Chương 7: PHÂN LOẠI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
7.4. ĐẤT ĐỒI NÚI VIỆT NAM
7.4.2. Một số loại đất vùng đồi núi Việt Nam
7.4.2.1. Đất Xám - Ký hiệu là X - Acrisols (Ac) . Diện tích: 19.970.642 ha.
Phân bố rộng khắp trung du miền núi và rìa đồng bằng. Đáy là nhóm đất chiếm đến gần 2/3 diện tích cả nước, phân bố rộng khắp tnmg'du miền núi và một phần ở đồng bằng. Hầu hết đất xám bạc màu, đắt đỏ vàng phát triển trên các đá mẹ khác nhau, một phần đất phù sa cổ đạt tiêu chuẩn có tầng B tích sét, CEC thấp (< 24 me/100g sét), có độ no bazơ thấp (< 50%) đều thuộc nhóm này. Tên bản đồ đất tỷ lệ 1.1.000.000 chia ra các đơn vị:
- Đất xám bạc màu (X) Haplic Acrisols (ACh).
- Đất xám có tầng loang lổ (XL). Plinthic Acrisols (ACP).
- Đất xám giây (Xg). Gleyic Acrisols (ACg).
- Đất xám feralít (XO). Fenalic Acrisols (ACf).
- Đất xám mùn trên núi (Xh). Humic Acrisols (ACu).
Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh)
Đất xám bạc màu chủ yếu phát triển trên phù sa cổ, đá macma axit và đá cát, phân bố tập trung ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du Bắc Bộ.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ; dung trọng 1,30 = 1,50 g/cm3; tỉ trọng 2,65 - 2,70 g/cm3; độ Xốp 43 - 45%; sức chứa ầm đồng ruộng 27,0 - 3 I,O %; độ ẩm cây héo 5 - 7%; nước hữu hiệu 22 - 24%; độ thấm nước lớp đất mặt 68mm/giờ; lớp đất sâu 25 mm/giờ.
Phản ứng của đất chua vừa đến rất chua (PHKCL phổ biến từ 3,0 - 4,5); nghèo chuồn kiềm trao đổi (Ca2+ Mg2+ < 2 me/100g đất); độ no bazơ và dung tích hấp thu thấp; hàm lượng mùn tầng đất mặt từ nghèo đến rất nghèo (0,50- l,50%); mức phân giải chất hữu cơ mạnh (C/N < 10) ; các chất tổng số và dễ tiêu đều nghèo . . .
Đất xám bạc màu có nhược điểm là chua, nghèo dinh dưỡng, thường bị khô hạn và xói mòn mạnh. Tuy nhiên do ở địa hình bằng, thoải, thoáng khí, thoát nước, đất nhẹ dễ canh tác nên loại đất này thích hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của nhiều
cây trồng cạn như khoai lang, sắn, đậu đỗ, rau quả, lúa cạn, cây ăn quả, cao su, điều....
Đất xám giây (Xô) - Gleyic Acrisols (A CG) Diện tích: 101.471 ha.
Phân bố tập trung ở Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ở địa hình bậc thang, bằng, thấp, ít thoát nước. Đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình.
Phẫu diện đất có tầng đế cày và tầng giây rõ. Phản ứng của đất rất chua; nghèo mùn;
độ no bazơ và dung tích hấp thu thấp; nghèo các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu.
Đất xám giây ở các vùng khác nhau có khác nhau về tính chất. Chẳng hạn đất miền Bắc (Sóc Sơn - Hà Nội) thì chua (pHKCL : 3,4 - 4,4), nghèo chất hữu cơ, nghèo NPK, còn đất ở Đắc Lắc thì tuy cũng chua, nhưng lại rất giàu chất hữu cơ và N, đất ở sông Bé thì rất giàu mùn; tầng mặt hơn 11 %, đến độ sâu 40 cm vẫn còn tới 6,5% chất hữu cơ.
Đất xám giây ở các vùng khác nhau về tính chất, nhưng đều ở địa hình thấp, hứng nước từ các khu vực lân cận và thường được trồng lúa nước. Cần lưu ý bố trí mùa vụ để tránh ngập úng trong mùa mưa. Một số nơi vượt đất để trồng cây ăn quả thu hiệu quả cao như ở Lái Thiêu, Sông Bé.
