Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIÊN NAY
3.1. Một số nguyên tắc và phương hướng cơ bản
3.1.1. Một số nguyên tắc cơ bản
Trong việc giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cần đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:
Lấy kinh tế làm gốc. Hiệu quả của chính trị phải thể hiện ra ở kinh tế, ở tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững. Một trong những đặc điểm nổi bật của Việt Nam là đi lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN; từ một nền kinh tế tiểu nông, nghèo nàn, lạc hậu đi lên nền kinh tế cao hơn nền kinh tế TBCN. Do vậy, sự thiếu hụt lớn cả về kinh tế và trình độ dân chủ chính trị trong bước đường phát triển theo định hướng XHCN là rất lớn. Bởi vậy, không còn cách nào khác, trong quá trình đổi mới phải lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm trong toàn bộ công cuộc đổi mới kinh tế và chính trị ở nước ta. Đây là vấn đề mà Việt Nam đã sớm xác định ngay từ buổi đầu của quá trình đổi mới; coi
đó là tiền đề, điều kiện để phát huy mọi nội lực, sớm lấp đầy lỗ hổng yếu kém kinh tế, tạo nền cho đổi mới nói chung và đổi mới chính trị nói riêng.
Kết quả đổ i mới kinh tế, của tăng trưởng, phát triển là cơ sở của đổi mới chính trị, vạch đường cho đổi mới chính trị. Trong 25 năm qua, kinh tế đóng được vai trò là mét đường đầu tiên đặt đúng được vào con đường quá độ lên CNXH. Từ đó, nền kinh tế dần chuyển mình sang kinh tế thị trường, nhiều thành phần, đa dạng hóa sở hữu. Sức mạnh nội lực trong xã hội, trong dân có cơ hội bung ra sau nhiều thập kỷ bị dồn nén đến ngạt thở. Trên cả nước hiện có rất nhiều doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ đã và đang họat động. Các quan hệ kinh tế, chính trị bước đầu dựa trên các quan hệ thị trường, đang diễn ra đang theo hướng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, chịu sự tác động của quy luật thị trường, bình đẳng trong cạnh tranh, hoạt động kinh tế trên cơ sở sự điều tiết của pháp luật.
Trong đổi mới chính trị, cấn lấy thành tựu kinh tế là thước đo thành tựu, tính hiệu quả, tính ưu việt của thể chế chính trị. Thực chất của chính trị là giải quyết quan hệ về lợi ích giữa các lực lượng chính trị và lợi ích đó phải được lượng hóa thông qua các giá trị kinh tế. Trong cơ chế chính trị Việt Nam, nhân dân là chủ thể xã hội, chủ thể của quyền lực nhà nước; do đó, về mặt chính trị cần giữ vững định hướng chính trị XHCN nhưng đồng thời cần tăng hiệu quả đối với tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội bằng cách thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển các yếu tố nuôi dưỡng cho tăng trưởng kinh tế. Chính trị phải phát huy được các nguồn lực làm động lực phát triển kinh tế, phải nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Giữ được định hướng XHCN nhưng kinh tế không phát triển, đời sống của đa số nhân dân không được cải thiện, thì định hướng không thể đi đến đích.
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu hàng đầu là phát triển kinh tế, là lợi ích kinh tế. Do đó, việc phát huy các nguồn lực cho kinh tế không chỉ dựa vào
động viên tư tưởng, lòng hăng hái, nhiệt tình đơn thuần, mà còn cần phải biết động viên lòng nhiệt tình hăng hái trên cơ sở lợi ích kinh tế, động lực kinh tế, biết kết hợp hài hoà giữa động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất. Để khơi dậy các nguồn lực, tạo động lực đòi hỏi phải có đường lối, chính sách đúng, có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để ràng buộc, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi tổ chức và mỗi công dân, bảo vệ được các lợi ích chính đáng của các thành viên tham gia thị trường.
Chính trị cũng cần có tiêu chí hiệu quả, và hiệu quả của chính trị phải thể hiện ở hiệu quả kinh tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và vận hành bộ máy Nhà nước phải được xem xét trên quan điểm hiệu quả, lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế phải là những tiêu chí hàng đầu, đánh giá tính hợp lý, đúng đắn, ưu việt trong tổ chức và vận hành của cả Hệ thống chính trị nói chung và của Nhà nước nói riêng.
