Tình hình đói nghèo và chủ trương của Đảng

Một phần của tài liệu đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007 (Trang 21 - 28)

Chương 1. QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG)

1.1. Quan niệm về đói nghèo và chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

1.1.2. Tình hình đói nghèo và chủ trương của Đảng

Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đất nước ta không ngừng lớn mạnh và đi lên. Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nền kinh tế luôn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân mỗi năm trên 7%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực; các vấn đề xã hội được giải quyết, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Từ khi có chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt là thực hiện Chỉ thị số 23 - CT/TW ngày 29-11-1997 của Bộ Chính trị về Lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo, công tác xoá đói, giảm nghèo đã được triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh, huyện, nhất là những vùng, xã nghèo; đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ và đạt kết quả khá. Nhà nước đã đầu tư thông qua các chương trình quốc gia có liên quan đến chương trình xoá đói, giảm nghèo khoảng 21 nghìn tỉ đồng, đã tăng cường đầu tư cho những địa bàn gặp khó khăn. Trong đó dành riêng cho phần xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc Chương trình xoá đói, giảm nghèo khoảng 2000 tỉ đồng.

Trong cả nước, các cấp, ngành, cơ quan đoàn thể đã triển khai nhiều công việc cụ thể giúp đỡ các hộ nghèo bớt khó khăn, từng bước vươn lên trong cuộc sống. Tỉ lệ đói nghèo trên tổng số hộ giảm xuống nhanh chóng.

Thành quả to lớn trên cho thấy chúng ta đạt được mục tiêu đề ra và được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước giảm tỉ lệ đói nghèo nhanh nhất. Chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng đã đi đúng hướng với những mô hình xoá đói, giảm nghèo phù hợp, nhiều dự án được triển khai thực hiện ở các địa phương làm cho đời sống của người dân được nâng cao, mức tiêu dùng bình quân đầu người đạt 4,3 triệu đồng năm 2000. Thực hiện thành công mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến nay, tỉ lệ hộ nghèo trong toàn quốc giảm từ 17,2% xuống còn 8% vào cuối năm 2004 (còn 1,42 triệu hộ nghèo), giảm được 1,3 triệu hộ so với năm 2001, bình quân mỗi năm giảm 32 vạn hộ.

Bên cạnh những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đạt được như trên nhưng tình hình đói nghèo vẫn đang là vấn đề nóng bỏng đặt ra cần phải tìm cách giải quyết ở nhiều địa phương trong cả nước. Việt Nam là một nước nông nghiệp, trình độ dân cư còn thấp, thụ động dễ bị tổn thương trước biến động của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều hộ tuy có mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh giới với ngưỡng nghèo và có nguy cơ tái nghèo. Đến năm 2001, cả nước có tổng số 2.800 nghìn hộ nghèo chiếm 17,2% dân số, điều đó phản ánh mức độ đói nghèo của nước ta vẫn còn cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp mới đạt 501,5 nghìn đồng/

người dân. Chênh lệch giàu nghèo giữa các hộ, khu dân cư, vùng đang dần trở thành một vấn đề nan giải. Tại Đại hội lần IX (2001) Đảng ta đã đánh giá: “Tỉ lệ đói nghèo trong toàn quốc mấy năm gần đây tuy có giảm mạnh, nhưng chưa vững chắc, nếu rơi vào thiên tai, mất mùa thì nhiều hộ vẫn có thể rơi vào tình trạng đói nghèo trở lại. Đời sống của nhân dân ở một số vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn rất khó khăn” [20, tr.256].

Đứng trước những vấn đề mà quá trình thực hiện chiến lược xoá đói, giảm nghèo đặt ra, Đảng ta tiếp tục đưa ra những chủ trương mới phù hợp với

tình hình trong nước và quốc tế để nhanh chóng đẩy lùi đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điều kiện quan trọng để chúng chống lại nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.

1.1.2.2. Chủ trương của Đảng về xoá đói, giảm nghèo

Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chủ trương đã thu hút được sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức quốc tế và đông đảo quần chúng nhân dân. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về xoá đói, giảm nghèo được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Đây là tiêu chí quan trọng góp phần phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Để phát huy các thành quả to lớn đã đạt được, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề đưa các chủ trương, biện pháp phù hợp với tình hình mới nhằm đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo.

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII: “Công tác xoá đói, giảm nghèo đã được triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh, nhất là ở các vùng nghèo, xã nghèo; đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ và đạt được kết quả khá” [20, tr.244]. Trên cơ sở những thành tựu đạt được qua 5 năm (1996-2001), trong Mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, Đảng ta đã đề ra: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững;

ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại. Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia” [20, tr.90].

Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đề ra chỉ tiêu đến 2005: "Cơ bản xoá hộ đói, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 10%” [20, tr.29]. Định hướng của Đảng là: "Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói, giảm nghèo.

Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn để phát triển. Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập.

Phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn 10% số hộ thuộc diện nghèo. Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, các huyện đồng bằng miền Trung và các tỉnh Nam Bộ về cơ bản không còn hộ nghèo. Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo" [20, tr.299].

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001- 2010 của Đảng, coi lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo là một chiến lược dài hơi của Đảng, nhằm định hướng cho sự phát triển lâu dài, bền vững cho đất nước. Đảng ta đã khẳng định: "Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm… đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo. Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo. Thực hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng. Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản

không còn hộ nghèo. Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo”

[20, tr.211-212].

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, đất nước ta đã đạt được một số thành tựu trong công tác xoá đói, giảm nghèo. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (4-2006) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Đảng ta đã khẳng định:

“Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu được nhiều kết quả tốt thông qua việc trợ giúp điều kiện sản xuất, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nhà ở; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống; động viên các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp dân cư tham gia.

Đến cuối năm 2005, tỷ lệ nghèo còn 7% (kế hoạch 10%, theo chuẩn Việt Nam giai đoạn 2001- 2005)” [21, tr.157]. Đồng thời, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo được nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế” [21, tr.186].

Phương hướng về xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn tiếp theo, Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh: “Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức thực hiện xoá đói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế. Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức

sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự trợ giúp trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn. Ngăn chặn tình trạng tái nghèo. Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Có chính sách khuyến khích mạnh các doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi. Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia công cuộc xoá đói, giảm nghèo” [21, tr.217].

Chỉ tiêu đặt ra về tỉ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) giảm xuống còn 10 - 11% vào năm 2010.

Những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn này là cơ sở, nền tảng để Nhà nước, các cấp, ban, ngành triển khai thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo một cách sâu rộng, có hiệu quả cao.

Tháng 9-2000, tại Hội nghị thượng đỉnh của các Nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tham dự và phát biểu cam kết thực hiện

“Mục tiêu thiên niên kỷ” do Liên hợp quốc khởi xướng, trong đó có mục tiêu giảm một nửa số người nghèo vào năm 2015. Với việc ký tuyên bố “Mục tiêu thiên niên kỷ”, một lần nữa Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trong việc cải thiện hơn nữa phúc lợi của nhân dân trong đó đặc biệt chú ý đến người nghèo.

Tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã thông qua “Chiến lược toàn diện tăng tưởng và giảm nghèo”, trong đó xoá đói, giảm nghèo, an sinh xã hội được xác định là một phần quan trọng của Chiến lược.

Ngày 4-10-2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, thời gian hoạt động là 99 năm kể từ ngày 01- 01-2003. Ngân hàng Chính sách xã hội có nhiệm vụ thực hiện chính sách tín

dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo. Đây là một bước cải cách quan trọng nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại và nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước.

Ngày 23-9-2004, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 33/2004/CT-TTg về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, trong đó ghi rõ: “Đảm bảo xoá đói, giảm nghèo giảm nhanh số hộ nghèo theo Chuẩn quốc tế nhất là những vùng đặc biệt khó khăn, phát triển mạng lưới an sinh xã hội để trợ giúp người nghèo, xây dựng kết cấu xã hội bền vững”.

Từ tháng 5-2005, trên cơ sở Quyết định số 170/TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương tổ chức khảo sát xác định hộ nghèo theo tiêu chí mới, làm cơ sở để xây dựng chương trình và các chính sách dự án giảm nghèo.

Ngày 5-7-2005, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 2128/LĐTBXH- KHTC về chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006 - 2010.

Ngày 28-2-2007, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 04/2007/TT- LĐTBXH về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm, đây là cơ sở xây dựng quản lý hộ nghèo trên toàn địa bàn.

Thông qua việc nghiên cứu các văn kiện, quyết định, chỉ thị trên có thể thấy, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác xoá đói, giảm nghèo tập trung ở một số nội dung cụ thể nhằm chỉ đạo thực tiễn, đó là:

Một là, xoá đói, giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, tạo nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo.

Hai là, xoá đói, giảm nghèo là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước cùng toàn thể nhân dân, mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phải tự ý thức vươn lên.

Ba là, phải triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo bằng các nguồn lực trong và ngoài nước.

Bốn là, việc hỗ trợ và cho vay phải gắn với đào tạo, hướng dẫn và phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, từng vùng.

Năm là, phải luôn quan tâm đến vấn đề tái nghèo trong nhân dân.

Như vậy, căn cứ vào thực trạng đói nghèo của cả nước trong giai đoạn này, Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều quan điểm mới phù hợp với điều kiện cụ thể. Dựa trên những quan điểm chỉ đạo này, Đảng bộ tỉnh Hải Dương, đặc biệt là Đảng bộ huyện Kim Thành quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn 2001 - 2007, nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi diện mạo của tỉnh nói chung, của huyện Kim Thành nói riêng.

Một phần của tài liệu đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007 (Trang 21 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(109 trang)