CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VLĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ EDH
2.1. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty EDH
2.2.2 Thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của công
2.2.2.1 Tình hình quản lý vốn bằng tiền và khả năng thanh toán của Công ty EDH
Tiền mặt của công ty bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và không có tiền đang chuyển.
+ Các khoản tiền mặt tại quỹ của công ty phục vụ việc thanh toán đột xuất khi cần thiết, tạm ứng để mua hàng.
+ Tiền gửi ngân hàng (không kỳ hạn) chính là tiền gửi thanh toán, phục vụ mục đích mua hàng xuất nhập khẩu.
* Cách thức quản lý vốn bằng tiền tại công ty EDH
+ Do đặc thù của công ty là sản xuất nhập khẩu thiết bị điện theo đơn đặt hàng. Công ty sẽ gửi sản phẩm đến khách hàng, đợi họ thẩm định sản phẩm có phù hợp với yêu cầu không, khi khách hàng chấp nhận thì kế toán viên của công ty mới xuất hoá đơn đến khách hàng. Điều này làm cho thời gian xuất hàng đến khi hoá đơn bán hàng đến với khách hàng dài vì vậy sẽ làm giảm tốc độ thu hồi tiền mặt.
+ Yêu cầu khách hàng thanh toán trước: Bên cạnh chính sách bán hàng theo phương thức trả chậm để giữ chân khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới công ty cũng tranh thủ áp dụng chính sách yêu cầu khách hàng thanh toán tiền hàng trước cho doanh nghiệp khi họ đặt mua các sản
Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 48
phẩm mới của công ty và những khách hàng mới đặt hàng những lần đầu.
Chính công việc này có thể làm giảm khách hàng vì họ sẽ sang các công ty khác đặt hàng, để hạn chế việc đánh mất khách hàng công ty vẫn giao hàng cho họ nhưng yêu cầu họ phải thanh toán một phần khoản tiền trên giá trị lô hàng.
+ Công ty không thực hiện chiết khấu thanh toán cho các khách hàng thanh toán ngay hoặc trước thời hạn, điều này làm cho khách hàng thường hay kéo dài thời gian trả nợ nên vốn đầu tư vào khoản phải thu tăng dẫn đến thiếu hụt vốn lưu động và công ty dễ rơi vào tình trạng xấu.
+ Mấy năm gần đây việc sử dụng hình thức thanh toán qua ngân hàng đối với nhà cung cấp, khách hàng, trả lương người lao động làm cho thời gian luân chuyển tiền được giảm bớt .Việc làm này còn giúp công ty tạo mối quan hệ tốt với khách hàng thuận lợi cho việc vay vốn để phát triển kinh doanh và công ty thu được một khoản lợi nhuận từ khoản tiền gửi này.
Cách thức quản lý vốn bằng tiền ở trên sẽ ảnh hưởng đến qui mô, cơ cấu và hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền của công ty.
Bảng 06: Cơ cấu vốn bằng tiền của công ty năm 2008
Vốn bằng tiền tại thời điểm cuối năm 2008 tăng 3,511,021,184 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 246.30% , trong đó:
+ Phần lớn vốn bằng tiền của công ty được gửi tại ngân hàng. Đầu năm 2008 công ty gửi tại ngân hàng 781,067,139 đồng chiếm tỷ trọng 61.47% tổng vốn bằng tiền.Cuối năm, số tiền gửi ngân hàng là 4,046,125,011 đồng (84.62%) tăng 3,265,057,872 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 418.03% là do vào thời điểm cuối năm công ty đã thu hồi được số tiền lớn từ giải phóng hàng tồn kho. Tỷ trọng tiền gửi ngân hàng cao như vậy được coi là hợp lý vì phần lớn hàng hoá của công ty được nhập khẩu từ nước ngoài nên công ty chủ yếu thực hiện thanh toán qua hình thức chuyển khoản, việc trả lương cho cán bộ nhân viên của công ty cũng trả qua tài khoản. Mặt khác, việc tăng dự trữ
Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 49
tiền mặt bằng cách tăng tiền gửi ngân hàng còn giúp giảm bớt các tác động tiêu cực của lạm phát tới sự mất giá của đồng tiền đồng thời cũng phù hợp với sự khuyến khích của nhà nước sử dụng thanh toán qua ngân hàng được quy định trong luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, tất cả các giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
+ Phần còn lại là tiền mặt tại quỹ. Đầu năm 2008 công ty dự trữ tại quỹ là 489,662,586 đồng chiếm tỷ trọng 38.53% tổng vốn bằng tiền. Cuối năm số tiền mặt tại quỹ tăng 50.23% so với đầu năm lên là 735,625,898 đồng tuy nhiên do tỷ lệ tăng tiền gửi ngân hàng cao hơn so với tỷ lệ tăng tiền mặt tại quỹ nên tỷ trọng tiền mặt tại quỹ cuối năm chỉ chiếm tỷ trọng 15.38%. Tiền mặt tại quỹ chiếm tỷ trọng nhỏ vì nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của công ty hiện giờ ít.Chỉ có một số khoản như thanh toán tiền vận chuyển hàng, tiền bốc xếp hàng, tiền mua một số loại vật tư thì mới thanh toán bằng tiền mặt tại quỹ.