Đất xámferalít (Xí) - Ferralic Acrisols (ACF) Diện tích 14.789.505 ha.
Đất xám Feralít chia ra 5 đơn vị phụ:
Đất feralít trên phiến thạch sét (Xfs) Đất feralít trên đá macma axit (Xfa) Đất feralít trên đá cát (Xfq) Đất feralít trên phù sa cổ (Xfp) Đất feralít biến đổi do trồng lúa (Xfl)
6.876.430 ha 4.646.474 ha 2.651.337 ha 455.402 ha 159.882 ha
Nói chung đất xám Feralít chiếm gần 50% tổng diện tích cả nước có sự phân hoá về tính chất theo mẫu chất và đá mẹ nhưng đều có các đặc điểm chung:
+ Dung trọng đất thấp (0,96 - 1,26 g/cm3). Tỉ trọng cao (2,73 - 2,80 g/cm3); xốp (55 – 64%); Ôn ẩm cây héo 19 - 23%; nước hữu hiệu 12 - 17%; thành phần cơ giới trung bình đến nặng.
+ Đất chua.
+ Tầng mặt thường bị xói mòn rửa trôi nên hàm lượng cấp hạt sét tầng mặt ít hơn các tầng sâu và hình thành tầng Feralít là đặc trưng cho cả nhóm.
+ Độ no bazơ thường nhỏ hơn 50%.
+ DTHT bé hơn 24 me/110g sét.
+ Đất hình thành trên đá mẹ thô thì có TPCG nhẹ và nghèo chất dinh dưỡng. Đất phát triển trên đá mẹ biến chất phong hoá sâu hơn. Phần lớn ở địa hình dốc từ 8 - 150.
Đất xám feralít thoái hóa có tính chất vật lý nước và hóa học kém hơn.
Đây là loại đất tốt ở trung du miền núi với đặc điểm phát sinh và sử dụng khác nhau, thích hợp cho việc sử dụng đa dạng vào mục đích nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái. Phần lớn đất Feralít đã được khai thác trồng hoa màu, lương thực nên hầu như không còn rừng, thực vật chỉ là cây lùm bụi, hoặc gỗ rải rác. Hầu hết đất trồng chè và các cây lâu năm khác đều thuộc diện Feralít. Nếu đưa tiến bộ KHKT vào đúng mức và tăng cường các biện pháp liên hoan thì nhóm đất có diện tích rộng lớn này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho đất nước.
Đất xám mùn trên núi : - Humic Acrisols (A Cu)
Diện tích: 3.139.285 ha. Phân bố lớp trung ở độ cao 700 - 1800 m so với mặt biển ở địa hình chia cắt, dốc nhiều, tầng đất thường không dày. Loại đất trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm vùng núi trung bình với nền nhiệt độ thấp và độ ẩm cao hơn so với vùng đồi, núi thấp hơn 700 m.
Đặc điểm cơ bản của đất xám mùn trên núi là có hàm lượng chất hữu cơ cao, quá trình feralít yếu hẳn hiếm thấy hiện tượng kết von, đá ong.
- Đất xám mùn trên núi có thể chia ra 3 đơn vị đất phụ:
- Đất xám mùn trên núi trên đá sét và biến chất.
- Đất xám mùn trên núi trên đá macma axit và đá cát.
- Đất xám mùn trên núi trên đá macma bazơ và trung tính.
Trong 3 đơn vị đất phụ trên đây, đất xám .mùn trên núi trên sản phẩm phong hóa của đá macma bazơ và trung tính, đá sét và biến chất có độ phì và khả năng sản xuất cao hơn cả.
Hiện nay đã có nhiều mô hình sử dụng đất bền vững theo phương thức nông lâm hoặc lâm nông kết hợp trên đất xám mùn trên núi. Ngoài việc phát triển cây rừng với nhiều loại đặc sản như pơ mu, quế... còn làm tăng diện tích cây ăn quả, cây công nghiệp các loại
7.4.2.2. Đất đỏ - Ferralsols (F) Diện tích: 3.071.594 ha.
