Phân loại đất trên thế giới

Một phần của tài liệu Giáo trình đất trồng trọt đh thái nguyên (Trang 183 - 186)

Chương 7: PHÂN LOẠI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

7.1.1. Phân loại đất trên thế giới

Trong hơn một thế kỷ qua, khoa học đất thế giới có nhiều phương pháp phân loại đất khác nhau (còn gọi là trường phái phân loại đất). Trong phạm vi tài liệu này chúng tôi chỉ trình bày một số trường phái lớn, là những bảng phân loại mà nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang sử dụng.

7.1.1.1. Phân loi đất ca Liên Xô (cũ) (Phân loi đất theo phát sung Cơ sở khoa học của phương pháp:

Là học thuyết phát sinh học đất. Học thuyết này do nhà khoa học đất người Nga v.v Đôcutraiep đưa ra năm 1883. ông cho rằng: "Đất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc lập, nó là sản phẩm hoạt động tổng hợp của mẫu chất và đá mẹ, khí hậu, sinh vật địa hình và tuổi địa phương".

Học thuyết này đã được các nhà khoa học đất ở Nga và các nước khác trên thế giới tiếp thu, hoàn thiện dần và bổ sung thêm một số yếu tố nữa, đó là tác động của con người trong quá trình hình thành đất trồng trọt. Sự tác động tổng hợp của các yếu tố trên sẽ quyết định các quá trình hình thành đất chính. Các vùng địa lý tự nhiên khác nhau, các yếu tố hình thành đất không giống nhau sẽ diễn ra các quá trình hình thành đất khác nhau. Kết quả hoạt động của các quá trình hình thành đất sẽ được biểu hiện rõ trong cấu tạo phẫu diện đất. Mỗi tầng đất trong phẫu diện là sản phẩm đặc trưng của một hay nhiều quá trình phát sinh nào đấy nên được gọi là "tầng phát sinh". v.v.

Đôcutraiep cũng là người đầu tiên đưa ra nguyên tắc phân chia phẫu diện ra thành các tầng, dùng các chữ cái A, B, C, D để ký hiệu cho các tầng đất.

Nội dung củaphươngpháp:

Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất: Điều tra thu thập các yếu tố hình thành đất là đá mẹ, sinh vật, địa hình, khí hậu, sự tác động của con người.

Xác định các quá trình hình thành đất chính: Từ những kết quả nghiên cứu 6 yếu tố hình thành đất, kết hợp với nghiên cứu các phẫu diện đất và số liệu phân tích lý hoá học của đất sẽ biết được quá trình hình thành đất. Vì vậy việc nghiên cứu ngoài thực địa, mô tả phẫu diện, phân tích mẫu chất là những căn cứ quan trọng để phân loại đất theo phát sinh (người ta gọi phân loại phát sinh là phân loại bán định lượng là vì vậy).

Xây dựng bản đồ phân loại đất: Cần xác định được các loại đất có trong khu vực theo một hệ thống phân vị chặt chẽ với các tên đất rõ ràng. Hệ thống phân loại theo phát sinh của Liên xô (cũ) gồm các cấp từ lớn đến nhỏ là:

Phân loại đất theo phát sinh đã giải thích được sự hình thành đất, chiều hướng biến đo và phát triển, tính chất .của các loại đất. Việc đặt tên đất gắn với các yếu tố và quá trình hình thành đất, để tiếp nhận và sử d~mg.

Tồn tại của phân loại đất theo phát sinh là chưa thể hiện đầy đủ tính hiện tại của đất.

Nhiều vừng đất rộng lớn đã có sự tác động của con người như bố trí hệ thống cây trồng

nông lâm nghiệp, bón các loại phân vào đất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, phá rừng. . . thì các tính chất đất không còn phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố tụ nhiên mà phụ thuộc vào yếu tố nội tại, yếu tố địa phương do tác động sâu sắc của con người.

7.1.1.2. Phân loi đất ca M (SOU taxonomy)

Cơ sở khoa học của phương pháp: Các tác giả của Soil taxonomy cũng dựa vào các yếu tố hình thành đất của học thuyết phát sinh, nhưng cơ sở chính để phân loại đất lại là những tính chất hiện tại của đất.

Các tính chất hiện tại của đất có liên quan mật thiết đến hình thái phẫu diện. Định lượng các tầng phát sinh theo các chỉ tiêu chặt chẽ về hình thái và tính chất đề xác định tên của tầng đất là cơ sở để tiến hành phân loại đất, vì vậy người ta còn gọi phương pháp này là phương pháp phân loại định lượng.

Ví dụ: Một vùng đất ven biển thì yếu tố hình thành có thể là quá trình mặn hoá.

Song để khẳng định và đặt tên cho đất phải xác định nồng độ muối tan trong đất. . Nội dung của phương pháp:

Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất: điều tra thu thập các yếu tố hình thành đất như phân loại theo phát sinh học. Tuy nhiên việc mô tả tuân thủ theo lulullg quy định chặt chẽ để dễ dàng quản lý số liệu bằng hệ thống máy tính hiện đại.

Xác định và định lượng các tầng chẩn đoán: chia các tầng chẩn đoán thành 2 nhóm chính: Nhóm tầng mặt và nhóm tầng dưới tầng mặt.

- Nhóm các tầng chẩn đoán trên mặt (surface horizons): Các tầng chần đoán.

chính là H. Hisstic (chất hữu cơ ướt - Dùng để xác định có phải đất than bùn không);

A. Mollic (dùng để xác định đất giầu bazơ); A. Umbric (dùng để xác định đất nghèo Bazơ); A. Ochric (dùng để xác định đất phèn hoạt động) . . . .