Nguyên tắc quản lý tiền của công ty là không để tiền mặt tại quỹ nhiều vì như thế vừa không an toàn lại không sinh lời.
Như vậy là so với thời điểm đầu năm 2008 lượng tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng của công ty đều tăng cùng với sự tăng lên của vốn lưu động ,trong cơ cấu vốn bằng tiền thì lượng tiền mặt tại quỹ ít mà chủ yếu là tiền gửi ngân hàng. Đây là một tính toán hợp lý vừa đảm bảo an toàn trong thanh toán vừa đem lại cho công ty một khoản thu nhập do hưởng lãi suất tiền gửi. Tuy nhiên để có thể đánh giá được lượng tiền mặt tại quỹ của công ty như vậy là hợp lý và an toàn chưa cần phân tích khả năng thanh toán của công ty.
Tiếp theo, ta sẽ xem xét khả năng thanh toán của Công ty qua các chỉ tiêu tính toán trong bảng 07: Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty EDH năm 2008:
Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 50
Ngân hàng thường dựa vào hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn để cấp hạn mức tín dụng cho công ty. Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty
*Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Theo tính toán ở bảng 07 ta thấy rằng hệ số này đều lớn hơn 1 ở cả đầu năm và cuối năm (đầu năm là 1.47cuối năm là 1.68. Kết quả này cho thấy khả năng trả nợ của công ty tăng so với đầu năm.và được ngân hàng đánh giá kết quả tốt. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn lớn hơn 1 còn cho ta thấy tài sản lưu động được tài trợ bằng toàn bộ nợ ngắn hạn và một phần của nguồn vốn dài hạn điều này cho thấy công ty đã đảm bảo nguyên tắc cân bằng về mặt tài chính.
Tuy nhiên hệ số này cũng chưa phản ánh đúng khả năng thanh toán của doanh nghiệp vì còn phụ thuộc vào hàng tồn kho, nếu hàng tồn kho là những hàng khó bán thì công ty khó có thể biến chúng thành tiền để trả nợ.Vì vậy khi đánh giá khả năng thanh toán của công ty ngân hàng kết hợp sử dụng hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời.
*Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của Công ty mà không dựa vào việc phải bán hàng tồn kho. Hệ số này đầu năm là 0.87,cuối năm là 1.55. Nguyên nhân chính là do tỷ trọng hàng tồn kho trong tổng vốn lưu động đầu năm cao, nhưng đến cuối năm do công ty đã giải phóng một lượng lớn hàng tồn kho trong khi lại tăng một lượng lớn vốn lưu động (đặc biệt khoản phải thu là tăng nhiều nhất ) cho thấy khả năng thanh toán nhanh của công ty cao nhưng cao như vậy sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, vì vậy công ty nên xem xét điều chỉnh hệ số này cho hợp lý như đẩy mạnh công tác thu hồi nợ để giảm khoản phải thu.
*Hệ số thanh toán tức thời:
Đây là chỉ số mà các nhà cung cấp, ngưòi lao động, các chủ nợ khác…rất quan tâm, nó có mối liên hệ trực tiếp đến vốn bằng tiền của công ty, chỉ số này
Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 51
phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong 1 thời gian ngắn, gần như tức thời. Trên thực tế thì hệ số này lớn hơn 0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan. Qua số liệu bảng tính toán ta thấy hệ số khả năng thanh toán tức thời của công ty là quá thấp. Đầu năm là 0.03 và cuối năm tăng lên là 0.05 do công ty đã tăng lượng dự trữ tiền mặt cụ thể là tiền gửi ngân hàng nhưng hệ số này vẫn còn khá thấp, nguyên nhân là do công ty đã cấp tín dụng cho khách hàng quá lớn nên làm cho vốn bị ứ đọng ở khoản phải thu quá cao trong tổng vốn lưu động. Tuy nhiên hệ số này thấp không có nghĩa là công ty mất khả năng thanh toán vì do đặc điểm huy động vốn ngắn hạn của công ty chủ yếu nhất là nguồn vay ngắn hạn ngân hàng. Trong khi hạn mức tín dụng ngân hàng vẫn còn rộng rãi, do vậy khi phát sinh các khoản nợ cần phải thanh toán tức thời mà lượng tiền mặt không đủ để đáp ứng thì công ty có thể vay ngắn hạn ngân hàng để thanh toán. Mặc dù vậy công ty vẫn nên tính toán để lượng tiền mặt nhiều hơn chủ động được trong thanh toán cũng như để cho các giao dịch được tiến hành bình thường, giảm thiểu rủi ro trong thanh toán, không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh cũng như nâng cao được uy tín của công ty đối với các chủ nợ.
Ta thấy việc sử dụng vốn bằng tiền của công ty có sự tăng lên đáng kể trong năm 2008. Công ty đã chú trọng hơn đến công tác dự trữ vốn bằng tiền nhằm nâng cao khả năng thanh toán và giải phóng một lượng lớn hàng tồn kho,tuy nhiên công tác quản lý vốn bằng tiền và tình hình khả năng thanh toán của công ty chưa thật sự hợp lý. Vì vậy trong thời gian tới công ty cần xem xét điều chỉnh việc tăng lượng dự trữ tiền mặt, đẩy mạnh việc thu hồi nợ để hợplý hoá khả năng thanh toán.