Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Một phần của tài liệu Phân tích sử dụng thuốc tại bệnh viện ung thư đà nẵng năm 2013 (Trang 86 - 91)

4.2. Chi phí thuốc điều trị ung thư tại bệnh viện ung thư Đà Nẵng năm 2013

4.2.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Tỷ lệ mắc ung thư ở nam giới cao hơn ở nữ giới (54% so với 46%).

Điều này hoàn toàn phù hợp với dich tễ học của bệnh ung thư. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) tỉ lệ mới mắc đặc trưng theo nhóm tuổi của hầu hết các vị trí ung thư ở nam thường cao hơn ở nữ ( tỉ lệ 5/4). Nguyên nhân là do các gen của nữ giới đều là gen kép còn của nam giới thì có tới hơn 1 ngàn gen là gen đơn. Vì vậy gen của nam giới dễ bị đột biến dẫn đến dễ mắc bệnh nhất là ung thư [13].

Chỉ có một số ít khác biệt này có thể được giải thích do liên quan đến quá trình tiếp xúc khác nhau với các yếu tố sinh ung thư, nên người ta có thể kết luận rằng sự khác nhau đó thể hiện sự khác biệt về sự nhạy cảm của từng cá thể.

Tuổi là yếu tố quan trọng nhất xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư. Đối với hầu hết các ung thư biểu mô thì tỉ lệ mới mắc tăng rõ rệt theo năm tháng.

Dùng đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa tuổi và tỉ lệ mới mắc dùng thang logarit, ta được một đường gần như đường thẳng. Mối quan hệ giữa tuổi và tỉ lệ mới mắc được đoán nhận như là tuổi biểu thị hiệu quả lũy qua quá trình tiếp xúc với các tác nhân sinh ung thư. Tuy nhiên không phải tất cả các ung thư đều phù hợp với mô hình này [1].

Dễ dàng nhận thấy tỷ lệ người trong độ tuổi mắc bệnh ung thư chỉ chiếm 1/10 so với người từ 80-90 tuổi. Có thể nói rằng tuổi càng cao thì dễ bị đột biến và dễ dẫn đến ung thư. Có thể giải thích điều này như sau, khi đã quá cao tuổi thì sức tàn lực kiệt các tổ chức tế bào trong cơ thể giảm sức sống, đến như ung thư cũng mất đi khả năng phát triển của mình.

76

Theo WHO, Các ung thư hàng đầu ở cả hai giới bắt đầu tăng nhanh từ tuổi 40 trở lên. Theo kết quả bảng 1.16, ta ghi nhận độ tuổi mắc bệnh ung thư tập trung từ 45-64 tuổi chiếm đến 52%. Điều này phù hợp với dịch tễ học về độ tuổi của bệnh ung thư [10][13][17]

Về cơ cấu bệnh ung thư [17] [20] [18]

Theo kết quả bảng 1.15, ta ghi nhận ung thư phổi và ung thư vú chiếm chủ yếu trong mẫu nghiên cứu chiếm lần lượt 28%, 26%. Ung thư phổi là một trong những ung thư đứng hàng đầu và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong các bệnh nhân ung thư ở nam giới. Luôn chiếm tỷ lệ cao nhất ở các nước phát triển và đang phát triển chiếm khoảng 13,5% các loại ung thư, bệnh có liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá. Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, nam giới mắc bệnh ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao hơn nữ (19% so với 9%).

Điều này phù hợp với dịch tễ học của ung thư phổi. Đối với người Việt Nam có thể do tỷ lệ nam hút thuốc lá nhiều hơn so với nữ cho nên nguy cơ mắc ung thư phổi ở nam luôn cao hơn so với nữ. Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Khoảng 85-90% bệnh nhân ung thư phổi có hút thuốc lá.

Khoảng 1 trong số 10 người hút thuốc lá sẽ phát triển thành ung thư. Hút thuốc lá nhiều có thể liên quan đến thay đổi gen, đột biến gen. Có sự tỉ lệ thuận giữa số lượng thuốc, thời gian hút và tuổi bắt đầu hút thuốc lá với ung thư phổi. Người hút thuốc có nguy cơ cao gấp 20 lần người không hút (hút dưới 100 điếu trong đời). Nguy cơ càng cao nếu hút thuốc trên 20 năm. Khi ngừng thuốc lá thì nguy cơ sẽ giảm dần [11].

