1.3. Nguyên lý cơ bản về hoá chất trị liệu trong ung thư
1.3.2. Phân nhóm hóa chất điều trị ung thư
1.3.2.1. Nhóm alkyl hoá ( tác dụng lên pha M, G1, G2, G0)
Tác dụng làm thay đổi cấu trúc AND. Những tác nhân này không đặc hiệu cho pha nào cả (chúng có tác dụng tất cả các pha của chu kỳ tế bào).
Bảng 1.5. Thuốc ung thư nhóm alkyl hóa
Stt Nhóm Nitrogen mustard Stt Nhóm Nitrosoureas 1 Mechlorethamin 1 Dacarbazin
2 Chlorambucin 2 Temozolomide
3 Melphalan 3 Thiotepa (TEPA)
4 Cyclophosphamide 4 Busulfan
4 Isfosfamide 5 BCNU (carmustin)
6 CCNU (Lomustin) 7 Busulfan
27
Những tác nhân Alkyl hóa được sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư khác nhau, bao gồm bệnh bạch cầu cấp và mạn tính, lymphoma, bệnh Hodgkin, đa u tủy, sarcoma, cũng như những ung thư của phổi, vú, và buồng trứng.
Do những thuốc này làm tổn thương DNA nên chúng có thể gây ra những tổn thương dài hạn cho tủy xương. Trong một số ít trường hợp, chúng có thể gây ra bệnh bạch cầu cấp. Nguy cơ bị bệnh bạch cầu do các tác nhân alkyl hóa phụ thuộc vào liều, có nghĩa là nguy cơ nhỏ khi bệnh nhân được cho liều nhỏ nhưng nguy cơ sẽ gia tăng khi tổng liều dùng cao lên.
1.3.2.2. Nhóm chống chuyển hoá: tấn công tế bào ở pha S ( sao chép tế bào) Là nhóm thuốc cản trở quá trình sao chép của ADN và ARN bằng cách thay thế những nhóm ADN và ARN bình thường. Những chất này tấn công tế bào ở pha S. Chúng thường được dùng để điều trị bệnh bạch cầu, ung thư vú, buồng trứng và ống tiêu hóa cũng như một số ung thư khác.
Bảng 1.6. Thuốc ung thư nhóm chống chuyển hóa
Stt Tên Thuốc Stt Tên Thuốc
1 Methotrexat 5 Fludarabine
2 6MP ( Mercaptopurin) 6 Gemcitabin 3 5FU ( Fluorouracil) 7 Cytarabin
4 Capecitabine 8 Pemetrexed
1.3.2.3. Nhóm Alcaloid và Taxan
Đây là các chất có thể làm ngừng sự phân bào hoặc ngăn các enzyme tạo ra protein cần thiết cho sự phân bào. Thuốc gây kết dính các vi quản, ngăn cản sự hình thành thoi nhiễm sắc, làm ngừng phát triển tế bào ở giai đoạn
28
phân chia. Những hoạt động này diễn ra trong pha M nhưng có thể làm tổn hại đến tế bào ở tất cả các pha.
Thuốc được dùng để điều trị nhiều loại ung thư bao gồm ung thư vú, phổi, tủy xương, lymphoma và bạch cầu. Những loại thuốc này được biết là có khả năng gây tổn thương các dây thần kinh ngoại biên nên có thể phải giới hạn liều để hạn chế tác dụng phụ.
Bảng 1.7. Thuốc ung thư nhóm Alcaloid và Taxan
Stt Tên Thuốc Stt Tên Thuốc
1 Alcaloid 5 Taxan
2 Vincristin 6 Estramustin
3 Vinblastin 7 Docetaxel
4 Vinorelbin 8 Paclitaxel
1.3.2.4.Nhóm kháng sinh chống u
Thuốc tác động vào ARN, ADN làm ngừng quá trình tổng hợp acid amin Nhóm kháng sinh chống U được chia thành:
- Dẫn chất peptid: Bleomycin.
- Dẫn chất anthracyclin: Doxorubicin, Daunorubicin.
- Dẫn chất actinomycin: Dactinomycin.
- Dẫn chất mitozan: Mitomycin.
