Những thủ pháp trong bố cục kiến trúc

Một phần của tài liệu Bài giảng môn học Kiến trúc công trình thuỷ lợi (Trang 167 - 191)

Chương IV: Nguyên lý tổ hợp và bố cục trong kiến trúc

II. Những thủ pháp trong bố cục kiến trúc

Mọi vật tồn tại được trong tự nhiên đều phải phù hợp với quy luật trọng lượng, do đó chúng phải có một thế đứng cân bằng và ổn định. Những hình ảnh đó của tự nhiên đã đi vào tiềm thức của con người và trở thành một quy luật đầu tiên của cái Đẹp.

Về mặt cảm nhận thị giác, cân bằng và ổn định gắn liền với khái niệm đối xứng 2.1.1. Cân bằng đốí xứng

Hình 4.1. Cân bng đối xng trong kiến trúc đình làng Vit nam

Hình 4.2. Cân bng đối xng

Cân bằng đối xứng gồm đối xứng trục và đối xứng tâm, tạo ra trạng thái “cân bằng bền”. Đây là thủ pháp đơn giản nhất để đạt được sự cân bằng và ổn định. Các công trình kiến trúc cổ thường sử dụng thủ pháp này

Trong một số công trình có bố cục mặt bằng phức tạp, trục đối xứng thường được sử dụng như “thần đạo” của công trình

Hình 4.5. B cc đối xng trong mt bng tng th và trong mt đứng chùaThầy

Kiến trúc có bố cục đối xứng còn tạo được cảm giác trang nghiêm nên thường được dùng trong các công trình trụ sở mang tính pháp quyền.

Trong các công trình thủy lợi, bố cục đối xứng cũng thường xuyên được sử dụng cho các hạng mục hoặc cho tổng thể toàn bộ cụm công trình để tạo cảm giác chắc khỏe, ổn định.

Hình 4.7.

Công trình đập Lòng Sông - Bình

Thn s dng b cc đối xng cho các hng mc chính

ca đập

Hình 4.8. Công trình đập thy đin Hoover - M s dng gii pháp đối

Do bố cục đối xứng nên các không gian chức năng cũng buộc phải tương tự nhau nên khó áp dụng trong kiến trúc hiện đại do các công trình hiện đại thường phức tạp về mặt công năng, đòi hỏi các không gian, hình khối đa dạng và linh hoạt.

2.1.2. Cân bằng phi đối xứng

Đây là thủ pháp cân bằng thường được sử dụng trong kiến trúc hiện đại, đáp ứng được nhu cầu phát triển không gian hình khối đa dạng và tạo thế “cân bằng động”. Thủ pháp

này phá bỏ sự cứng nhắc trong cân bằng đối xứng, mang lại vẻ đẹp sinh động cho công trình

Hình 4.9. Mặt đứng công trình văn hoá thể thao

tạo được sự sinh động khoẻ khoắn và mạnh mẽ

Hình 4.10. Th pháp to cân bàng phi đối xng vi nhng mng đặc-rng, sáng-ti thường gp trong kiến trúc hin đại

Đối với công trình thủy lợi, đặc biệt trong các công trình đầu mối, do đặc thù địa hình thường tự do, không đối xứng, hoặc do yêu cầu công năng nên cũng thường sử dụng bố cục cân bảng phi đối xứng.

Hình 4.11. Công trình đầu mối hồ Nước Trong - Quảng Ngãi có bố cục phi đối xứng hài hòa với đặc điểm địa hình

Hình 4.12. Công trình thy đin Sơn La, do yêu cu v công năng, s dng tràn x lũ và nhà máy đặt hai bên to thế cân bng phi đối xng

2.1.3. Cân bằng phản đối xứng-yếu tố tạo điểm nhấn

Cân bằng phản đối xứng là thủ pháp tạo cân bằng trên cơ sở đối xứng, tuy nhiên có một bộ phận hoặc chi tiết nằm ra ngoài quy luật đó và nó trỏ thành yếu tố đặc biệt, thu hút sự quan tâm và trở thành “điểm nhấn” của công trình

