì ò Nhật Bàn lúc dó, quá trinh d i c n b i ế n lại dào ngược và các trung tâm buôn bán như O s a k a , S a k a i v à N a g a s a k i , cùng với những nơi khác ' 6 tàm quan trọng dàc b i ò t vO m ã i chinh trị, như Yamada ờ Ise, quC hương thờ phunư tổ tiOn hoàng tricu, lại dược dăt dưới quyèn

kiềm soái trực liếp của quan chức Bakufu. Rào chán được duy trì trOn các lộ giao thồng chính đổ kiổrn tra ngưòi qua lại* và nhà nước có tình kìm hãm viộc xúy cầu, nếu không sẽ làm thuận lọi giao thông trôn các tuyến dưòng chính dẫn dến Ycdo. Rồi họ còn mò rộng chính sách làm yốu kc dịch tiòm năng dốn mức can thiộp vào tôn giáo, như buộc phái Phật giáo Hồng Án Tự phải chia thành hai nhánh dổ xẻ dôi mối nguy hiérn, mà, cử xét theo dièu ghi chép trưóc dây của phái này, lý dáng hợ không phải Sổ một cách vô lý vì cái phái tỏng truyòn có uy thố này của tâng doàn Thượng Nhân vốn gồm những người hiồn lành dốc lòng tin vào dức từ bi của A Di Dà.

Bằng những hành dộng dó và những mưu chưỏc tương tự, các Shogun Tokugawa dự dịnh dảm bảo nồn thống trị kế nghiệp dài lâu của họ; song họ lại thận trọng khỉ cần tăng cưòng những thử mà ta có thố gọi là các mặt vật chất của tính ưu thế của họ, bàng cách mà trong thuật ngữ hiộn dại có thổ dược mô tả là tuyCn truyền văn hóa, cả bồ rộng lán bè sâu. Tuy ràng sau khi Osaka bị sụp đổ vào năm 1615, hòa bình hàu như không bị phá vỏ, song tâm trạng của các nhà lành dạo Nhật Bản trong máy thế hộ tiếp văn là hiếu chiến, họ tiến hành cách cai trị trCn thực tố là dựa trơn cơ sò chiổn tranh, luật pháp thịnh hành thời bấy giò thực chất là quán pháp. Ché dộ Đakuíu, dúng theo tổn gọi, chủ yốu là một chế dộ chuyôn chính quân sự, tàng lóp quân sự là tổi cao, còn mọi tàng lớp khác, là nổng dân hoặc thợ thủ công hoặc thương nhân hoặc ngưòi lao dộng chân tay, tất cả đfeu phải phục dịch cho lợi ích của chế độ. Dó là nghĩa vụ và kỷ luật dối vói họ.

Mọi diồu dòi hỏi ỏ họ là phục tùng, song đói với tầng lóp kiếm sĩ (samurai) chủ dạo thì Bakuíu nghĩ là cần có một bộ luật đặc biột và

Giáy thỏng hành dược soát Xtít chặt chẽ. Nhân viôn kiẻm tra phai đè phòng dộc biCt dói vói "nữ nltAn xuất, vũ khi nhập" (dc-onna iri-deppò), hỏi vì chư hầu nào mà dự dịnh gAy rối tlìi có thể trước hòt tà phải đưa dược con tin của họ ra khôi lãnh dịa Tokugawa và dưa vũ khí vào. Song nhìn chung viCc di lại giữa các thái áp klìỏng phát triổn, vì môi thái Áọ mong muốn cứ là một đơn vị tự trị, kliỏng dé mííl một mày may sàn phÀm nào cùa mình và khỏng cho bát kỳ một kỏ do thám nào có thổ IhAm nliẠp.

Một phần của tài liệu Lược sử văn hóa nhật bản tập ii (Trang 195 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(303 trang)