Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DÂN SỐ
3.3. Các gi ải pháp phát triển dân số
3.3.4. Nhóm gi ải pháp về y tế
Mở rộng cung cấp các dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sau sinh
Tập trung chỉ đạo, ưu tiên đầu tư các dịch vụ sàng lọc, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh tật trước sinh và sơ sinh nhằm tạo bước đột phá trong các hoạt động góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Xây dựng quy trình, quy chuẩn, lựa chọn kĩ thuật sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh. Đào tạo tập huấn cán bộ chuyên môn kĩ thuật và tư vấn cho các cán bộ nhân viên y tế có đủ kiến thức và kĩ năng về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh và sau sinh; đào tạo tập huấn các cán bộ nhân viên, cộng tác viên thôn, buôn thực hiện tuyên truyền, vận động tại cộng đồng.
Đầu tư công nghệ, từng bước phát triển, lồng ghép các dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân và khi phụ nữ chuẩn bị mang thai với các hoạt động cung cấp thông tin và dịch vụ cho vị thành niên, thanh niên và các hoạt động can thiệp giảm thiểu tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, sinh con trước tuổi thành niên.
Chương trình đăng kí dân số, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu về DS - KHHGĐ
Đảm bảo trang bị đầy đủ thiết bị máy móc phụ vụ quản lí thông tin, thu thập, lưu trữ dữ liệu dân cư cho cấp tỉnh và huyện, xã thực hiện quản lí bằng hình thức nối mạng từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương.
Từng bước thực hiện hệ thống thu thập, xử lí, quản lí thông tin, dữ liệu thống kê về DS - SKSS kết hợp với việc tiến hành điều tra biến động dân số hằng năm, nhằm đảm bảo việc cung cấp thông tin, dữ liệu kịp thời, chính xác.
Thực hiện đăng kí dân số, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm phục vụ yêu cầu quản lí hành chính, quản lí kinh tế - xã hội.
Thực hiện và nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học về DS - KHHGĐ nhằm tạo điều kiện cho việc xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn áp dụng cho công tác ở các cấp, các ngành hiệu quả hơn.
Chương trình nâng cao chất lượng dân số
Tổ chức tuyên truyền tư vấn về sức khỏe sinh sản và các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số, thực hiện có hiệu quả chương trình phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em.
Phát động phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và môi trường sống tại cộng đồng dân cư.
Xã hội hóa trong thực hiện công tác dân số và sức khỏe sinh sản
Huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, cá nhân và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và công tác dân số và sức khỏe sinh sản.
Hỗ trợ khuyến khích tư nhân và các tổ chức xã hội, cung cấp các dịch vụ dân số và sức khỏe sinh sản với những hình thức phù hợp với quy hoạch phát triển, yêu cầu và đặc điểm của công tác DS – SKSS.
Phối hợp triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo, phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, phục hồi chức năng cho người khuyết tật, đặc biệt cho trẻ em khuyết tật.
Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số và chính sách sức khỏe sinh sản
Tăng cường năng lực mạng lưới cung cấp dịch vụ có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với thực tế địa phương, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, kết hợp hài hòa giữa mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ và phát triển các trung
tâm nghiên cứu, kiện toàn và phát triển mạng lưới chăm sóc sơ sinh. Củng cố, hoàn thiện mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số và chính sách sức khỏe sinh sản dựa vào cộng đồng thông qua đội ngũ cộng tác viên dân số, y tế thôn, buôn.
Mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ, xây dựng áp dụng các mô hình phương thức cung cấp dịch vụ riêng biệt nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu về dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lí liên quan đến DS - SKSS
Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề DS - SKSS để kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các vấn đề DS - SKSS và tổ chức thực hiện các mục tiêu của chính sách DS – SKSS.
Chủ động công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thi hành chính, pháp luật về DS – SKSS nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, xử lí nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực DS – SKSS.
Xây dựng các văn bản hướng dẫn chuyên môn kĩ thuật đảm bảo thực thi pháp luật và các chính sách trong lĩnh vực DS – SKSS.
Ngoài ra cần chủ động công tác tư vấn đối với các cặp vợ chồng vô sinh để sớm tìm ra các biện pháp khoa học, tăng hạnh phúc gia đình. Sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp với cụm từng địa bàn bằng nhiều hình thức vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nhất là các cặp vợ chồng trẻ đã sinh con thứ ba. Đẩy mạnh mạng lưới dịch vụ, các cơ sở cán bộ làm công tác kế hoạch hóa gia đình. Phải đủ lực lượng để phủ kín tất cả các địa bàn nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mặt khác phải đáp ứng kịp thời, đầy đủ theo nhu cầu của mọi đối tượng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng lựa chọn phương pháp tránh thai.
