NHNN cần sớm ban hành các văn bản quy định

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến rủi ro hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại NH TMCP đầu tư và phát triển việt nam (Trang 94 - 123)

CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

5.2 Định hướng hoàn thiện hệ thống KSNB tại BIDV

5.2.2 Các giải pháp hỗ trợ từ phía Ngân hàng Nhà nước

5.2.2.1 NHNN cần sớm ban hành các văn bản quy định

Ngân hàng nhà nước đã ban hành quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN về quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 về Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ba văn bản này

giúp cho các ngân hàng hiểu rõ hơn về hệ thống KSNB và là cơ sở cho các ngân hàng xây dựng hệ thống KSNB nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng đạt hiệu quả. Những quy định trong hai quy chế trên cũng phù hợp với những quy định của Ủy ban Basel II về hệ thống KSNB tại các ngân hàng. Tuy nhiên, NHNN cũng như các tổ chức nghề nghiệp chưa ban hành các quy định, hướng dẫn về kiểm soát nội bộ và quản trị RRHĐ một cách đầy đủ và hệ thống. Để các nhà quản lý ý thức đúng mực về rủi ro hoạt động tại các NHTM và có trách nhiệm hơn trong việc thiết lập hệ thống KSNB thì NHNN cần ban hành hướng dẫn về việc áp dụng hệ thống KSNB, trong đó cần phải xác định được khái niệm, mục tiêu của KSNB, vai trò của các cấp quản lý trong hệ thống; quy định trách nhiệm của Ban lãnh đạo trong việc quản lý rủi ro hoạt động, công bố các rủi ro hoạt động quan trọng mà ngân hàng có khả năng gặp phải và cách thức mà ngân hàng đối phó tránh để tình trạng hàng loại các NH phải sát nhập vì không quản lý được rủi ro hoạt động.

5.2.2.2 NHNN cn tăng cường vic giám sát các ngân hàng thc hin quy chế v kim tra, kim soát ni b

Một trong những yếu kém trong hệ thống NH được thể hiện qua việc giám sát các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng. Một khi hệ thống giám sát được thiết lập và hoạt động có hiệu quả sẽ tạo nên một môi trường tốt cho Kiểm soát nội bộ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào xây dựng được một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả?

Luật và văn bản qui phạm pháp luật về ngân hàng của ta trên thực tế đã đưa ra nhiều qui định an toàn ngày càng phù hợp với các qui định mà quốc tế gọi là “biện pháp thận trọng” trong hoạt động ngân hàng.

Tuy nhiên trong lĩnh vực ngân hàng vẫn chưa xây dựng các nguyên tắc giám sát hoạt động ngân hàng một cách hiệu quả. Ngoài những nguyên tắc về quy định và yêu cầu về thận trọng thì những nguyên tắc cơ bản được đề cập dưới đây có thể nâng cấp hệ thống giám sát trong các nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế vĩ mô và ổn định thị trường tài chính.

Điều kiện cần cho việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu quả phải phân định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng đối với từng cơ quan tham gia trong quá trình giám sát các ngân hàng. Phải có một khung pháp lý phù hợp bao gồm cả các điều khoản liên quan đến quyền hạn của các tổ chức ngân hàng và công tác giám sát hiện nay của chính họ. Có

các quy định cần thiết về việc chia sẻ thông tin giữa các chuyên gia giám sát và việc bảo mật các thông tin đó.

Hệ thống KSNB ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào những lý luận xuất phát từ các nước có nền kinh tế phát triển hơn rất nhiều so với điều kiện của nước ta. Chính vì vậy chuyên gia NHNN, các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu kinh nghiệm của các nước về KSNB mới nhất để xây dựng hệ thống lý luận phù hợp với thực tiễn tại VIệt Nam.

Ngân hàng Nhà nước cần thưởng xuyên tổ chức các buổi tập huấn, các buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm thực hiện hoạt động KSNB nhằm giúp các ngân hàng nâng cao hiểu biết về KSNB để đối phó với RRHĐ trong quá tình kinh doanh.