Hình 4.13. S dng th pháp phn đối xng trong thiết kế mt đứng mt công trình trm bơm

2.2. Thng nht và biến hoá

Tất cả các tác phẩm nghệ thuật đều được tạo thành từ nhiều bộ phận. Ngay cả trong một bộ phận thành phần lại được tạo nên từ nhiều chi tiết, bộ phận nhỏ khác. Một tác phẩm thiếu sự thống nhất sẽ trở nên hỗn loạn, do mỗi bộ phận đều giành lấy tiếng nói, phong cách riêng. Còn một tác phẩm thiếu sự biến hoá sẽ trở thành đơn điệu, nhàm chán.

Sự thống nhất và biến hoá đạt được trên cơ sở các bộ phận có những nét tương đồng về ngôn ngữ, hoặc giữa chúng tồn tại các quy luật ràng buộc về mặt thị giác, từ đó tạo nên một tổng thể vừa hài hoà, vừa đa dạng.

Để đạt sự thống nhất và biến hoá, trong kiến trúc, ngươig ta thường sử dụng các thủ pháp sau:

2. 2.1. Tương phản-vi biến

Tương phản là sự khác biệt một các rõ rệt, các thành phần đứng cạnh nhau làm nổi bật cho nhau, cạnh tranh nhau về khả năng thu hút thị giác. Tuy nhiên để tôn trọng yêu cầu thống nhất của tổng thể, người ta thường dùng thêm yếu tố vi biến.

Vi biến là sự thay đổi nhẹ, chuyển biến dần dần giữa các thành phần kiến trúc. Nếu chỉ dùng toàn yếu tố tương phản, bố cục dễ bị phá vỡ, nhưng nếu chỉ chuộng yếu tố vi biến sẽ đưa đến án tượng đơn điệu, buồn tẻ.

Tương phản –vi biến thường được dùng vói các thành phần kiến trúc sau:

- Tương phản và vi biến trong kích thước, hình dáng, chiều hướng của hình khối - Tương phản và vi biến trong cấu tạo đặc và rỗng, kín và hở của không gian

- Tương phản và vi biến trong của ánh sáng, màu sắc, chất cảm vật liệu

Hình 4.14. Tương phn v hình khi, đường nét, sáng ti to n tượng mnh và vi biến trong cht liu to s thng nht ca tng th

Hình 4.15. Tương phn vhình khi,đường nét, màu sc

Hình 4.16. Tương phn v đường nét mt cách mnh m nhưng vn to được s thng nht nh th pháp vi biến trong

Hình 4.17. Th pháp tương phn v đường nét, v cu trúc đặc- rng và vi biến trong các chi tiết vòm cun, ca s, mái

2.2.2. Vần luật-nhịp điệu

Vần luật-nhịp điệu là sự lặp đi lặp lại một cách có quy luật. Để đảm bảo tính thống nhất và biến hoá, vần luật được chia ra làm một số loại sau

- Vần luật liên tục: sự lặp lại một hay nhiều thành phần kiến trúc

- Vần luật tiệm biến: lặp lại theo quy luật tăng hoặc giảm(kích thước, số lượng, chất liệu)

- Vần luật lồi lõm(hay dạng hình sin): lặp lại đồng thời tăng hoặc giảm - Vần luật giao thoa: lặp lại trên nhiều chiều hướng khác nhau

Hình 4.18. Vn lut lp liên tc

Hình 4.19. Vần luật lặp nhịp điệu dạng sin

Hình 4.20. Vn lut lp nhp điu dng sin vi khong ngt và đim kết

Hình 4.21. Lut lp tim biến gim theo chiu cao- hình thc phù hp sơ đồ kết cu đồng thi tăng cm giác v chiu cao công

Hình 4.22. Các quy lut lp giao thoa nhau to nên s phong phú sinh động trong tng th b ccmt đứng cm công trình

Hình 4.23. Công trình x lũ h Phú Xuân, hình thc vòm được lp li theo các dng thc khác nhau to nên s thng nht và biến hóa.