Anthracycline là một loại kháng sinh kháng u tác động lên những enzyme tham gia vào quá trình sao chép ADN. Những chất này có tác dụng trên tất cả các pha của chu kỳ tế bào. Do đó, chúng được dùng rộng rãi cho nhiều loại ung thư khác nhau. Mối lo ngại chính khi sử dụng loại thuốc này là chúng có thể gây những tổn thương vĩnh viễn cho tim nếu cho với liều cao, do đó giới hạn sử dụng suốt đời.
29
Bảng 1.8. Thuốc ung thư nhóm kháng sinh chống u Stt Nhóm Anthracycline Stt Nhóm khác
1 Epirubicin 1 Adriamycin
2 Idarubicin. 2 Mitomycin C
3 Doxorubicin 3 Mitoxantrone
4 Daunorubicin 4 Dactinomycin
5 Doxorubicin 5 Actinomycin D
6 Bleomycin sulfat
Mitoxantrone là một loại kháng sinh kháng u tương tự như doxorubicin ở nhiều điểm, trong đó có tác dụng phụ gây tổn thương tim. Loại thuốc này cũng hoạt động tương tự như thuốc ức chế topoisomerase II và có thể dẫn đến bệnh bạch cầu. Mitoxantrone được dùng để điều trị ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, lymphoma và bệnh bạch cầu.
1.3.2.5. Nhóm chất có tác dụng đối kháng với hormone (hormone liệu pháp) Các thuốc này là những hormon sinh dục hoặc giống hormone, có tác dụng làm thay đổi hoạt động hoặc sự sản xuất những hormon nam và nữ.
Bình thường các loại ung thư ở vú, tiền liệt tuyến, nội mạc tử cung phát triển do đáp ứng lại những hormon tự nhiên của cơ thể. Khi sử dụng các thuốc kháng hormone thì các loại ung thư kể trên phát triển chậm lại.
Cơ chế tác dụng: Ngăn các tế bào ung thư sử dụng những loại hormon cần thiết để phát triển hoặc ngăn cơ thể tạo ra những hormon đó.
Kháng estrogens: fulvestrant (Faslodex®), tamoxifen, và toremifene Ức chế men aromatase: Anastrozole (Arimidex®), Exemestane (Aromasin®), Letrozole (Femara®).
30
Progestins: megestrol acetate (Megace®), Estrogens
Kháng androgens: Bicalutamide (Casodex®), Flutamide (Eulexin®), và Nilutamide (Nilandro®n)
Đồng vận LHRH (Luteinizing-hormone-releasing hormone): leuprolide (Lupron®), Goserelin (Zoladex®).
1.3.2.6. Hợp chất platin: Cisplatin, Carboplatin, Oxaliplatin.
Đôi khi được xếp vào nhóm các tác nhân alkyl hóa do chúng tiêu diệt các tế bào theo cách tương tự. Những thuốc này ít có nguy cơ gây bệnh bạch cầu hơn các tác nhân alkyl hóa.
1.3.2.7. Ức chế men topoisomerase
Là những loại thuốc tác động lên những enzyme có tên là topoisomerase có chức năng tách những chuỗi ADN ra để chúng có thể được sao chép. Thuốc được dùng để điều trị một số bệnh bạch cầu, cũng như ung thư phổi, buồng trứng, hệ tiêu hóa và những loại ung thư khác.
Ức chế men topoisomerase I: topotecan và irinotecan (CPT-11).
Ức chế men topoisomerase II: etoposide (VP-16) và teniposide.
Mitoxantrone cũng ức chế topoisomerase II. Điều trị bằng thuốc ức chế topoisomerase II làm gia tăng nguy cơ bị ung thư thứ phát – bệnh bạch cầu tủy cấp tính. Bệnh bạch cầu thứ phát có thể xuất hiện sớm vào khoảng 2 – 3 năm sau khi dùng thuốc.
1.3.2.8. Miễn dịch liệu pháp:
Một số loại thuốc có tác dụng kích thích hệ miễn dịch và giúp tấn công những tế bào ung thư một cách hiệu quả hơn. Loại thuốc này cung cấp một phương pháp chữa trị rất khác biệt và thường không được xếp chung nhóm với các loại thuốc hóa trị khác. So với những cách điều trị ung thư khác như
31
phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị thì miễn dịch liệu pháp vẫn còn tương đối mới.
Có một vài loại miễn dịch liệu pháp khác nhau.
Miễn dịch liệu pháp chủ động: kích thích hệ miễn dịch của cơ thể chống lại căn bệnh.