Nâng cao dân trí, phúc lợi công cộng nhằm góp phần nâng cao sự hiểu biết của người dân, tạo điều kiện để người dân dễ dàng trong việc tiếp cận các thông tin khoa học về công tác dân số. Lồng ghép chương trình dân số gia đình với các chương trình việc làm, xóa đói giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm và dạy nghề tạo điều kiện cho người dân có cơ hội tìm việc làm có thu nhập cao phát triển kinh tế gia đình, góp phần nâng cao chất lượng của người dân. Tăng cường sự hiểu biết về bình đẳng giới, nâng cao vai trò vị thế và quyền năng cho người.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể, cá nhân mở các cơ sở khám chữa bệnh có đủ các điều kiện về chuyên môn của ngành y và tuân thủ đầy đủ các quy định chung của pháp luật nhằm cùng với y tế nhà nước đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Tạo điều kiện cho bệnh viện tư nhân hiện có mở rộng quy mô, đầu tư trang thiết bị hiện đại, tạo điều kiện cho người dân và được hưởng các dịch vụ y tế chất lượng cao.
Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nhân dân vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, xóa bỏ tập tục lạc hậu, nâng cao kiến thức y tế, chữa bệnh và kế hoạch hóa gia đình. Sử dụng nhiều loại hình tuyên truyền, kể cả đài phát thanh truyền hình và trường học, kết hợp giữa tuyên truyền và giải trí, giữa thông tin đại chúng và tuyên truyền trực tiếp.
Huy động các nguồn vốn nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển sự nghiệp y tế. Tăng cường quản lí nhà nước về hoạt động hành nghề y dược tư nhân. Tổ chức tốt công tác bảo hiểm y tế, y tế từ thiện và thực hiện chính sách miễn phí cho các đối tượng chính sách, người nghèo…
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuôi
Kết hợp chăm sóc người già tại cộng đồng và chăm sóc tại nhà với chăm sóc tại cơ sở theo yêu cầu. Đẩy mạnh truyền thông thông qua giáo dục y tế và các kênh khác để nâng cao nhận thức và kiến thức về tuổi già khỏe mạnh.
Tăng cường quản lý và kiểm soát các bệnh mãn tính lão khoa với mục đích tăng số năm sống mạnh khỏe. Dần dần phát triển và quản lý một mạng lưới thống nhất các cán bộ xã hội, các nhà cung cấp chăm sóc lão khoa và các viện dưỡng lão dựa trên nhu cầu và điều kiện thực tế của từng địa phương. Đưa các nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi vào chương trình đào tạo cho sinh viên y khoa, điều dưỡng viên và các nhân viên y tế khác.
Mở rộng trợ cấp xã hội cho người cao tuổi dễ bị tổn thương hướng tới một hệ thống toàn cầu trong đó tâ[j trung đặc biệt vào người cao tuổi sinh sống ở khu vực nông thôn và phụ nữ cao tuổi.
Tác giả đưa ra các giải pháp sau:
Dân số là một vấn đề đang nóng hiện nay ở hầu hết các nước đang phát triển vì vấn đề dân số ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội muốn kinh tế phát triển đời sống nhân dân nâng cao thì dân số phải phát triển hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội.
Muốn giảm gia tăng dân số thì kinh tế phải phát triển, đời sống nhân dân phải được nâng cao, trình độ học vấn cao tất yếu người dân sẽ nhận thức được lợi ích của việc sinh ít con, quy mô gia đình nhỏ. Cần kết hợp tất cả các nhóm phương pháp một cách hợp lí như phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp chính quyền với công tác dân số gia đình và trẻ em.
Tăng cường đầu tư cho giáo dục đưa nội dung giáo dục dân số vào chương trình học ngay từ đầu cấp trung học cơ sở để học sinh hiểu biết và có kiến thức về dân số.
Lồng ghép chương trình dân số gia đình với các chương trình tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm và dạy nghề tạo điều kiện cho người dân có cơ hội tìm việc làm có thu nhập cao phát triển kinh tế gia đình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Tiểu kết chương 3
Để phát triển dân số hợp lí, cần gắn mục tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu y tế, giáo dục, những quan điểm cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội (nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của dân số hiện nay). Đó là những quan điểm về con người, chính trị, hợp tác, đầu tư xây dựng, văn hóa – xã hội, bảo vệ môi trường. Song song với những quan điểm là những mục tiêu và định hướng phát triển dân số đến năm 2020. Nhằm hiện thực hóa những mục tiêu đề ra, luận văn đã đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu về chính sách, y tế, văn hóa, giáo dục, dân số; cần phải thực hiện đồng bộ, kết hợp hiệu quả các giải pháp để đạt hiệu quả cao nhất.
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
Qua nghiên cứu đề tài “Biến động dân số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2000 – 2012” đã đạt được một số kết quả sau:
- Tổng hợp những cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến dân số.