2.2.3. Chủ yếu-thứ yếu

Đây là thủ pháp có khả năng tạo cho công trình có tiếng nói riêng, bởi mỗi công trình đều có một chức năng chính và chiếm tỷ lệ không gian nhiều nhất, nó cần được làm nổi bật lên và đóng vai trò tạo tiếng nói chính cho công trình. Các thành phần còn lại tuân theo phong cách và ngôn ngữ của thành phần chính để đạt được sự hài hoà, thống nhất, và đồng thời tạo nên một công trình hặc cụm công trình có cá tính rõ rệt.

Hình 4.24. Tòa tháp chính quy định ngôn ng hình thc cho

Hình 4.25. Phn chân đế quết định ngôn ng hình thc cho phn mái

Hình 4.26. Công trình tháp cng Cà Giây - Bình Thun,

phn chóp mái dng búp sen quy định ngôn ng hình thc cho các mái ph, ô ca vòm và các chi tiết lan can

to nên tng th kiến trúcthng nht, độc đáo.

2.2.4. Liên hệ-phân cách

Công trình kiến trúc thường gồm rất nhiều thành phần không gian và cấu kiện với những dạng thức và ngôn ngữ khác nhau. Giữa chúng luôn tồn tại sự liên hệ và phân

cách. Người thiết kế có thể chủ động tạo ra sự liên hệ và phân cách theo ý đồ của mình để công trình trỏ nên thống nhất, đạt hiệu quả thẩm mỹ và công năng

Phn chân đế là thành phn kiến trúc chính quy định hình thc và t l cho phn mái công trình

Hình 4.27. Liên h bng hình thc c đintương đồng và phân cách bng cách to khong ngát

Hình 4.28. Công trình tràn x lũ h Auyn-H,

Phn khi thang và khi nhà đóng m ca van được liên h vói nhau

2.2.5. Trọng điểm

Trọng điểm là yếu tố cần được nhấn mạnh của công trình. Tuỳ vào thể loại công trình mà yếu tố cần được nhấn mạnh khác nhau, thông thường là các khu vực lối vào sảnh chính hoặc các không gian đặc biệt.

Yếu tố trọng điểm vừa tăng hiệu quả thu hút thị giác, vừa trở thành điểm trọng tâm bố cục, tạo nên sự cân bằng, tăng tính thống nhất cho các bộ phận, chi tiết của công trình.

Hình 4.29. Trng đim trên mt chính công trình thu hút mnh m lc th giác

Hình 4.30. Trong các công trình đập vòm, các ca x được coi như trng đim, thu hút th giácvà tác động mnh đến vic t chc

các chi tiết khác trên b mt công trình 2.3. T l, t xích và h thng Modulor

2.3.1.Tỷ lệ

Tỷ lệ là mối quan hệ về mặt kích thước ba chiều của một thành phần cấu kiện hay giữa các bộ phận với nhau và với tổng thể công trình

Các nghiên cứu về tỷ lên đã có từ thời cổ đại. Các công trình kiến trúc Hi Lạp cổ đại đều có nét đẹp diễm lệ, hoành tráng và hài hoà. Chính nền văn minh Hi Lạp là nền văn minh đầu tiên phát hiện ra vẻ đẹp của cơ thể con người. Họ đưa nó vào thơ ca, vào các bản trường ca bất hủ, vào điêu khắc và cả trong kiến trúc, xây dựng. Khi nghiên cứu về cơ thể con người, người Hi Lạp cổ đã phát hiện ra các “tỷ lệ” hài hoà giữa các bộ phận cơ thể

và ứng dụng chúng trong kiến trúc và xây dựng. Họ sắp đặt tỷ lệ các bộ phận cấu trúc, các chi tiết trang trí trong công trình kiến trúc theo các tỷ lệ của cơ thể con người, mang lại cho công trình vẻ đẹp hữu cơ, chặt chẽ, đăng đối và rất hài hoà