- Nhóm các tầng dưới tầng mặt (subsurface horizons): Các tầng chần đoán chính là: B. Argic (dùng để xác định hàm lượng sét trong các đất xám bạc màu; đất đỏ và đất xám nâu vùng bán khô hạn; đất đen và đất đỏ vàng); B. Natric (xác định hàm lượng Na trong đất mặn, kiềm); B. Calcic (xác định hàm lượng can xi trong đất lịch vôi).

Tầng chẩn đoán là cơ sở để định tên các đơn vị đất.

Hệ thống phân vị: Soil taxanomy có hệ thống danh pháp riêng, hệ thống phân vị từ lớn đến nhỏ như sau:

Lớp, bộ (Order) → Lớp phụ hay bộ phụ (suborder) →Nhóm lớn (great group) →

Nhóm phụ (subgroup) →Họ (family)→ Dãy (series) → Đơn vị (soil unit).

Điểm khác nhau cơ bản của phân loại đất theo Soil taxonomy so với phân loại theo phát sinh học là: Soil taxanomy dùng những chỉ tiêu định lượng các dấu hiệu đặc trưng của tầng đất và các tính chất hiện tại để phân loại đất. Đất được xác định sắp xếp trên cơ sở chẩn đoán và định lượng tầng phát sinh, định lượng các tính chất của đất.

Nhìn chung đây là phương pháp phân loại tốt, tuy nhiên khá phức tạp và khi tiến hành phân loại đòi hỏi chi phí cao.

7.1.1.3. Phân loi đất theo FAO - UNESCO

Năm 1961, hai tổ chức FAO và UNESCO của Liên hiệp quốc bắt đầu thực hiện dự án nghiên cứu phân loại và biên vẽ bản đồ đất cho toàn thế giới tỉ lệ 1:5.000.000.

Dự án đã huy động hơn 300 nhà khoa học đất của nhiều quốc gia trên thế giới tập trưng làm việc tại Trung tâm Khoa học Đất quốc tế tại Amsterđam. Sau 20 năm làm việc khẩn trương bản đồ đất thế giới tỉ lệ l:5.000.000 đã hoàn thành (1980) và đến nay ngày càng được hoàn thiện.

Cơ sở của phương pháp: Giống như Soil taxonomy, các tác giả của hệ thống phân loại theo FAO - UNESCO cũng dựa vào nguồn gốc phát sinh và tính chất hiện tại của đất để tiến hành phân loại đất và sử dụng nguyên tắc định lượng của Soil taxanomy, nhưng hệ thống phân loại này có chú dẫn bản đồ đất thế giới và hệ thống phân vị đơn giản, một số thuật ngữ tên đất mang tính chất hòa hợp giữa các trường phái.

Nội dung của phương pháp:

Nghiên cứu quá trình hình thành đất: thu thập và nghiên cứu các tu liệu có liên quan tới các yếu tố hình thành đất như đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian và tác động của con người. Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên theo một hệ thống chặt chẽ để xử lý bằng hệ thống máy tính hiện đại.

Định lượng tầng chẩn đoán:

- Tầng chẩn đoán: Là tầng đất có đặc tính hình thái và tính chất cần định lượng, kết quả định lượng sẽ cho phép định tên tầng chẩn đoán. Tầng chẩn đoán là cơ sở để định tên đơn vị đất đai. Ví dụ: Có tầng B.Argic ở tầng chẩn đoán đất sẽ ở nhóm Acrisols. Các đặc tính chẩn đoán: Một số đặc tính được dùng để phân chia các đơn vị đất không thể coi như các tầng, chúng là đặc tính của chẩn đoán của các tầng đất hoặc vật liệu đất, các đặc tính đùng để phân loại nhất thiết phải là các chỉ tiêu định lượng.

Các đặc tính được qui định dùng trong phân loại đất có đặc tính Fulvic, đặc tính salic, đặc tính gleyic stagnic, sự thay đổi đột ngột về thành phần cơ giới...

Định tên đất: Kết quả định lượng tầng chẩn đoán, đặc tính tầng chẩn đoán sẽ xác định được tên tầng chẩn đoán từ đó xác định được tên đất của vùng cần xác định. Tên đất gắn liền với tính chất đất. Ví dụ: Đất có tầng B. Argic: Có V < 50%. . .nằm ở nhóm

đất có tên là acrisols (từ chữ Acer có nghĩa là rất chua).

Hệ thống phân vị của FAO - UNESCO gồm 4 cấp từ lớn đến nhỏ là:

Nhóm chính (major group) →Đơn vị (units) → Đơn vị phụ (subunits) → Pha (phase).

FAO - UNESCO chia đất thế giới thành 28 nhóm đất chính với 153 đơn vị đất.

Ngoài ra, hệ thống phân loại của FAO - UNESCO còn sử dụng một số thuật ngữ có tính chất hoà hợp hoặc kế thừa truyền thống của các nước tiên tiến. Sự cải tiến tên gọi dã giúp cho phương pháp phân loại đất theo FAO - UNESCO được nhiều nước áp dụng vì đã xây dựng được tiếng nói chung cho ngành khoa học đất. sau khi bản đồ đất thế giới được công bố, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng phương pháp phân loại đất của FAO - UNESCO để tiến hành phân loại, đánh giá nguồn tài nguyên đất đai của đất nước mình. Điều này thể hiện tính đúng đắn, khoa học và ý nghĩa thực tiễn của phương pháp phân loại đất theo hệ thống FAO - UNESCO. Cũng dựa vào nguồn gốc phát sinh nhưng hệ thống phân loại của FAO - UNESCO căn cứ vào tính chất hiện tại để phân loại đất, điều này cho phép đánh giá sát thực chất đất để sử dụng đất hợp lý nhất.

Một phần của tài liệu Giáo trình đất trồng trọt đh thái nguyên (Trang 183 - 186)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(241 trang)