- Nghiên cứu các vấn đề về biến động dân số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2000 – 2012, qua đó phân tích những biến động về quy mô dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư của tỉnh trong suốt giai đoạn trên. Giai đoạn 2000 – 2012, quy mô dân số của tỉnh tăng, tốc độ tăng dân số còn cao nhưng đã có xu hướng giảm.
Mặc dù là tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết và mức sống còn nhiều hạn chế nhưng tỉ suất gia tăng tự nhiên đã giảm nhanh, gia tăng cơ học có nhiều biến động; nếu như những giai đoạn trước, Đắk Lắk là tỉnh nhập cư, thì ở giai đoạn này, tỉnh đã trở thành một trong hai tỉnh xuất cư lớn nhất của Tây Nguyên.
- Cơ cấu dân số cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là cơ cấu dân số theo tuổi và trình độ văn hóa. Tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trên tuổi lao động tăng, làm cho tỉ lệ phụ thuộc giảm, tỉ lệ già hóa tăng và tỉnh đang bước vào thời kì “dân số vàng”, tiến tới cơ cấu dân số ổn định.
- Tỉnh đang thực hiện chính sách phân bố dân cư hợp lí nhằm giãn dân về phát triển kinh tế ở những vùng còn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh những mặt tích cực mà biến động dân số mang lại, cũng phải kể
đến một số khó khăn mà tỉnh đang gặp phải. Thứ nhất, đó là tình trạng xuất cư chủ yếu thuộc về lớp người trẻ, những người có trình độ đào tạo, năng động và nhạy bén với những biến động của thị trường đã làm cho tỉnh thiếu hụt lực lượng lao động có chuyên môn nghiệp vụ cao. Thứ hai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều hạn chế, hoạt động nông nghiệp là hoạt động chủ đạo và chiếm hơn 50%, công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ lẻ, tỉnh chưa phát huy được hết lợi thế nông nghiệp của mình để biến nền nông nghiệp sang nông
nghiệp hàng hóa. Vì vậy, việc sử dụng lao động chưa đạt hiệu quả tối ưu.
Trên cơ sở nghiên cứu về biến động dân số tỉnh Đắk Lắk, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:
Về kinh tế: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, tiếp tục đầu tư nhằm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hút các nguồn đầu tư từ bên ngoài, đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ với mức tăng trưởng cao, tiếp tục nâng cao ứng dụng trình độ khoa học vào trong sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Về dân số: tiếp tục giảm tỉ lệ sinh cho đến khi đạt được mức sinh thay thế bằng việc đẩy mạnh tuyên truyền chính sách dân số trong nhân dân đặc biệt là đưa giáo dục dân số vào trong học đường, tỉnh tiếp tục đào tạo nâng cao trình độ cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình – chăm sóc sức khỏe sinh sản, tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính cho công tác DS - KHHGĐ, thực hiện các chương trình nâng cao chất lượng dân số.
Về y tế: nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em và người già. Tăng cường đội ngũ cán bộ, y bác sĩ, số bệnh viện, giường bệnh cả về chất lượng lẫn số lượng. Tuyên truyền cho người dân ý thức chăm sóc sức khỏe, phòng và trị bệnh đúng cách, ăn uống hợp vệ sinh và chú trọng công tác vệ sinh môi trường sống xung quanh, lồng ghép các chương trình sống đẹp, sống khỏe trong cộng đồng dân cư.
Về giáo dục: đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, tiếp tục đầu tư xây dựng trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên, hiện đại trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy học. Một mặt nâng cao trình độ dân trí cho người dân, mặt khác tập trung đào tạo lực lượng lao động có tay nghề để phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
Tiến hành phân bố lại nguồn lao động và dân cư cho hợp lí giữa các địa phương trong tỉnh. Chủ động giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động đến các thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Đây là biện pháp có tính khả thi trong giai đoạn hiện nay, một mặt giải quyết được số lao động đang thất nghiệp mặt khác tăng thu ngân sách cho tỉnh nói chung và hộ gia đình nói riêng. Cần đưa ra chính sách ưu đãi nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh.
Để việc phát triển dân số phù hợp với phát triển kinh tế của tỉnh cần chú trọng đầu tư hơn nữa công tác DS - KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nhằm giảm tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên đồng thời tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế nhằm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, nâng cao mức sống nhân dân.
Khi kinh tế phát triển nhận thức người dân được nâng cao thì tỉ lệ sinh sẽ giảm.
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc giảm tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên, thực tế đã chứng minh qua các nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, các nước Tây Âu.... Trong xu thế hiện nay kinh tế ngày càng phát triển nhu cầu cuộc sống con người ngày càng cao vì vậy để cân bằng giữa tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế thì dân số tăng 1% kinh tế phải tăng từ 6% trở lên.