CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
3.2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MUỐI BẠC LIÊU
3.2.1 Tổng quan tình hình muối tại Việt Nam
Theo Vũ Bội Tuyền (1979) muối ăn là tên thương phẩm của Natri Clorua sản xuất từ nguyên liệu nước biển, hoặc các nguồn nguyên liệu chứa NaCl khác (quặng muối, nước biển kiểu Clorua,…), thành phần chính của muối ăn là NaCl. Phân tử lượng của NaCl nguyên chất là 58,448. Hạt muối ăn thường có màu trắng. Muối ăn thường chứa những tạp chất như Calsium Sulphate (CaSO4), Magnesium Sulphate (MgSO4), Potassium Chloride (KCL), tạp chất không tan (bùn, đất),… Những tạp chất này lẫn vào NaCl trong quá trình sản xuất muối ăn. Tạp chất Magnesium Chloride (MgCl2) có vị đắng và dễ hút ẩm, gây cho muối ăn dễ chảy và có vị đắng nên không có lợi. Khi muối ăn có lẫn tạp chất thì nó có thể có màu khác nhau: lẫn Mangan (Mn2+) thì có màu trong suốt, lẫn sắt oxit thì có màu hồng, lẫn đồng oxyt thì có màu lục,… Muối ăn dùng trong công nghiệp càng chứa ít tạp chất càng tốt. Việt Nam có trên 3.000km bờ biển với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất muối. Nước ta hiện nay có 21 tỉnh/thành có sản xuất muối. Sản lượng muối biến động lớn theo thời tiết từng năm. Theo Vũ Bội Tuyền (1979), nước ta tồn tại song song hai phương pháp sản xuất muối từ nước biển đó là: muối phơi cát ở miền Bắc (từ Huế trở ra) và muối phơi nước ở miền Nam. Phương pháp phơi cát phù hợp với khí hậu miền Bắc mưa nắng xen kẽ, các vùng đất cát và pha cát.
Phương pháp phơi nước phù hợp. Phương pháp phơi nước phù hợp với thời tiết miền Nam có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Phương pháp phơi nước có ưu điểm hơn phương pháp phơi cát là năng suất cao hơn, chất lượng muối tốt hơn,
giá thành sản xuất muối cũng thấp hơn. Có thể chia ra 2 khu vực sản xuất muối ven biển tại Việt Nam như sau:
Từ Huế trở ra: muối phơi cát chỉ cung cấp được cho nhu cầu tiêu dùng của người dân và chế biến thực phẩm. Do hàm lượng Calcium (Ca2+), Magnesium (Mg2+), và sulphate (So42-) cao nên không dùng trong công nghiệp, năng suất lao động và thu nhập của diêm dân thấp. Đồng muối chịu nhiều ảnh hưởng của bão lụt (trong vòng 20 năm nay bão lụt đã cuốn trôi 800 ha ruộng muối trong khu vực).
Từ Quảng Nam đến Bà Rịa – Vũng Tàu: khu vực có điều kiện khí hậu thuận lợi nhất cho sản xuất như lượng nắng và gió lớn, nồng độ NaCl trong nước biển rất cao (3 – 3,20 Baume), chất lượng đất làm nền tốt,… Đây là khu vực có thể hình thành các khu công nghiệp muối biển của nước ta để sản xuất muối công nghiệp và xuất khẩu. Tại khu vực này có thể khai thác trên 100.000 ha đất hoang ven biển để sản xuất từ 1 – 1,5 triệu tấn muối/ năm. Đặc điểm rõ nét của khu vực này là:
- Trước năm 1975 chỉ có 1 đồng muối duy nhất là Cà Ná (Ninh Thuận) thuộc quy mô cỡ trung bình khoảng 35.000 – 45.000 tấn/ năm, công nghệ sản xuất tương đối tiên tiến. còn các đồng muối khác qui mô nhỏ vài chục ha, sản lượng năng suất thấp, sử dụng công nghệ cổ truyền lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp.
- Sau năm 1975, một số đồng muối phía bắc Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa được cải tạo và xây dựng mới theo công nghệ hiện đại. Kết quả đã nâng cao sản lượng và chất lượng muối (năng suất đạt từ 112 -141 tấn/ha) và thu hồi được thạch cao, tận dụng được nước ót để sản xuất hóa chất. Tại các 33 đồng muối này cũng mới cơ giới hóa được từng phần như: bơm nước biển, bơm chuyền cấp, vận chuyển muối bằng xe tải thông thường từ ô kết tinh vào bãi chứa… Tuy nhiên, mức độ cơ giới trên chỉ đạt 20 -50%, chưa thực hiện được tự động hóa trong sản xuất.
Từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bạc Liêu: các đồng muối được sản xuất theo kiểu phơi nước cổ truyền kết hợp với nuôi tôm. Đất khu vực này là đất sình lầy, có thành phần sét khá lớn, nồng độ muối trong nước biển thấp (trung bình 2,0 – 2,50 Baume), chất lượng nước biển ven bờ thấp (theo QCVN 10:2008), mùa nắng thấp nên năng suất và chất lượng muối thấp so với khu vực 2. Nhìn chung nghề muối Việt Nam đã tạo được việc làm cho nhiều người, cung cấp muối tại chỗ và khai thác được các vùng đất hoang hóa phục vụ kinh tế. Tuy nhiên, do sản xuất lạc hậu, manh mún, chất lượng muối thấp,
kênh tiêu thụ chưa hiệu quả nên thu nhập từ sản xuất muối chỉ đảm bảo 70%
mức sống của diêm dân.