5.2.2.3 Các nguyên tc v giám sát nghip v ngân hàng Một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả cần phải:

- Bao gồm cả các hình thức giám sát không tại chỗ và tại chỗ

- Thường xuyên liên hệ với Ban giám đốc và hiểu rõ về hoạt động của NH

- Xây dựng các biện pháp thu thập, rà soát và phân tích các báo cáo, thống kê của ngân hàng theo hình thức đơn lẻ và tổng hợp.

- Có biện pháp thẩm định độc lập các thông tin giám sát thông qua kiểm tra trực tiếp tại chỗ, hoặc sử dụng các kiểm toán viên độc lập.

- Liên tục tăng cường yếu tố năng lực của chuyên gia giám sát trong việc giám sát hoạt động của nhóm các ngân hàng một cách tổng quát.

- Chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng cần phải biết rõ rằng: mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu và các chính sách kế toán theo một phương thức riêng, do đó chuyên gia giám sát phải nhìn thấy được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng và khả năng sinh lời của các nghiệp vụ ngân hàng. Phải có các biện pháp giám sát bắt buộc để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản (ví dụ tỷ lệ vốn tối thiểu phù hợp, năng lực người đứng đầu...), khi có hiện tượng vi phạm về thể chế, hoặc khi người gửi tiền có thể gặp rủi ro dưới bất kỳ hình thức nào.

- Các TCTD luôn dự đoán về cơ chế chính sách thiếu rõ ràng hoặc theo đuổi các mệnh lệnh về kinh tế, vì vậy vốn không sinh lời có xu hướng gia tăng. Việc xử lý nợ tồn đọng còn chịu ảnh hưởng bởi cơ chế bao cấp, ỷ vào việc “khoanh, giãn, xóa” hoặc cho

vay theo chỉ định của Chính phủ, do đó cứ trong vòng luẩn quẩn thiếu tự chủ, bị lệ thuộc.

Tăng cường công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các NHTM, từ đó phát hiện các sai sót, xu hướng lệch lạc, tranh không lành mạnh, buông lỏng các điều kiện tín dụng … để chỉ đạo và phòng ngừa, chỉnh sửa và khắc phục một cách triệt để.

NHNN cần ban hành quy chế chuyển nợ thành vốn góp giúp ngân hàng có cơ sở để tiến hành xúc tiến cải tổ lại hoạt động của DN để có thể thu hồi nợ; ban hành thông tư về việc xử lý những tổn thất khi các NHTM mua bán nợ tạo điều kiện cho các NH yên tâm thực hiện việc xử lý nợ của mình.

Hậu quả của gánh nặng nợ xấu tồn đọng không phải chỉ do ngành ngân hàng gây ra mà đây còn là hậu quả của chính sách, cơ cấu kinh tế bất hợp lý, sự diễn biến bất thường của thiên tai, môi trường kinh tế vĩ mô, điều hành yếu kém của các doanh nghiệp. Đề nghị NHNN Việt Nam báo cáo Chính phủ cần ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực dự báo, đẩy mạnh phát triển hoạt động bảo hiểm... góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho các NHTM.

Các vướng mắc trong thực hiện xử lý tài sản. Khi xử lý nợ là vấn đề đã được đề cập đến rất nhiều lần nhưng vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Đề nghị NHNN làm việc với các cơ quan có thẩm quyền quan tâm đúng mức hơn tới các bức xúc của ngành NH.

Các tiêu chí báo cáo về xử lý nợ giữa NHNN và các định chế tài chính quốc tế hiện vẫn còn có điểm chưa thống nhất, NHNN cần thống nhất vấn đề này, tránh tình trạng trong mọi kỳ họp kiểm điểm tiến độ triển khai chương trình cải cách ngân hàng thường hay phát sinh các vướng mắc về số liệu báo cáo.

NHNN cần có cơ chế cho NHTM có quyền chủ động trong xử lý phát mãi tài sản thu hồi nợ, không quá lệ thuộc vào nhiều ngành, gây khó khăn chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý nợ quá mức. Kiến nghị NHNN nghiên cứu trình Quốc hội, đưa vào Luật các tổ chức tín dụng quyền được trực tiếp phát mãi tài sản của bên cho vay trong quá trình thu hồi nợ.

