Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996

Một phần của tài liệu đảng bộ huyện mỹ đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp tu nam 1996 den nam 2008 (Trang 22 - 27)

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1996 – 2000

1.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996

1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996

Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, tháng 9/1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Huyện Mỹ Đức là một trong 12 huyện và 2 thị xã tái nhập về tỉnh Hà Tây. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Hà Tây, mặc dù tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như của tỉnh còn rất nhiều khó khăn. Nhưng với khí thế và quyết tâm, đặc biệt có Nghị quyết Đại hội Đảng soi đường, Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức đã dấy lên phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Sau hơn 5 tháng tỉnh Hà Tây được tái lập và chính thức đi vào hoạt động, thi hành Điều lệ Đảng và Chỉ thị 59 của Ban Bí thư Trung ương, Đảng bộ tỉnh Hà Tây tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá thực trạng tình hình trong tỉnh những năm 1986 – 1991; vận dụng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII để định ra phương hướng nhiệm vụ trong những năm 1992 – 1995. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI là động lực giúp Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức tiếp tục vươn lên thu được nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ngày 19 - 21/11/1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XVIII đã được tổ chức, xây dựng nhiệm vụ chủ yếu của năm 1991 – 1995.

Nghị quyết của Đại hội nhấn mạnh: “Quán triệt Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu từ nay đến hết năm 1995 là: Tập trung đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, mọi lao động có thêm và đủ việc làm, đẩy lùi các biểu hiện

tiêu cực, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội” [15; 10]. Đại hội đề ra mục tiêu: đến hết năm 1995 đời sống quần chúng tăng gấp rưỡi so với năm 1990; tổng sản lượng quy thóc đạt 70 ngàn tấn, bình quân 430 – 450 kg/người. Thu nhập ngành nghề vượt 1 triệu đồng/hộ/năm; phát triển dân số 1,7%; trồng từ 400 – 500 ha dâu nuôi tằm, để có 400 – 500 tấn kén.

Để khai thác tối đa tiềm năng thế mạnh của địa phương trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ Mỹ Đức đã xác định rõ trọng tâm kinh tế của huyện chính là sản xuất nông nghiệp, lấy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp làm tiền đề thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với phát triển kinh tế nông thôn, hướng cơ bản là coi trọng sản xuất lương thực, với mục tiêu trước mắt là xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo nhu cầu lương thực cho người dân, căn bản khắc phục tình trạng đói giáp hạt và có tích luỹ, vươn lên khá, làm giàu trong nông thôn.

Thực hiện mục tiêu này, ngoài việc đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo vững chắc vấn đề lương thực, phải đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản phẩm hàng hoá. Một mặt tăng đàn, mặt khác chú trọng cải tạo con giống, từng bước đưa con giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào thay thế giống cũ đã thoái hoá, năng suất thấp.

Huyện uỷ đã có kế hoạch chỉ đạo đối với phòng NN & PTNT và các HTX hướng dẫn, vận động nhân dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, đổi mới cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, tận dụng tối đa hệ số sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả hơn các loại đất trồng trọt nhằm tăng nhanh giá trị nông sản hàng hoá trên đơn vị diện tích.

Toàn huyện mở rộng diện tích vụ đông trên đất canh tác để trồng các loại rau màu thực phẩm. Ưu tiên dành diện tích đất bãi ven sông, đất đồi gò để phát triển mạnh cây dâu tằm, cây chè…,phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò, lợn, gia

pháp công nghiệp. Mặt khác, để sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, vững chắc, Đảng bộ huyện đã rất chú trọng thực hiện các giải pháp xây dựng hệ thống thuỷ lợi, hệ thống dịch vụ khuyến nông, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nông thôn, giao đất, giao rừng, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, xây dựng chính sách hỗ trợ giá về phân bón, thuốc trừ sâu, tăng tỷ trọng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp.