Hình 4.31. Nghiên cu v s ng dng t l con người vào t t công trình

Hình 4.32. Nghiên cu s đo nhân trc và t l thi Phc Hưng

Các nhà nghiên cứu lý luận kiến trúc thời đại Phục Hưng đã tiếp tục nghiên cứu về tỷ lệ của các công trình kiến trúc Hi Lạp cổ đại trên cơ sở sự phát triển của toán học(số học) và phát hiện ra “tỷ lệ vàng”, tỷ lệ 1/1,68 ứng với dãy số Fibrônanxi. Họ tiếp tục phát triển áp dụng các quy luật toán học đó trong tạo hình kiến trúc, tạo nên một thời kỳ phát triển rực rỡ, trở thành thời kỳ cổ điển trong lịch sử kiến trúc

Hình 4.33. T l vàng trong hình sao năm cánh

Hình 4.34. T l cht ch trong Khi Hoàn môn Paris

Hình 4.35. Ngiên cu t l đền Phăngtêong-Roma

Tỷ lệ vàng trong kiến trúc cổ Việt Nam:

Hình 4.37. Khong đứng, khong ngang, khong chy tương ng vi cây thước tm

Hình 4.36. Thước tm ca người th c da trên các s đo cơ th

Hình 4.38. T l Vàng trong đình làng truyn thng và Ng môn Huế

Hình 4.40. T l Vàng chùa Mt Ct

Hình 4.39. T l Vàng trong kiến trúc truyn thng

2. 3.2. Tỷ xích

Tỷ xích là sự tương quan giữa các kích thước cụ thể của từng chi tiết, bộ phận hay tổng thể công trình với tầm vóc con người. Con người, thông qua sự so sánh tương quan này mà cảm nhận độ lớn, tầm cỡ của công trình, gây ra các ấn tượng hoành tráng đồ sộ hay xinh xắn thân thiết, gần giũ ấm cúng hay lấn át choáng ngợp,…

Hình 4.42T xích nh Hình 4.43T xích

Hình 4.44. S hài hòa v t l mang li sc gi cm cho công trình

Hình 4.45. T xích ln to cm giác

hoành tráng và mnh m

Tuỳ theo tính chất công trình và đối tượng sử dụng ta lựa chọn tỷ xích công trình cho hợp lý. Với công trình cho trẻ nhỏ nên sử dụng tỷ xích nhỏ phù hợp. Trong một số công trình thuỷ lợi-thuỷ điện nê dùng tỷ xích lớn tạo sự khoẻ khoắn, vững chác cho công trình

Hình 4.46. Công trình có ty l gia các b phn, chi tiết hài hòa, hp lý to cm giác chc khe,cân đối, vng chãi

Hình 4.47.

Các b phn, chi tiết ca công trình

có t xích ln gây cm giác hành tráng

và hùng vĩ

2.3.3. Hệ thống Modulor

Hình 4.48. Hệ thống Modulor Của Lơ Coocbusie

Trong kiến trúc hiện đại, kiến trúc sư bậc thầy Lơ Coocbusie, người khai sinh cho chủ nghĩa “Kiến trúc-công năng” đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề tỷ lệ, tầm thước của con người.

Ông đưa ra các lý luận kiến trúc phải phù hợp với kích thước cơ thể và hợp lý nhu cầu sử dụng của con người.

Ông luôn coi “Ngôi nhà là cỗ máy để ở”, nhấn mạnh tính phù hợp của “ngôi nhà” với

“con người”, đặc biệt là về kích thước và tính hợp lý trong dây chuyền sử dụng. Chính ông là người phát minh ra hệ thống Modunlor dựa trên kích thước các bộ phận

cơ thể người và xác định tỷ lệ giữa chúng để làm thước đo thiết kế các kích thước không gian, vật dụng nội thất phù hợp với con người.

Một phần của tài liệu Bài giảng môn học Kiến trúc công trình thuỷ lợi (Trang 167 - 191)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(249 trang)