Nhóm đất đỏ chiếm gần 10% diện tích tự nhiên cả nước, tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ở độ cao 50 đến 900 - 1000 m. Đất chủ yếu phát triển trên đá
macma bazơ, trung tính và đá vôi.
Theo khái niệm của FAO-UNESCO đất Fenalsols là đất có tầng B feralít với các đặc trưng sau:
- Có thành phần cơ giới là thịt pha cát hay mịn hơn.
- Tầng trên dày ít nhất 30 cm.
- Có dung tích hấp thu (TCEC) bằng hoặc nhỏ hơn 16me/ 100g sét.
- Có dưới 10% khoáng có thể phong hóa trong cấp hạt 50 - 200 mà - Có dưới 10% sét phân tán trong nước.
- Có tỷ lệ limon/sét bằng hoặc nhỏ hơn 0.2 - Không có đặc tính tro núi lửa
- Có dưới 5% đá chưa phong hóa.
Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 nhóm đất này chia ra các đơn vị:
Đất nâu đỏ (Fd) - Rhodic Ferralsols (FRR)
Diện tích 2.425.288 ha. Phân bố tập trung ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La...
Loại đất này có tầng phong hóa dày, mẫu đỏ thẫm, cấu trúc tốt độ xốp cao, dung trọng thấp. Tỷ lệ khoáng đang phong hóa và chưa phong hóa thấp, Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét cao. Độ ẩm cây héo khá cao (27 - 30%); sức chứa ẩm đồng ruộng cao (50 - 60%); nước hữu hiệu cao (28 - 32%); phản ứng của đất chua; độ no bazơ thấp, dung tích hấp thu thấp (- 16 me/ 100g sét) .
Đất nâu đỏ là loại đất quý ở Việt Nam, thích hợp để phát triển nhiều cây lâu năm có giá trịnh cà phê, cao su, ca cao, chè, hồ tiêu, cây ăn quả... Cần bảo vệ các đặc điểm tốt của đất như tầng dầy, tơi xốp, giàu mùn... Khắc phục một số hạn chếnh chua, nghèo lân và khu dễ tiêu, khô tầng mặt. Chú ý giữ ẩm cho đất và chống xói mòn.
Đất nâu vàng (Fx) - Xanthic Ferralsols (FRX)
Diện tích: 421 .059 ha. Phân bố tập trung ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đông Bắc, Tây Bắc, Khu Bốn cũ. Đất chủ yếu phát triển. trên sản phẩm phong hóa của đá macma bazơ và trung tính, đá vôi.
Loại đất này có màu phổ biến là nâu vàng, thành phần cơ giới nặng, tầng đất trung bình và đày, thoát nước tốt, hình thái phẫu diện tương đối đồng nhất, cấu trúc khá tốt và bền. Tuy nhiên một số nơi đất đã bị rửa trôi xói mòn, thoái hoá do không được sử dụng hợp lý, trong phẫu diện đất xuất hiện lớp đá ong hoặc loang lổ đỏ vàng, đất trở nên khô, rắn, nghèo dinh dưỡng. Nhìn chung loại đất này có phản ứng chua, độ no bazơ và dung tích hấp thu thấp. Đặc ung tầng tích tụ đáp ứng yêu cầu của tầng B feralít.
Đất nâu vàng thích hợp với nhiều cây trồng cạn, cây ăn quả và cây công nghiệp.
Tuy nhiên cần quan tâm. chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ ẩm, giữ màu, bón cân đối các loại phân khoáng kết hợp với phân hữu cơ phù hợp với môi trường sinh thái và
yêu cầu của cây.
Đất mùn vàng đỏ trên núi (Fh) - Humic Ferralsols (FRU)
Loại đất này nằm ở vùng núi trung bình từ độ cao 700 - 900 m đến 2000 m so với mặt biển. Khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng đồi núi thấp, nhiệt độ bình quân năm vào khoảng 15 – 200C. Thảm thực vật nhìn chung còn tốt hơn vùng đồi. Do ở địa hình cao, dốc hiểm trở nên đất thường bị xói mòn mạnh, mặt khác do quá trình phong hóa yếu nên đa số đất có phẫu diện không dày.