Ở Việt Nam trong đổi mới, toàn bộ cơ chế vận hành của Hệ thống chính trị, trong đó có những mỗi quan hệ chính trị đặc biệt quan trọng, như quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội với Đảng và với Nhà nước. Các nhân tố trong hệ thống chính trị vừa chịu tác động lẫn nhau, vừa chịu tác động của môi trường xã hội trong và ngoài nước để cuối cùng sản phẩm vận hành của hệ thống chính trị là hình thành các chính sách công. Do đó, đánh giá đổi mới chính trị, đổi mới hệ thống chính trị không chỉ đánh giá đổi mới về tổ chức, mà điều cốt yếu quan trong là đánh giá sản phẩm đầu ra của hệ thống chính trị. Tính ưu việt, hợp lý của chính trị và hệ thống chính trị cuối cùng phải thể hiện ở chính sách bảo tồn, phát triển, phân bổ và nghệ thuật phân bổ các nguồn lực, các giá trị xã hội nói chung và các nguồn lực kinh tế nói riêng. Có thể xem xét chính sách công theo nhiều tiêu chí (chính trị, kinh tế, xã hội), trong đó, hiệu quả kinh tế là tiêu chí đặc
biệt quan trọng để làm căn cứ lựa chọn các chính sách công. Chính sách đúng, phản ánh được yêu cầu của hiện thực khách quan trong phát triển kinh tế - xã hội mới thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững, mới giữ vững ổn định của chế độ chính trị XHCN.
Chính trị hiệu quả đòi hỏi phải thể hiện trong các chính sách giải quyết đúng đắn về những vấn đề then chốt của kinh tế như vấn đề về quan hệ sở hữu, trong đó đặc biệt là vấn đề sở hữu đất đai, sở hữu nhà nước; là một loạt những vấn đề như quản lý tài chính - tiền tệ, ngân sách, phát triển cơ sở hạ tầng, các mối quan hệ tích luỹ - tiêu dùng, thành thị - nông thôn, lao động - việc làm, chống quan liêu, tham nhũng... Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường, tuỳ từng nơi, từng lúc có những vấn đề này hoặc vấn đề khác trở thành nổi cộm, trọng tâm nên cần có sự cân nhắc để điều chỉnh thích hợp, mềm dẻo trong các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; phân phối hợp lý các giá trị vật chất, tinh thần, các nguồn lực, tài nguyên vào các trọng điểm, tạo đột phá, tạo điểm tựa cho sự phát triển kinh tế.
Ưu tiên đổi mới tổ chức và vận hành của Hệ thống chính trị, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Quá trình phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, mở cửa hội nhập đã và đang đặt ra những yêu cầu đòi hỏi có những chuyển biến chính trị tương ứng. Tuy đổi mới kinh tế quyết định và đặt ra các yêu cầu đối với đổi mới chính trị, vạch đường cho đổi mới chính trị, nhưng không vì thế mà xem nhẹ vai trò của đổi mới chính trị.
Trong thực tiễn, chính trị có vai trò rất lớn, thể hiện ở vai trò lãnh đạo kinh tế, là nguồn lực của kinh tế. Do đó, phải biết dành cho chính trị những ưu tiên như đổi mới tổ chức, thể chế và cán bộ chính trị, nhất là những lĩnh vực có liên quan đến kinh tế.
Đáp ứng yêu cầu đó, trong tiến trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những khẳng định đúng đắn rằng, trước hết phải giữ vững sự ổn đinh chính trị -xã hội, coi đó là tiền đề, điều kiện để đổi mới kinh tế. Trong suốt
thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định, không thể giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội nếu không đẩy nhanh tiến trình đổi mới chính trị, nếu không tập trung trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân để hoàn thiện con đường đi lên CNXH và cùng với đó là không ngừng xây dựng, kiện toàn hệ thống chính trị, lấy đổi mới quan hệ Đảng - Nhà nước là khâu trọng tâm và đổi mới Đảng trên cả ba nội dung (chính tri, tư tưởng và tổ chức) là khâu then chốt.