5.2.3 Các giải pháp hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý đối với Chính phủ.

Rà soát lại hệ thống chính sách hiện hành về xóa đói giảm nghèo, chính sách quản lý đất đai, chính sách quy hoạch, chính sách về vốn, chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm, chính sách khoa học kỹ thuật và đào tạo, chính sách an ninh quốc phòng. Trên cơ sở đó chỉnh sửa, bổ sung các chính sách theo hướng ưu tiên cho phát triển KT-XH

cho các vùng, ban hành chi tiết, phân cấp đến từng đối tượng, trường hợp cụ thể để hỗ trợ cho hệ thống NH áp dụng chính xác hơn tránh trường hợp lách Luật để trục lợi.

Về cơ chế pháp lý trong việc xử lý tài sản đảm bảo. Chính phủ cần ban hành cơ chế cho phép và khuyến khích các hoạt động thu hồi nợ ngoài tòa án, linh hoạt trong việc chi hoa hồng, thu hồi mua bán và khai thác tài sản xiết nợ, tránh việc hình sự hóa các hoạt động này. Tạo điều kiện pháp lý tốt cho các công ty xử lý nợ có thể chủ động phát mại tài sản và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, nhất là các cơ chế về đấu giá, phát mại các tài sản cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phát mại các tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước.

Tăng cường tính hiệu lực và thực thi của hệ thống pháp luật. Các nghiên cứu tổng kết cho thấy rằng, một nước mà hệ thống pháp luật hoạt động không đúng chức năng của nó thì không thể có một hệ thống ngân hàng lành mạnh. Tuy nhiên, từ trước tới nay, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn được đánh giá là kém cả về tính minh bạch và tính thực thi, hiệu lực. Sự kém hiệu lực, kém thực thi của hệ thống pháp luật Việt Nam dẫn đến việc sử lý các tài sản bảo đảm tiền vay, tài sản cầm cố thế chấp là vô cùng khó khăn và phức tạp. Tình trạng này nếu kéo dài dẫn đến các khoản nợ khó đòi, nợ xấu cứ tích tụ tại các NHTM, gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động của các ngân hàng.

Đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế đặc biệt, cho phép NHTM hoàn thiện các thủ tục pháp lý đối với các tài sản thế chấp, nhất là bất động sản để thu hồi mua bán và khai thác tài sản xiết nợ, tránh việc hình sự hóa của các cơ quan bảo vệ pháp luật vào các hoạt động này.

Thúc đẩy quá trình cải cách, sát nhập các ngân hàng, cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham giá khu vực ngân hàng nhằm tăng cường năng lực tài chính, tăng cường quản trị, điều hành của các NHTM Nhà nước hiện nay. Đây là giải pháp lầu dài và bền vững nhằm ngắn chặn nguy cơ gia tăng nợ xấu.

Một trong những yếu kém về tài chính của các NHTM trong thời gian qua là quy mô vốn tự có nhỏ, hoạt động đơn lẻ, manh múm, mức vốn Nhà nước cấp cho NHTM là rất thấp, tỷ lệ an toàn vốn ở mức rất thấp không đủ điều kiện để kiểm soát được RRHĐ. Sát nhập lại bằng các biện pháp tăng vốn đi đôi với xử lý nợ xấu, nâng cao năng lực quản trị,

điều hành, quản lý tín dụng và rủi ro…

Trong những năm qua, nhà nước tăng vốn cho các NHTM chủ yếu bằng hình thức trái phiếu Chính phủ không chuyển đổi vì thế khả năng thanh toán của ngân hàng còn yếu, tỷ lệ chiết khấu trái phiếu loại này chỉ được thực hiện là 20%. Tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng sinh lợi… song vẫn chỉ đáp ứng phần vốn tăng thêm rất nhỏ, đây thực sự là hạn chế lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Gắn cải cách ngân hàng với cải cách kinh tế toàn diện. Việc cải cách khu vực ngân hàng khó có thể thành công nếu các khu vực khác của nền kinh tế không được đổi mới một cách đồng bộ. Cải cách ngân hàng cần phải tiến hành song song với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô, cải cách bộ máy quản lý nhà nước và đặc biệt là phải gắn với cải cách doanh nghiệp. Cải cách các doanh nghiệp giúp hệ thống này sử dụng tốt nguồn vốn đầu tư từ ngân hàng, đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và khả năng chi trả cho ngân hàng.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Trong chương 5, luận văn đã đưa ra các đánh giá, nhận xét cũng như các kiến nghị lên Chính phủ, ngân hàng Nhà nước cũng như NH BIDV nhằm phát triển hệ thống ngân hàng của Việt Nam và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ tại NH BIDV, với mục đích chính là NH BIDV phục vụ khách hàng tốt hơn và an toàn trong hoạt động kinh doanh. Các giải pháp và kiến nghị được đưa ra các luận cứ khoa học trên cơ sở lý luận của chương 2, thực tiễn của chương 3, kết quả phân tích số liệu tại chương 4.