Nếu như ung thư phổi là ung thư thường gặp nhất ở nam giới thì ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở nữ (chiếm khoảng 23% tổng số các loại ung thư), đặc biệt phụ nữ ở các nước đang phát triển. Đây là nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ trên toàn thế giới. Ở Mỹ, mỗi năm có

77

khoảng 180.000 trường hợp mắc và 44.000 trường hợp chết do ung thư vú.

Tại Việt Nam, ung thư vú là loại đứng đầu trong các ung thư ở nữ giới ở Miền Bắc với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 27,3/ 100.000 người, ở Miền Nam tỉ lệ này là 17,1/ 100.000 người, đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.

Nghiên cứu của chúng tôi tương tự như nghiên cứu của Lê Hoàng Minh, Phạm Xuân Dũng,…về “Thống kê ung thư Thành Phố Hồ Chí Minh từ 2006- 2010:, ở nam giới ung thư phổi đứng hàng đầu trong khi đó ung thư vú chiếm hàng đầu ở giới nữ [5].

Nguy cơ tích lũy mắc ung thư trong cuộc đời của nam giới là 15,8%.

Chỉ riêng 5 loại ung thư đứng đầu là phổi, gan, đại trực tràng, dạ dày và vòm hầu chiếm gần 57,8% tất cả các vị trí ung thư. Ở nữ giới nguy cơ tích lũy mắc ung thư trong cuộc đời là 12,7% trong đó các ung thư vú, cổ tử cung, đại trực tràng, phổi và tuyến giáp chiếm 63,5% [38].

Ung thư gan chiếm khoảng 5,7% tổng số các loại ung thư và có liên quan mật thiết với tiền sử viêm gan virus B và C. Các nước khu vực châu Á có tỉ lệ mắc ung thư gan cao. Đây là 1 trong 8 ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, đây là loại ung thư phổ biến đứng hàng thứ 4 ở cả hai giới. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là virut viêm gan B. Căn bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm chính vì vậy việc điều trịcũng ít hiệu quả. Các bằng chứng khoa học đã chứng minh viêm viêm gan B là yếu tố gây ung thư gan trên thực nghiệm. Người bị nhiễm viêm viêm gan B có nguy cơ cao gấp 200 lần so với người không bị nhiễm loại virus này.

Xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn tới ung thư gan. Uống rượu kéo dài dẫn tới xơ gan là nguyên nhân thường gặp nhất của ung thư gan trên toàn thế giới. Những người bị xơ gan do rượu nếu ngừng uống khoảng 10 năm thì sau đó cũng tiến triển tới ung thư gan. Thực

78

phẩm dự trữ trong môi trường nóng và ẩm dễ sinh ra một loại nấm gọi là Aspergillus flavus, loại nấm này sinh ra Aflatoxin, là chất được biết gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Ung thư tế bào gan cũng xuất hiện ở trên 30%

bệnh nhân bị ứ sắt có tính chất di truyền. Tại Việt Nam, hậu quả của chiến tranh để lại với hàng triệu tấn chất độc màu da cam có chứa chất Dioxin cũng là một yếu tố nguy cơ chính gây nên căn bệnh này. Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, ung thư gan ở nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với giới nữ. Có thể là do ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh gan do rượu ở nam giới cao hơn [10].

Theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc và khoảng 50 – 70 nghìn người chết vì ung thư. Hiện có 10 loại ung thư thường gặp nhất ở nước ta, tuy nhiên có sự khác biệt về tỉ lệ mắc từng loại ung thư này giữa 2 thành phố (Hồ Chí Minh và Hà nội)[10].

Tại thành phố Hà Nội, Ung thư phổi chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là ung thư dạ dày, gan, đại trực tràng. Các ung thư khác chiếm tỉ lệ thấp hơn.

Trong khi đó ở nữ giới ung thư vú đứng vị trí hàng đầu, ung thư dạ dày đứng ở vị trí thứ 2 (tương tự như ở nam giới) và ung thư phổi chỉ ở vị trí thứ 3. Đây là điểm khác biệt khá đặc trưng về loại ung thư thường gặp ở nam và nữ sống tại khu vực thành phố Hà Nội. Riêng ung thư đại trực tràng chỉ đứng hàng thứ 4 chung cho cả 2 giới nam và nữ. Ung thư cổ tử cung ở nữ chỉ chiếm vị trí thứ 5. Các loại ung thư khác chỉ chiếm tỉ lệ thấp.