3.1.2.2 Tình hình tiêu thụ muối
Mặc dù là quốc gia có bờ biển dài, có tiềm năng sản xuất muối với 21 tỉnh, 45 huyện, 125 xã sản xuất muối nhưng bao năm nay nước ta vẫn luẩn quẩn trong vòng thừa muối “thô” mà thiếu muối “tinh” nên vẫn thường xuyên phải nhập khẩu muối. Theo công văn số 2568/BNN-CB V/v điều hành nhập khẩu hạn ngạch thuế qua năm 2013 về mặt hàng đường và muối của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì: tổng nguồn cung muối năm 2013 ước đạt 1.457.300 tấn, gồm: sản xuất trong nước năm 2013 là 1.000.000 tấn; luân phiên chuyển gối vụ từ năm 2012 chuyển sang 177.300 tấn; nhập khẩu 280.000 tấn (bao gồm cả trong và ngoài hạn ngạch thuế quan). Tổng nhu cầu muối năm 2013 là 1.300.000 tấn. Như vậy, cung vượt cầu và lượng muối luân chuyển sang năm 2014 là 157.300 tấn.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy giá trị nhập khẩu muối trong tháng 11 ước đạt 2 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2014 lên 19 triệu USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong khi đó, do thời tiết thuận lợi ở các vùng sản xuất muối khu vực miền Trung nên sản lượng muối (tính đến tháng 11/2014) đạt mức cao, ước khoảng 1,18 triệu tấn, tăng 16,4% so với cùng kỳ 2013. Trong số đó, sản lượng muối sản xuất thủ công đạt 815.921 tấn, tăng 11% so với cùng kỳ 2013;
còn muối sản xuất công nghiệp đạt 361.833 tấn, tăng 30,8%. Lượng muối tồn trong diêm dân và một số doanh nghiệp sản xuất đứng ở mức khoảng 200.399 tấn, trong đó Miền Bắc tồn 27.595 tấn, Miền Trung tồn 135.366 tấn, và Đồng bằng sông Cửu Long tồn 37.438 tấn. Giá muối trong tháng 11 tương đối ổn định. Cụ thể, muối ở Miền Bắc có giá từ 1.300-2.500 đồng/kg, ở Nam Trung Bộ giá từ 600-1.100 đồng/kg đối với muối thủ công và từ 850-1.100 đồng/kg đối với muối công nghiệp, ở Đồng bằng sông Cửu Long giá từ 1.000-1.700 đồng/kg. Để tạo điều kiện hỗ trợ diêm dân tiêu thụ được muối trong nước sản xuất với giá cả hợp lý, Bộ Công thương đã tiếp tục điều hành nhập khẩu muối theo tình hình thực tế sản xuất trong nước đã thực hiện trong những năm gần đây (đề xuất của Bộ Công Thương tại văn bản số 535/BTC-XNK ngày 24/12/2012 về việc điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2013), cụ thể: Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu muối năm 2013 là 102.000 tấn;
Lượng phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu muối năm 2013 cho các
doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực y tế là 2.000 tấn; các doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực hóa chất là 51.000 tấn.
Việc nhập khẩu với sản lượng muối nhiều như vậy nói lên rằng bên cạnh những kết quả đạt được suốt thời gian qua, ngành muối vẫn còn nhiều tồn tại, đó là sản xuất muối vẫn chủ yếu thủ công, phụ thuộc chính vào những điều kiện thời tiết. Việc phát triển diện tích sản xuất muối công nghiệp chưa đạt mục tiêu đề ra; muối chất lượng cao cung cấp cho các ngành công nghiệp và y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Đây là điểm yếu mà ngành muối cần nỗ lực để có thể dần khắc phục trong thời gian tới.
Thực tế các cơ sở sản xuất muối trong nước chỉ đủ năng lực cung cấp muối cho thực phẩm. Còn sản phẩm muối được gọi là muối công nghiệp thực chất chỉ là muối được sản xuất theo phương pháp công nghiệp với độ sạch hơn, nhưng không đủ tiêu chuẩn cho sản xuất hóa chất. Để phát triển ngành muối cả nước thì muối Việt Nam không những đạt chất lượng muối ngon mà còn phải là muối có độ tinh khiết cao để phục vụ cho nhu cầu trong nước và cả xuất khẩu.
Mặc dù nước ta vẫn đang nhập khẩu với một lượng lớn muối trên thế giới thế nhưng song song đó nước ta vẫn đang xuất khẩu muối. Đáng nói là trong khi các doanh nghiệp trong nước năm nào cũng xin nhập muối tinh khiết về thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp công nghệ thực phẩm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Mỹ mua muối thô từ Việt Nam về để sản xuất. Những năm đầu của thập kỷ 90, hạt muối Việt Nam đã từng có mặt tại các nước Liên Xô và Đông Âu, số lượng khoảng 40.000 – 50.000 tấn/năm, chủ yếu xuất theo hiệp định thương mại giữa hai Chính phủ. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, chúng ta cũng xuất khoảng 10.000 – 15.000 tấn/năm. Đáng chú ý, các sản phẩm muối sạch tự nhiên; muối tinh chất lượng cao của Việt Nam đã có mặt tại thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)..., với số lượng ngày một tăng. Năm 2012, ngành muối xuất khẩu 20.500 tấn, trong đó riêng Công ty Muối Thanh Hóa đã xuất 554 tấn muối sạch vào Mỹ, Nhật Bản.