Các loại miễn dịch liệu pháp bao gồm:
Liệu pháp kháng thể đơn dòng (miễn dịch thụ động): chẳng hạn như Rituximab (Mabthera) hoặc (Rituxan®), alemtuzumab (Campath®), Trastuzumab, (Herceptin), Bevacizumab (Avastin), Cetuximab (Erbitux).
Miễn dịch liệu pháp và hỗ trợ không đặc hiệu (những chất khác hoặc các tế bào thúc đẩy đáp ứng miễn dịch) chẳng hạn như BCG, interleukin-2 (IL-2), interferon-alpha
Những thuốc điều chỉnh miễn dịch chẳng hạn như thalidomide và lenalidomide (Revlimid®)
Miễn dịch liệu pháp thụ động: không dựa vào cơ thể để tấn công căn bệnh mà sử dụng những thành phần của hệ miễn dịch (chẳng hạn như kháng thể) được tạo ra ở bên ngoài cơ thể.
Những vaccine ung thư (miễn dịch liệu pháp chủ động đặc hiệu): đầu năm 2008 thì vẫn chưa có loại vaccine nào được FDA thông qua để điều trị ung thư.
1.3.2.9. Trị liệu mục tiêu:
Khi các nhà khoa học hiểu kỹ hơn về những hoạt động bên trong của các tế bào ung thư, họ bắt đầu tạo ra những loại thuốc mới tấn công các tế bào ung thư một cách chuyên biệt hơn những thuốc hóa trị truyền thống. Hầu hết chúng chỉ tấn công các tế bào có gen đột biến hoặc những tế bào có quá nhiều bản sao của một gen nào đó. Những loại thuốc này có thể được sử dụng làm một trong những loại thuốc điều trị chính cho bệnh nhân hoặc sử dụng
32
sau đợt điều trị chính để kéo dài sự thuyên giảm của bệnh nhân hoặc giảm tái phát.
Hiện nay, chỉ có một số ít thuốc thuộc loại này đang được sử dụng chẳng hạn như imatinib (Gleevec®), gefitinib (Iressa®), erlotinib (Tarceva®), sorafenib (Nexavar) và bortezomib (Velcade®). Trị liệu mục tiêu là một mảng nghiên cứu lớn và rất có khả năng sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
1.3.2.10. Corticoid
Corticoid là những hormon tự nhiên và những thuốc giống hormon được dùng để điều trị một số loại ung thư (lymphoma, bệnh bạch cầu, và đa u tủy) cũng như một số loại bệnh khác. Do corticoid có thể dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc làm chậm tiến trình phát triển của chúng nên nó được xếp vào các loại thuốc hóa trị. Corticoid cũng thường được dùng làm thuốc chống nôn để giúp giảm triệu chứng buồn nôn do hóa trị. Chúng cũng được dùng trước khi hóa trị để giúp phòng ngừa phản ứng dị ứng nặng. Khi corticoid được dùng để chống buồn nôn hoặc ngừa dị ứng, nó không được xem là thuốc hóa trị.
Một số loại corticoid bao gồm prednisone, methylprednisolone (Solumedrol), và dexamethasone (Decadron).
1.3.2.11. Các loại thuốc khác
Một số loại thuốc khác và những các trị liệu sinh học được dùng để điều trị ung thư nhưng thường không được xem là thuốc hóa trị. Trong khi các loại thuốc hóa trị lợi dụng tính chất của các tế bào ung thư là chúng phân chia rất nhanh, những loại thuốc khác nhắm đến một tính chất khác là cô lập các tế bào ung thư khỏi các tế bào bình thường. Chúng thường cho tác dụng phụ ít nặng nề hơn những loại thuốc hóa trị do mục tiêu tấn công của chúng
33
chủ yếu trên các tế bào ung thư chứ không phải các tế bào khỏe mạnh bình thường. Nhiều loại thuốc được sử dụng song song với các thuốc hóa trị.
Các nhóm thuốc khác
Từ vi khuẩn hoặc bán tổng hợp. Thuốc ức chế quá trình tổng hợp AND, ARN và protein (L- asparaginase, Hydroxyurea…)
Những tác nhân biệt hóa có tác dụng trên những tế bào ung thư để làm chúng trưởng thành thành những tế bào bình thường. Một số loại thuốc thuộc nhóm này bao gồm retinoids, tretinoin (ATRA hoặc Atralin®)) và bexarotene (Targretin®), arsenic trioxide.