Để người nông dân yên tâm sản xuất trên mảnh đất của mình, thực hiện Luật Đất đai và Kết luận 41 ngày 13/ 7/ 1992 của Tỉnh uỷ và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ 4 (tháng 7/1992) về giao ruộng đất ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất đến hộ nông dân; sau khi rút kinh nghiệm của xã Lê Thanh, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã tiến hành triển khai giao ruộng ở tất cả các xã trong toàn huyện. Đến năm 1995, 23/ 23 HTX nông nghiệp đã hoàn thành việc giao ruộng đất đến hộ nông dân, đảm bảo đúng luật, giữ được ổn định và đoàn kết trong nông thôn.

Đây chính là động lực làm cho người lao động yên tâm, phấn khởi đầu tư sản xuất và thâm canh tăng vụ đạt kết quả cao.

Một thuận lợi rất quan trọng trong giai đoạn này là lĩnh vực kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức đã phục hồi và phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, nghề truyền thống của Mỹ Đức. Những năm trước, đã có thời kỳ diện tích dâu đạt tới 700 ha, sản lượng kén đạt 245 tấn/ ha. Vào cuối những năm 80, do nghề trồng dâu, nuôi tằm mang lại hiệu quả kinh tế thấp, nên bị mai một, nhất là năm 1988 diện tích dâu chỉ còn 18 ha. Từ khi có cơ chế khoán 10 và sự tác động tích cực của thị trường tơ lụa thế giới, đặc biệt là sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, cùng với sự tác động mạnh mẽ của những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghề trồng dâu, nuôi tằm có những chuyển biến mạnh mẽ. Năm 1992, diện tích dâu đạt 177,37 ha, tuy chưa đạt kế hoạch, nhưng hứa hẹn sự phục hồi và phát triển nghề truyền thống của địa phương cho các năm tiếp theo.

Nhờ vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng trên cơ sở thực tiễn địa phương, từ năm 1991 - 1995, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã cơ bản hoàn thành các chủ trương, giải pháp lớn, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, thu được những kết quả quan trọng.

Qua 5 năm (1991 - 1995), sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tiến bộ, từng bước khắc phục sản xuất độc canh, bước đầu đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa. Nhịp độ tăng bình quân hàng năm là 5,8%. Cơ cấu kinh tế nông thôn đạt một bước chuyển dịch quan trọng. Năm 1991, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 78,8%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 12,4%, dịch vụ du lịch chiếm 8,8%, đến năm 1995, nông nghiệp chiếm 68,7%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 15,6%, dịch vụ du lịch chiếm 15,7%. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện [41; 1].

Về trồng trọt, đã mạnh dạn ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất, giúp nhân dân đưa các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương.

Năm 1995, năng suất lúa đạt 8,6 tấn/ha. Sản lượng lương thực đạt 71.500 tấn (vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra 1.500 tấn), đưa bình quân lương thực đầu người từ 381kg lên 446kg/người/năm. Cơ bản đã khắc phục được nạn đói giáp hạt.

Diện tích cây vụ đông được mở rộng. Các loại rau đậu, cây nông sản thực phẩm đều phát triển. Cây ngô đã từng bước đưa giống lai đơn ĐK888, ĐK999 vào sản xuất có hiệu quả cao. Năng suất ngô bình quân đạt 23,7 tạ/ha.

Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày nhìn chung ổn định. Cây đậu tương tăng nhanh từ 10,4 ha (năm 1991) lên 500 ha (năm 1995). Cây lạc ổn định 220ha. Cây dâu có xu hướng giảm do không chủ động được giống và nơi tiêu thụ. Cây chè trồng mới được 60 ha. Giá trị 1 sào dâu, 1 sào chè thu được gấp 2,5 lần trồng cây lương thực.

