CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI RỦI RO HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
3.1 Giới thiệu sơ lược về NH TMCP Đầu tư và Phát triển VN
3.1.1 Lịch sử phát triển của NH TMCP Đầu tư và Phát triển VN.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam, tên viết tắt là BIDV. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập sớm nhất Việt Nam theo nghị định số177/TTg ngày 26 tháng 4 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ.
Trong 58 năm qua NH TMCP ĐT&PT VN đã có những tên gọi:
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957;
Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam từ ngày 24/6/1981;
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990;
BIDV là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước (tập đoàn) mang tính hệ thống bao gồm hơn 118 chi nhánh và các Công ty trong toàn quốc, có 6 đơn vị liên doanh với nước ngoài (3 ngân hàng và 3 công ty), hùn vốn với 5 tổ chức tín dụng.
Trọng tâm hoạt động và là nghề nghiệp truyền thống của BIDV là phục vụ đầu tư phát triển, các dự án thực hiện các chương trình phát triển kinh tế then chốt của đất nước.
Thực hiện đầy đủ các mặt nghiệp vụ của ngân hàng phục vụ các thành phần kinh tế, có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các DN, Tổng công ty. BIDV không ngừng mở rộng quan hệ đại lý với hơn 400 ngân hàng và quan hệ thanh toán với 50 NH trên thế giới.
BIDV là một ngân hàng chủ lực thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và phục vụ đầu tư phát triển. Quá trình 58 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển luôn gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của đất nước.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang bị ảnh hưởng chung từ cuộc khủng khoảng kinh tế Thế giới, BIDV đã tập trung toàn lực, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục khẳng định vị trí một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam và đạt được những kết quả quan trọng trong quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược giai đoạn 2011 - 2015, trong đó một số kết quả tiêu biểu như sau:
Hoàn thành nhiệm vụ cơ bản, nhất là cổ phần hóa toàn bộ hệ thống BIDV từ NHTM đến các công ty bảo hiểm, chứng khoán. Riêng BIDV đã thực hiện IPO từ tháng 12/2011 và ngày 24/1/2014 chính thức niêm yết cổ phiếu trên sàn HOSE. Đồng thời, BIDV thực hiện đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị DN.
Năng lực tài chính của hệ thống không ngừng được tăng cường, đảm bảo hoạt động kinh doanh bền vững, vốn chủ sở hữu đến cuối năm 2013 đạt 32.000 tỷ đồng, tăng khoảng 9.000 tỷ đồng trong 3 năm.
Điều hành tăng trưởng tín dụng có trọng tâm, trọng điểm, dòng vốn tín dụng hướng vào các lĩnh vực ưu tiên (cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho vay DN nhỏ và vừa, tài trợ xuất khẩu, cho vay DN ứng dụng công nghệ cao), chủ động triển khai các gói tín dụng nhằm hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất - kinh doanh cho DN. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nợ xấu giảm dần qua các năm và đến hết năm 2013 kiểm soát ở mức 2,3%.
Tăng trưởng huy động vốn phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và đảm bảo các chỉ tiêu thanh khoản, an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của NHNN.
Tập trung tái cấu trúc lại nền khách hàng, đẩy mạnh hoạt động ngân hàng bán lẻ với các sản phẩm, dịch vụ tiện ích với mục tiêu trở thành NH bán lẻ chuyên nghiệp, hiện đại…
Công tác quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát được chú trọng đẩy mạnh. BIDV đã được NHNN lựa chọn là 1 trong 10 NHTM phấn đấu đáp ứng chuẩn mực về QTRR theo quốc tế Basel II vào năm 2015;
Lợi nhuận trước thuế, năng suất lao động của các năm sau cổ phần hóa của BIDV có mức tăng trưởng rất đáng khích lệ, các chỉ tiêu cơ cấu chất lượng được đảm bảo, đáp ứng mong đợi của các cơ quan quản lý nhà nước và các cổ đông, khách hàng, người lao động BIDV.
Những thành quả mà BIDV có được nói trên là nhờ sự chủ động, linh hoạt và sự sáng tạo của Ban lãnh đạo trong công tác điều hành, thực hiện có hiệu quả chủ trương của Chính phủ, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong việc phát triển hoạt động kinh doanh; đồng thời nhờ sự kiên trì theo đuổi chiến lược kinh doanh đề ra, chủ động xây dựng, triển khai thực hiện Phương án tái cơ cấu hoạt động hệ thống BIDV giai đoạn 2010
- 2015 phù hợp với diễn biến môi trường kinh doanh, chủ trương tái cơ cấu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, đảm bảo tăng năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tác giả cho rằng, thành công của mỗi ngân hàng thương mại đều xuất phát từ sức mạnh nội tại và một chiến lược phát triển đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Trong thời gian tới, khi kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực và thế giới thông qua các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, trong 5 năm tới, BIDV sẽ phấn đấu trở thành một định chế tài chính có chất lượng, hiệu quả, uy tín hàng đầu Việt Nam, hội nhập chủ động và tích cực vào kinh tế khu vực Đông Nam Á và thế giới..