Luận văn đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ góp phần hoàn thiện, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát tại ngân hàng hoàn thiện chính sách quản lý phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; thiết lập và điều chỉnh các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng phù hợp với điều kiện thực tế; đổi mới tổ chức bộ máy quản lý đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với khả năng quản lý… Các nhóm giải pháp kiến nghị đó vừa tạo tiền đề cho nhau vừa tạo nên hệ thống các giải pháp đồng bộ và lý giải cách thức thực hiện để chỉ rõ tính khả thi của các giải pháp.

Như vậy, KSNB mang tính cốt yếu, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự an toàn và khả năng phát triển trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Việc xây dựng và

thực hiện một cơ chế KSNB phù hợp và hiệu quả sẽ cho phép các NHTM chống đỡ tốt nhất với rủi ro.

Luận văn với nội dung xuyên suốt phân tích các yếu tố tác động mạnh mẽ đến rủi ro hoạt động tại NH BIDV, khái quát lại một cách cơ bản nhất những biện pháp kiểm soát giúp ngăn ngừa rủi ro hoạt động xảy ra. Khi đó, dự đoán, phòng ngừa RRHĐ đơn vị được thực hiện một cách hiệu quả.

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho các ngân hàng những vận hội và cả những thách thức to lớn, đòi hỏi các ngân hàng phải tự vận động đổi mới hoạt động tăng cường sức cạnh tranh của mình. Và trong bối cảnh đó KSNB là một công cụ quan trọng để quản lý giám sát hoạt động của các ngân hàng. Hệ thống kiểm soát nội bộ cần được quan tâm hơn bao giờ hết.

Trong giới hạn khả năng và thời gian nghiên cứu, luận văn chỉ nên được xem như là một tài liệu tham khảo về đề tài kiểm soát nội bộ trong ngân hàng. Hy vọng trong những nghiên cứu tiếp theo sẽ nghiên cứu rõ nét hơn về lĩnh vực này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2010), Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12.

2. Chính Phủ (2009), Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Hà Nội.

3. NHNN(2010) Thông tư số: 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng

4. NHNN(2011) Thông tư số: 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

5. NHNN(2013) Thông tư số: 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của NHTM.

6. NHNN (2014), Thông tư số 14/TT-NHNN ngày 20/5/2014 về sửa đổi một số điều của Qui định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.

7. Ths. Đào Thị thanh Tú (2014), bài biết xây dụng hệ thống quản trị RRHĐ tại các NHTM Việt Nam, Học viện Ngân hàng

8. BIDV - Báo cáo thường niên các năm 2011 - 2014

9. BIDV(2014), các quy trình quy định liên quan đến RRHĐ.

10. Báo cáo dấu hiệu và sự cố rủi ro tác nghiệp từ năm 2011 đến hết quý IV và cả năm 2014 của BIDV.

11. Hoàng Minh (2003), “Vấn đề rủi ro hoạt động ngân hàng và giải pháp hạn chế”, Tạp chí ngân hàng (13)

12. Peter S.Rose (2001), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB.Tài Chính

13. Michael. G(2011), Các yếu tố quyết định rủi ro hoạt động ở Mỹ, môi trường kinh doanh , Đại học Wshington, Seattle, WA 98195

14. Trường Đại học kinh tế Tp.HCM, khoa kế toán kiểm toán (2007), Kim toán, Nxb Lao động xã hội.

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến rủi ro hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại NH TMCP đầu tư và phát triển việt nam (Trang 94 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(123 trang)