Cây ăn quả và kinh tế vườn đang có xu hướng phát triển, điển hình ở các xã Lê Thanh, An Phú, Đốc Tín và một số xã ven núi, trồng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như: mơ, nhãn, cam, quýt, vải thiều…

Bên cạnh đó Mỹ Đức còn đẩy mạnh việc tận dụng và khai thác trên 502ha đất thung, đất đồi ở rừng đặc dụng Hương Sơn và 10 xã ven núi thực hiện chương trình PAM và chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc (327), đã trồng mới được 112 ha, khoanh nuôi và bảo vệ rừng được 2.100 ha.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng được phát triển theo hướng đa dạng, tăng cả chất lượng và chủng loại. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 1991 là 24%, năm 1995 đạt 26,7%. Đàn trâu ổn định có 4.648 con, đàn bò có 7.000 con (trong đó có 580 con bò lai Sind), tăng 9,1% so với chỉ tiêu Đại hội; đàn lợn có 43.298 con (tăng 11%), sản lượng thịt đạt 2.600 tấn (tăng 8,3%). Diện tích mặt nước, hồ ao, ven sông Đáy được tận dụng để nuôi thả cá, sản lượng cá thu được 1.321 tấn, tăng 32%.

Thực hiện một bước đổi mới quản lý trong các HTX nông nghiệp theo Nghị quyết V của Trung ương, toàn huyện vẫn giữ vững quy mô HTX toàn xã. Số HTX nông nghiệp làm tốt các chức năng điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ cho xã viên sản xuất có 7 HTX, chiếm 30%; số HTX khá có 7 đơn vị, chiếm 30%; không có HTX yếu kém. Kinh tế hộ gia đình đã được xác định rõ và đang phát triển trên nhiều lĩnh vực.

Như vậy, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức đã cố gắng khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế, trong đó nông nghiệp là trọng điểm với quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, giống, đổi mới kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Do đó sản xuất nông nghiệp huyện cũng đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tích cực thúc đẩy quá trình xoá đói, giảm nghèo cho nhân dân trong huyện. Với sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, kinh tế đã có sự phát triển vượt bậc, đời sống của nhân dân ngày càng được

nâng cao. Năm 1995, số hộ giàu trong toàn huyện chiếm 5,5%; số hộ khá 45,5%; số hộ trung bình 39%; số hộ nghèo đói chỉ còn 10%.

Nhìn chung trước năm 1996, nền kinh tế nông nghiệp của huyện Mỹ Đức đã có sự phát triển theo đường lối của Đảng, song tốc độ còn chậm, sản xuất chủ yếu còn ở tình trạng tự cung tự cấp, chưa tập trung đúng mức cho mặt trận hàng đầu là nông nghiệp; kinh tế nông thôn ở các địa phương còn nặng thuần nông, chưa có nhiều nông sản hàng hoá; đặc biệt là chưa đầu tư thoả đáng cho việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thiếu chính sách khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, chưa có chính sách sử dụng đúng đắn thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân; việc sử dụng vốn đầu tư cho nông nghiệp còn ít và kém hiệu quả. Trình độ kỹ thuật và trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đảm bảo tưới tiêu chủ động và hợp lý cho cây trồng, chưa cung ứng đủ công cụ, vật tư cần thiết cho nông nghiệp. Trong khi đó, tiềm năng lao động, đất đai, ao hồ, đồi, núi…chưa được tận dụng, khai thác triệt để. Ở HTX sản xuất nông nghiệp, bộ máy quản lý HTX tuy đã được củng cố nhưng hoạt động còn lúng túng, chậm đổi mới, một số HTX còn buông lỏng quản lý, không điều hành được kế hoạch sản xuất, chậm chuyển đổi về cơ cấu cây trồng vật nuôi và hướng dẫn các tiến bộ kỹ thuật để đưa nhanh các loại cây, con có năng suất cao vào sản xuất nên hạn chế tốc độ tăng trưởng lương thực, thực phẩm. Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn.

Tất cả những thành tựu và những hạn chế còn tồn tại trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn trước năm 1996 là cơ sở, là những kinh nghiệm quý báu để Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm tiếp theo.

Một phần của tài liệu đảng bộ huyện mỹ đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp tu nam 1996 den nam 2008 (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(139 trang)