Vấn đề quan trọng trong nhiều năm nay là trên cơ sở các quan điểm, đường lối của mình, Đảng phải lãnh đạo Nhà nước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường; thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tôn trọng dân chủ, tôn trọng quyền lực của nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN của dân. Nhà nước cần đặt mục tiêu vào tập trung vào cải cách nền hành chính, nhằm từng bước tinh giản bộ máy, hoạt động công khai, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý đáp ứng các yêu cầu của quan hệ thị trường trên cả 3 vấn đề căn bản là đổi mới hệ thống tổ chức nền hành chính, đổi mới và hoàn thiện thể chế hành chính mà trọng tâm trước mắt vẫn là cải cách thủ tục hành chính và đổi mới đội ngũ công chức nhà nước. Mặt khác, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, tạo môi trường pháp lý cho kinh tế thị trường nhiều thành phần phát triển lành mạnh.
Trong quan hệ Đảng lãnh đạo Nhà nước về mặt kinh tế, chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng với Nhà nước phải phân định rõ hơn. Hiện nay, Đảng đã phân định được lĩnh vực Đảng và Nhà nước, nhưng không phải vì thế mà ranh giới lãnh đạo của Đảng với quản lý của Nhà nước đã rạch ròi. Nguyên tắc một đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo nhà nước là phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên do thiếu vắng một hệ thống giám sát, phản biện chủ động, tích cực, tình trạng đó tiềm ẩn bệnh tha hóa quyền lực. Do đó cần phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan kiểm soát của Nhà nước và cùng với nó là phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, của báo chí, của công dân, coi đó là giải pháp hữu hiệu nhất để khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế một đảng duy nhất cầm quyền. Tuy nhiên, quá trình đổi mới chính trị, hệ thống chính trị, đổi mới nhà nước còn rất chậm, tình trạng quan liêu, bao cấp, độc quyền nhà nước còn nặng nề trên nhiều lĩnh vực, là một trong những rào cản cạnh tranh bình đẳng trên thương trường; hiệu quả kinh tế trong khu vực nhà nước, trong quản lý tài chính, quản lý ngân sách còn rất hạn chế; Chính phủ còn ít nghe dân, ít gần dân, thậm chí có nhiều quyết định đi ngược lòng dân trong quá trình hoạch định chính sách; cuộc chiến chống tham nhũng trong kinh tế, trong chính trị còn rất gian nan; đổi mới nền hành chính nhà nước rất chậm, chưa đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi theo hướng hội nhập kinh tế thế giới.
Trong đổi mới kinh tế và chính trị, phải phát huy dân chủ và phải tiến hành từng bước vững chắc. Song song với tiến trình từng bước thiết lập dân chủ trong kinh tế, cần thực thi dân chủ trong tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị. CNXH là xã hội chưa có tiền lệ, chưa có con đường vạch sẵn;
hơn nữa, nếu chính trị xa dân, không biết dựa vào dân thì dễ mắc sai lầm chủ quan, dễ đi lạc đường. Do đó, trong cơ chế giải quyết quan hệ chính trị - kinh tế, các nhà cầm quyền phải biết phát huy dân chủ.
Trong hệ thống chính trị hiện nay, có những nhân tố thể hiện vừa quá tập trung quyền lực, vừa quá phân tán quyền lực. Cả hai xu hướng này đều kìm hãm tiến trình dân chủ và không mang lại hiệu quả kinh tế. Trong chính sách kinh tế, doanh nghiệp nhà nước được hưởng nhiều ưu tiên, nhưng tạo ra độc quyền dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh, kìm hãm phản biện, thậm chí không tạo ra khả năng phản biện, làm cho các nhà kinh tế, các nhà đầu tư, khu vực doanh nghiệp khó dự đoán được chủ trương, chính sách của Nhà nước. Đây là điều khó khăn nhất trong quá trình vạch chiến lược hoạt động kinh tế của họ. Sự thất bại chính trị của một số quốc gia trên thế giới cũng
xuất phát từ nguyên nhân này. Trên thực tế tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực thì tập trung vào đảng, nhưng đồng thời lại phân tán nhiều người, nhiều tổ chức nắm quyền. Điều đó làm cho các cơ quan hoạch định chính sách khó đưa ra được những quyết định đúng, phù hợp, kịp thời đối với những đòi hỏi phải linh hoạt trong kinh tế.
