Tình hình quản lý hàng tồn kho của công ty EDH

Một phần của tài liệu Công ty cổ phần phát triển kỹ thuật công nghệ EDH và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động (Trang 57 - 60)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VLĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ EDH

2.1. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty EDH

2.2.2 Thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của công

2.2.2.3 Tình hình quản lý hàng tồn kho của công ty EDH

Hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh như dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải bao giờ cũng diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất của doanh nghiệp một sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.

Qua bảng 11 : Tình hình HTK của công ty EDH năm 2008

Tại thời điểm đầu năm 2008 giá trị khoản hàng tồn kho là 30,351,268,461 đồng chiếm 40.96% trong tổng tài sản lưu động của công ty thì đến thời điểm cuối năm 2008 giá trị của các khoản hàng tồn kho giảm xuống đáng kể chỉ còn 12,686,365,398 đồng với tỷ trọng 7.90%. Trong đó giảm nhiều nhất là nguyên vật liệu tồn kho giảm 2,692,480,016 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 94.80% sau đó là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 58

giảm 1,099.116,891 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 79.13% do vậy cuối năm 2008 tỷ trọng nguyên vật liệu tồn kho và chi phí sản xuất kinh doanh rất nhỏ. Hàng hoá trong kỳ chiếm tỷ trọng cao nhất là 63.61% trong hàng tồn kho (giảm nhiều nhất về số tuyệt đối 18,051,847,806 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 69.11%. Hàng hoá tồn kho của công ty tại thời điểm cuối năm 2008 bao gồm những hàng hoá mua vào dự trữ để bán ra trong năm sau và những hàng hoá còn ứ đọng chưa tiêu thụ được. Để đánh giá chính xác hàng tồn kho giảm là thành tích hay khuyết điểm của công ty ta nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến sự giảm đi đó:

- Do cách thức quản lý hàng tồn kho của công ty :

Nhập khẩu hàng hoá theo đơn đặt hàng của khách hàng do đó lượng hàng hoá về sẽ được bán luôn trong kỳ,giảm lượng hàng hóa trong tồn trong kho. Còn đối với vật tư thì có phòng xuất nhập khẩu vật tư tổng hợp nhu cầu vật tư theo chu kỳ sản xuất sau đó mới đặt hàng với nhà cung cấp nên lượng vật tư được nhập về hầu hết được đưa ngay vào quá trình sản xuất , do vậy vật tư tồn kho cũng ít.

- Do nhu cầu tiêu thụ hàng hoá của công ty tăng mạnh về cuối năm nên đẩy nhanh số lượng hàng hoá tiêu thụ,giải phóng một lượng đáng kể hàng hoá tồn kho (mặc dù trong kỳ công ty đã nhập thêm một lượng lớn hàng hoá trị giá trên 20 tỷ đồng) tăng doanh thu tiêu thụ kéo theo khoản phải thu tăng lên.

- Do năm 2008 có sự chuyển giao một lượng hàng hoá thiết bị điện đáng kể của công ty EDH cho công ty EDHP dưới hình thức bán chịu, mở đầu cho sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh của công ty trong thời gian tới.

Còn thành phẩm nhập kho lại tăng lên (đầu năm 2008 thì không có, cuối năm 2008 là 1,478,568,650 đồng chiếm tỷ trọng đáng kể 11.65%) là do nguyên vật liệu,chi phí sản xuất kinh doanh dở dang được đưa vào quá trình sản xuất nên làm giảm nguyên vật liệu và chi phí sản xuất kinh doanh tăng

Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 59

thành phẩm nhập kho. Mặt khác, công ty muốn dự trữ một lượng thành phẩm nhất định trong kho để chủ động đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh của khách hàng,điều này công ty đã rút kinh nghiệm từ những năm trước: Do đặc điểm sản xuất kinh doanh theo đơn đặt hàng nên công ty thường sản xuất một lượng thành phẩm vừa đủ yêu cầu, có những trường hợp khách hàng muốn mua thêm sản phẩm như trong năm 2007, công ty Đức Hoàng muốn lấy thêm 1000 công tơ điện, công ty truyền tải điện 2 muốn đặt thêm 30 trạm biến áp ngoài hợp đồng đã ký mà công ty lại không có sẵn trong kho nên đã để mất nhiều đơn đặt hàng.

Để đánh giá một cách cụ thể hiệu quả công tác quản lý hàng tồn kho của công ty, ta đi xem xét một số chỉ tiêu được tính toán trong bảng như sau :

Bảng 12: Hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của công ty EDH năm 2008 Năm 2007 hàng tồn kho quay được 3.29 vòng nhưng đến năm 2008 tăng lên là 9.50 vòng. Như vậy đã tăng 6.21 vòng với tỷ lệ tăng 188.85%. Từ đó số ngày thực hiện một vòng quay hàng tồn kho giảm từ 109.45 ngày (năm 2007) còn 37.89 ngày, giảm 71.56 ngày tưong ứng với tỷ lệ giảm 65.38% cho thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty tăng lên, giải phóng một lưọng lớn vốn bị ứ đọng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Nguyên nhân làm tăng vòng quay hàng tồn kho là do ảnh hưởng của nhân tố giá vốn hàng bán và hàng tồn kho bình quân.Trong năm 2008 giá vốn hàng bán tăng với tỷ lệ rất cao 153.18% do hàng hóa, vật tư, công ty nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn lại chịu ảnh hưởng tỷ giá tăng cao làm đội giá vốn hàng bán trong khi hàng tồn kho bình quân lại giảm với tỷ lệ 12.35%. Hàng tồn kho bình quân giảm là do trong năm 2008 công ty đã thay đổi cách quản lý hàng tồn kho

Qua những đánh giá ở trên cho thấy công tác quản lý hàng tồn kho của công ty chưa khá tốt. Lượng hàng tồn kho giảm cả về số lượng và tỷ trọng

Đặng thị Dịu Lớp K43/11.02 60

trong tổng vốn lưu động. Do vậy các khoản chi phí cho hàng tồn kho giảm đáng kể. Mặt khác trong năm qua lượng hàng tồn kho giảm nhưng doanh thu tiêu thụ vẫn không ngừng tăng lên .

Một phần của tài liệu Công ty cổ phần phát triển kỹ thuật công nghệ EDH và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động (Trang 57 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(86 trang)