Đây là loại đất feralít phát triển trên đá macma bazơ, trung tính và đá vôi có tầng A xám đen tơi xốp, giàu mùn (>5%) không có kết von, đá ong. Đất có phản ứng chua vừa đến ít chua; hàm lượng mùn cao; lân tổng số và dễ tiêu từ nghèo đến trung bình.
Kim tổng số từ nghèo đến trung bình, dung tích hấp thu thấp (<16 me/100g sét); nghèo các chuồn kiềm và độ no bazơ thấp.
Đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp cho việc sử dụng theo phphương thức lâm nông kết hợp. Để sử dụng có hiệu quả và bền vững loại đất này cần đặc biệt quan tâm bảo vệ đất chống xói mòn.
7.4.2.3. Đất mùn am núi cao - Ký hiệu là Alisols (Al) Diện tích 280.714 ha.
Đất mùn am trên núi cao thường nằm trên các đỉnh núi cao như Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, Ngọc áng, Chư Bang Sin với độ cao tuyệt đối trên 2000m. Nhiệt độ bình quân năm dưới 1 sức, một số ngọn núi phía Bắc mùa đông nước bị đóng băng. Thực vật thường là đỗ quyên, trúc, một số cây lá kim ôn đới. Đá phong hóa yểu tầng đất mỏng lẫn nhiều mảnh đá vụn nguyên sinh. Trên cùng là tầng thảm mục hoặc lớp mùn thô than bùn trên núi. ở đây quá thành hình thành mùn là quá trình chủ đạo trên loại đất này.
Đất mùn am núi có tầng đất mỏng; phản ứng chua (pHKCL = 3,9 - 4,l). Độ no bazơ thấp (28 - 43%); giàu mùn và đạm tổng số hưởng ứng 4,8 - 15,5% và 0,16.- 0,32%). Thành phần chất hữu cơ của đất phần lớn là axit fulvic và hàm lượng tương đối của axit này càng xuống sâu càng tăng.
Kết quả phân tích thành phần tổng số cho thấy:
Phần mất khi nung tương ứng với lượng mùn cao.
Lượng ôxyt sắt trong đất thấp, trái lại lượng ôxyt nhôm cao. Tỷ lệ SiO2/Al2O3
tang dần từ 3,4 -4,86 theo chiều sâu phẫu diện đất, chứng tỏ đất chứa nhiều oxit nhôm tự do và oxit silic bị rửa trôi.
Nhóm đất này có sự thay đổi về chế độ nhiệt, chế độ không khí, chế độ nước, chế độ dinh dưỡng và hàng loạt đặc tính sinh học khác so với các nhóm đất ty nhiên khác.
Tuy nhiên ở các tầng đất sâu hơn 50 cm thường chưa hoặc ít bị xáo trộn nên còn giữ
được đặc trưng của mẫu chất ban đầu.
CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm về phân loại đất?
2. Trình bày cơ sở khoa học và nội dung phân loại đất của Liên Xô (cũ)?
3. Trình bày cơ sở khoa học và nội dung phân loại đất của Mỹ?
4. Trình bày cơ sở khoa học và nội đung phân loại đất của FAO - UNESCO?
5. Trình bày phân loại đất ở Việt Nam?
6. Nêu đặc điểm hình thành và phân bố đất đồng bằng Việt Nam?
7. Trình bày đặc điểm hình thành, phân bố, tính chất và biện pháp sử dụng cải tạo đất phù sa?
8. Trình bày đặc điểm hình thành, phân bố, tính chất và biện pháp sử dụng cải tạo đất phèn?
9. Trình bày đặc điểm hình thành, phân bố, tính chất và biện pháp sử dụng cải tạo đất xám bạc màu có tầng loang lổ?
10. Trình bày đặc điểm hình thành, phân bố, tính chất và biện pháp sử dụng cải tạo đất lầy?
11. Trình bày khái niệm. phân bố và phẫu diện đất lúa thước?
12. Trình bày tính chất đất lúa nước?
13. Trình bày tính chất đất lúa nước có năng suất cao và ổn định?
14. Trình bày đặc điểm hình thành đất đồi núi Việt Nam?
15. Trình bày các đơn vị đất trong nhóm đất xám?
16. Trình bày các đơn vị đất trong nhóm đất đỏ?
17. Trình bày đất mùn am?