Để làm được điều đó, BIDV sẽ thực hiện một số mục tiêu sau:
Nỗ lực tái cơ cấu toàn diện các mặt hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng; Tăng cường vị thế, tầm ảnh hưởng của BIDV trên thị trường tài chính trong nước và khu vực; Nâng cao năng lực quản trị rủi ro; chủ động áp dụng và quản lý tiệm cận theo các thông lệ quốc tế;
Phát triển mạnh hoạt động ngân hàng bán lẻ;
Nâng cao năng lực khai thác ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo đột phá để tăng hiệu quả, năng suất lao động;
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, lực lượng chuyên gia; Cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng hiện đại nhất cho khách hàng; Cam kết mang lại giá trị tốt nhất cho các cổ đông; Tạo lập môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, cơ hội phát triển nghề nghiệp và lợi ích xứng đáng cho mọi nhân viên; Thực hiện tốt trách nhiệm đối với xã hội và cộng đồng.
3.1.2 Xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nền kinh tế;
trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chính, nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng phát triển, nhất là các dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Xét trên góc độ kinh tế - xã hội, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế; đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế,
góp phần giảm chi phí xã hội qua việc tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng.
Xét trên góc độ tài chính và quản trị ngân hàng, ngân hàng bán lẻ mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế; bên cạnh đó, ngân hàng bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, mở rộng khách hàng nâng cao năng lực cạnh tranh; tạo nguồn vốn trung, dài hạn chủ đạo cho ngân hàng; góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, tận dụng và khai thác mọi tiềm năng của ngân hàng.
Tạp chí Stephen Timewell nhận định “Xu hướng ngày nay thể hiện rõ rằng ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nước có nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai”.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Đây là hoạt động ngân hàng phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và các hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ một cách tốt nhất cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu rõ ràng giúp ngân hàng đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu.
Việt Nam được đánh giá là thị trường mà các dịch vụ ngân hàng bán lẻ (dịch vụ tài khoản, séc, thẻ, thanh toán, quản lý tài sản, tín dụng tiêu dùng,…) còn rất nhiều tiềm năng phát triển. Yếu tố quyết định đảm bảo cho sự tăng trưởng không ngừng của thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam là sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế, cùng với đó là sự cải thiện của môi trường luật pháp, trình độ dân trí và cơ cấu dân số trẻ. Từ năm 2000 trở lại đây, nền kinh tế liên tục tăng trưởng khá nhanh (thấp nhất là 5,03% năm 2012, 5,98% năm 2014 v à dự kiến 6 , 2% năm 2015), kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định (chỉ số CPI tăng bình quân 3,34%/năm, thâm hụt ngân sách nhà nước được kiểm soát dưới 5% GDP), đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhờ đó, môi trường hoạt động ngân hàng ngày càng thuận lợi và hấp dẫn; nhu cầu về số lượng và chất lượng dịch vụ ngân hàng Việt Nam ngày càng tăng.
Thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ là mặt trận một chiến tuyến mới, không còn là sân chơi độc quyền của các NHTM Việt Nam. Các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, thậm chí cả các tổ chức phi tài chính cũng sẽ hành động một cách ráo riết để chiếm lĩnh thị phần trong lĩnh vực này. Khi không có sự phân biệt giữa các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng nước ngoài trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép mở rộng mạng lưới đi sâu vào thị trường nội địa, mở rộng đối tượng khách hàng là dân cư, trở thành các ngân hàng bán lẻ với công nghệ hiện đại, năng lực tài chính dồi dào, sản phẩm và dịch vụ ngân hàng phong phú, đa dạng, các NHTM Việt Nam có thể thua ngay trên sân nhà. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là vấn đề cấp thiết đối với các NHTM Việt Nam.
Đứng trước xu thế chung của thời đại, BIDV cũng khai thác những tiềm năng từ khách hàng cá nhân, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm cung cấp cho phân khúc thị trường này. Cùng với sự phát triển tất yếu như vậy, vai trò của kiểm tra nội bộ cần được tăng cường để đảm bảo cho mục tiêu phục vụ khách hàng cá nhân tốt hơn nữa. Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, một xu hướng phát triển tất yếu của các Ngân hàng thương mại.
3.1.3 Đánh giá chung về phát triển mạng lưới và nguồn nhân lực
Trong những năm qua, BIDV đã mở rộng đáng kể mạng lưới hoạt động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
3.1.3.1 Về mạng lưới chi nhánh
Hệ thống mạng lưới của BIDV trải khắp 63 tỉnh/thành phố, phủ kín các khu dân cư tập trung, các đô thị lớn và trung tâm thương mại, tài chính trên toàn quốc với số lượng 127 chi nhánh, 559 phòng giao dịch và gần 8.500 ATM/POS trong đó 02 khu vực Hà Nội và TP Hồ Chí Minh chiếm trên 50% tỷ trọng mạng lưới của toàn hệ thống.
3.1.3.2 Về nguồn nhân lực
Tính đến 31 tháng 12 năm 2013, tổng số lao động của BIDV khoảng 18.231người, trong đó 79,7% có bằng đại học, 6,4% có bằng tiến sĩ hoặc thạc sĩ và 13,9% có bằng trung cấp hoặc các bằng cấp khác.
Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV từ năm 2011 đến 2013.