Tại thành phố Hồ Chí Minh: [10]

- Đối với nam giới: ung thư gan chiếm tỉ lệ cao nhất và ở vị trí hàng đầu. Tiếp đến mới là ung thư phổi, dạ dày, đại trực tràng… Các loại ung thư khác chiếm tỉ lệ thấp hơn. Như vậy, khác với thành phố Hà Nội, ung thư phổi

79

chiếm tỉ lệ cao nhất chứ không phải ung thư gan như ở thành phố Hồ Chí Minh. Các loại ung thư khác có tỉ lệ chênh lệch không rõ rệt giữa 2 thành phố.

- Đối với nữ giới: tại thành phố Hồ Chí Minh ung thư cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất. Điều này khác với thành phố Hà Nội, ung thư vú ở vị trí số 1.

Trong khi đó ung thư cổ tử cung ở phụ nữ tại Hà Nội xếp ở vị trí thứ 4 và không phải là loại thường gặp. Các loại ung thư khác có tỉ lệ mắc gần tương tự nhau giữa 2 thành phố.

Một đặc điểm khá nổi bật và dễ nhận thấy là các loại ung thư thường gặp ở nam giới cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có mức ác tính cao, phát hiện muộn, khó điều trị và tỉ lệ tử vong thường cao. Hầu hết các loại ung thư này (phổi, gan, dạ dày, đại trực tràng) thường có liên quan tới những yếu tố đã được biết trước như thói quen hút thuốc lá, chế độ ăn uống, viêm gan virus… Do đó lại có nhiều cơ hội để có thể đề phòng và kiểm soát được.

Trong khi đó ở phụ nữ, ung thư vú, ung thư cổ tử cung là 2 loại ung thư có mức độ ác tính không cao như các loại ung thư thường gặp ở nam giới.

Ngoài ra các loại ung thư này đều có cơ hội phát hiện sớm và điều trị có nhiều hiệu quả, thậm chí có thể phòng ngừa được như ung thư cổ tử cung.

Tuổi là một ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ mắc ung thư. Phần lớn các ung thư biểu mô xảy ra muộn (> 55 tuổi). Mỗi nhóm tuổi có sự "ưa thích riêng" đối với một số loại ung thư. Tại Hoa Kỳ, có tăng tỷ lệ tử vong do ung thư ở nhóm tuổi từ 55-74 tuổi. Sự giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm tuổi 75 tuổi và già hơn phản ánh sự giảm số dân đạt đến tuổi này. Trẻ em dưới 15 tuổi ít bị ung thư. Ung thư gây tử vong ở khoảng trên 10% toàn bộ tử vong của nhóm này ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ hai sau tai nạn. Bệnh bạch cầu cấp và u của hệ thống thần kinh trung ương chiếm khoảng 60% các tử vong này. Những u phổ biến ở trẻ em bao gồm u nguyên bào thần kinh, u Wilms, u nguyên bào

80

võng mạc, bệnh bạch cầu cấp và sacôm cơ vân. Theo kết quả bảng 1.16, nhóm tuổi mắc bệnh hay gặp khoảng 45-64 tuổi ngoại trừ đa u tủy.

Theo thống kê của WHO, trong nhóm tuổi từ 0 đến 14, ung thư máu chiếm vị trí hàng đầu ở cả hai giới, mắt, thận, xương, mô mềm là các vị trí tiếp theo. Nhóm tuổi từ 15 - 24, ung thư tuyến giáp là một trong những ung thư hàng đầu ở cả 2 giới, lúc này ung thư buồng trứng ở nữ giới bắt đầu xuất hiện và “lấn sân” các ung thư khác. Ở nhóm tuổi từ 25 đến 34 ung thư tuyến giáp vượt lên đứng hàng đầu ở hai giới, ở nam giới lúc này ung thư đại trực tràng, ung thư gan bắt đầu xuất hiện; ở nữ giới ung thư vú trở thành một trong nhưungx ung thư thường gặp. Từ 35 tuổi trở lên, 5 loại ung thư chính (đã nêu) ở cả hai giới định hình rõ. Sau 65 tuổi, ung thư da là ung thư thường gặp ở cả hai giới, ung thư vú giảm ở nữ giới, sau 80 tuổi tỷ lệ ung thư giảm [38].

Một phần của tài liệu Phân tích sử dụng thuốc tại bệnh viện ung thư đà nẵng năm 2013 (Trang 86 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)