Dân chủ không từ trên trời rơi xuống, không tự nó sinh ra, không phải là cái được ban phát. Dân chủ trong đời sống xã hội chỉ có thể được xây dựng thông qua đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị. Tiến trình dân chủ hóa chính trị ở Việt Nam cần hình thành trước hết từ dân chủ trong phát triển của kinh tế thị trường nhiều thành phần gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cùng với đó, từng bước hình thành dân chủ chính trị. Điều đó cũng có nghĩa là bước tiến dân chủ ở nước ta không thể tách rời với với tiến trình từ kinh tế tiểu nông lạc hậu chuyển lên nền kinh tế thị trường hiện đại; từ văn hóa tiểu nông phát triển lên văn hóa thị trường, văn hóa đại công nghiệp; từ văn hóa truyền thống làng xã khép lín, phép vua thua lệ làng, lên văn hóa dân chủ XHCN. Chừng nào chưa thoát khỏi những yếu tố của trình độ kinh tế - xã hội lạc hậu thì dân chủ còn hạn hẹp.
Cần khắc phục một trong những khiếm khuyết nhất hiện nay là tình trạng mất dân chủ ở mọi nơi, mọi tổ chức công quyền, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và tình trạng tham nhũng kinh tế và tham nhũng chính trị. Trong khi trên chủ trương thì cần phát huy dân chủ với dân, kể cả dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp, thì trên thực tế thì còn nhiều biểu hiện chưa tin dân, chưa thật sự lắng nghe những ý kiến, quan điểm đa chiều trong dân, và chưa dám và chưa có năng lực công khai đấu tranh làm rõ cái đúng, cái sai với dân.
Đây là những nhân tố cản trở dân chủ, cản trở kinh tế thị trường, làm giảm hiệu quả quản lý của các cơ quan công quyền.
Đổi mới chính trị phải dựa trên đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị để làm bà đỡ, mở đường cho kinh tế vận động. Tổ chức và vận hành của hệ
thống chính trị, nói cho đến cùng, đều hướng đến công việc Nhà nước, chính sách Nhà nước. Gắn với chủ trương phát triển kinh tế thị trường đồng thời cũng mở ra xu hướng phát huy dân chủ trong kinh tế, dân chủ giữa các chủ thể tham gia thị trường, có sự bình đẳng trong cạnh tranh. Từ đây đặt ra vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa dân chủ kinh tế với dân chủ chính trị, thể hiện rõ nhất trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách công. Phát triển kinh tế thị trường tạo nhu cầu khách quan về các chính sách đúng để thông qua đó, Nhà nước phân phối hợp lý, có hiệu quả các giá trị, nguồn lực xã hội. Trong quá trình hình thành chính sách, cần thiết phải tuân thủ các bước của cơ chế xây dựng chính sách, trong đó phải đặc biệt phát huy dân chủ phản biện, giám sát các chính sách trước khi ban hành. Cũng không ít chính sách của Nhà nước đã đáp ứng được yêu cầu khách quan đó, nhưng cũng có không ít các chính sách mang nặng tính chủ quan của cơ quan, của cá nhân người làm chính cách, thậm chí phục vụ cho lợi ích của người/nhóm làm chính sách.
Thực tiễn 25 năm đổi mới, từ những thành quả kinh tế đã đạt được, có thể khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế ở từng thời kỳ, từng giai đoạn cơ bản là đúng hướng. Những kết quả kinh tế hôm nay là tiền đề, điều kiện để từng bước đổi mới chính trị và dân chủ hóa chính trị. Tuy nhiên, những kết quả đó vẫn chỉ là bước đầu và còn nhiều hạn chế, cản trở, còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Từ những yếu tố khách quan và chủ quan, suốt cả năm kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội X), Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định đổi mới kinh tế là trọng tâm, còn đổi mới chính trị được đặt ra rất thận trọng, chỉ được tiến hành từng bước, và chỉ đổi mới những gì thực tiễn đã kiểm nghiệm và đã cho kết quả.
Đây có thể coi là một kết luận, một bài học về giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị để Đảng và Nhà nước tiếp tục hiện hóa quan điểm về quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc đổi mới.