Cơ sở thực tiễn

Một phần của tài liệu đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm tại công ty tnhh mây tre xuất khẩu phú minh hưng yên (Trang 53 - 61)

II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU

2.4 Cơ sở thực tiễn

2.4.1. Kinh nghim đẩy mnh xut khu hàng th công m ngh nói chung và mây tre đan trong nước và quc tế

2.4.1.1. Kinh nghiệm quốc tế a) Kinh nghim ca Trung quc

Nhân tố đầu tiên quan trọng nhất và xuyên suốt là những cải cách về thể chế và phi thể chế đối với những vùng nông thôn để phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Chi phí lao động thấp và định hướng thị trường đã biến các xí nghiệp trở thành những nhà xuất khẩu có khả năng cạnh tranh quốc tế đối với những sản phẩm có hàm lưọng lao động cao trong thời kỳ mở cửa của Trung quốc.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 45

Một loạt những cải cách chính sách được thực hiện để tăng độ minh bạch, bình đẳng, ưu đãi và thông thoáng hơn đã được Chính phủ thực hiện.

Chính phủ cũng ban hành chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát triển vùng nông thôn như tăng đầu tư cho sản xuất hàng nguyên liệu và sơ chế; trợ giá hàng mây tre đan và có chính sách chỉ phát triển các xí nghiệp hàng thủ công mỹ nghệ ở vùng nông thôn. Những cải cách này đã giúp giải quyết việclàm cho lao động dư thừa nông thôn, tăng thu nhập cho người nông dân và tạo ra thị trường cầu rộng lớn giúp phát triển kinh tế.

Quan trọng hơn Chính quyền Trung ương đã có những chính sách tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong việc đưa ra quyết định trong việc quản lý kinh doanh. Khi các doanh nghiệp có nhiều quyền tự chủ hơn, họ quan tâm nhiều đến mở rộng thị phần, yếu tố đòi hỏi sự linh hoạt và đổi mới của từng doanh nghiệp. Họ đã sử dụng nhiều chiến lược để giành nhiều thị phần hơn nhằm thu lợi nhuận lâu dài thay vì lợi nhuận trước mắt.

Ngoài ra, các doanh nghiệp bắt đầu áp dụng thương mại điện tử để tìm hiểu thị trường quốc tế và mạnh dạn cử phái đoàn đi tìm hiểu thị trường nước ngoài. Để đảm bảo việc xuất khẩu, các hiệp hội quản lý chất lượng hàng xuất khẩu cũng được hình thành.

Trong mọi ngành của Trung Quốc, các xí nghiệp chú ý nhiều đến đổi mới công nghệ và tăng hiệu quả cạnh tranh. Với những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào khu vực nông thôn, các xí nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đã tích cực tìm đối tác nước ngoài để liên doanh. Họ không chỉ dừng lại ở việc thu lợi nhuận tài chính mà còn chú ý đến chuyển giao công nghệ, bao gồm cả công nghệ quản lý, lấy sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao tham gia cạnh tranh quốc tế và chủ yếu lấy khoa học kỹ thuật cao để cải tạo và nâng cao chất lượng hàng truyền thống của vùng, các xí nghiệp này thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, đặc biệt chú ý đến cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm và hàm lượng kỹ thuật trong sản phẩm.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 46

Có thể rút ra hai điều quan trọng từ sự phát triển của các doanh nghiệp kinh tế nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Trung Quốc như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn, đặc biệt dưới hình thức doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp.

Thứ hai, để doanh nghiệp vừa và nhỏ này phát huy được vai trò của mình, chính quyền các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi về mặt chính sách để họ có khả năng điều chỉnh dần dần theo nền kinh tế thị trường trong thời kỳ nền kinh tế đang chuyển đổi và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật. Sự tăng trưởng các doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào nhiều khả năng của các hệ thống trong nước và địa phương cải thiện các điều kiện khách quan và khả năng công nghệ để doanh nghiệp phát triển. Chính quyền địa phương cần đóng vai trò điều phối, phát triển cơ sở hạ tầng và thực thi hệ thống pháp luật. Ngoài ra cần có đầu tư thích đáng vào giáo dục và xây dựng hạ tầng nông thôn, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp địa phương.

Các cấp chính quyền địa phương quan tâm đến doanh nghiệp trong địa bàn, lắng nghe ý kiến của họ và tham vấn để đề xuất với chính quyền trung ương đưa ra những chính sách kinh tế và xã hội đảm bảo sự phát triển trong dài hạn. Đây là cách thức quan trọng trong việc tăng quyền tự chủ của doanh nghiệp và tạo điều kiện, thay vì bảo hộ để các doanh nghiệp tự điều chỉnh để tồn tại và nâng cao khả năng cạnh tranh.

b) Kinh nghim ca Thái Lan

Chính sách kinh tế của Thái Lan trong suốt ba thập kỷ qua đã dẫn đến sự tăng trưởng không bền vững và phát triển mất cân đối giữa các miền và nhóm người trong xã hội. Chính phủ của Thủ tướng Thaksin đã đề ra một quốc sách nhằm vực dậy nền kinh tế đất nước từ bộ phận những người dân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 47

nghèo này. Chính sách quốc gia đó là chính sách “Một làng, một sản phẩm”.

Chính sách nhằm phát huy tính tự lực, khai thác tính sáng tạo của người dân, sử dụng các nguồn lực của địa phương để phát triển kinh tế của tỉnh. Dự án được coi như một chiến lược tạo ra thu nhập bình đẳng hơn cho người dân nông thôn ở mọi làng quê trên đất nước Thái Lan. Dựa trên đặc điểm và thế mạnh của mình, từng làng sẽ chọn và phát triển một sản phẩm đặc thù có chất lượng. Mục tiêu cuối cùng là sản phẩm giành được các thị trường ngách trên thị trường thế giới và được nhận biết thông qua chất lượng cũng như tính dị biệt nhờ vào đặc thù của từng làng quê Thái. Dự án được xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản: một là mang tính địa phương nhưng phải tiến ra toàn cầu;

hai là phát huy tính tự lực sáng tạo và ba là phát huy nguồn nhân lực.

Với những nguyên tắc trên, dự án có 6 mục tiêu cụ thể:

Thứ nhất: Tạo ra những đặc điểm riêng biệt cho sản phẩm địa phương để tăng doanh số bán. Ngoài ra để hàng hoá có thể thâm nhập thị trường thế giới, phải đáp ứng được những tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng quốc tế.

Thứ hai: Làm sống lại, phục hồi và phát huy các kiến thức truyền thống của địa phương nhằm củng cố hiệu quả kinh doanh của địa phương.

Thứ ba: Phát huy những tri thức của địa phương để sáng tạo và tạo ra những sản phẩm và hàng hoá có tính đặc thù.

Thứ tư: Song song phát triển du lịch sinh thái và du lịch tham quan các làng nghề thủ công mỹ nghệ nhằm tăng thu nhập cho địa phương.

Thứ năm: Xây dựng lòng tự hào dân tộc và xã hội đối với sản phẩm của Thái Lan.

Thứ sáu: Hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương phát triển và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này được thực hiện thông qua việc hỗ trợ thiết kế và phát triển sản phẩm để theo kịp thay đổi thị hiếu và sở thích của thị trường.

Như vậy, Dự án “Một làng, một sản phẩm không chỉ dừng lại ở việc phát triển những sản phẩm hay dịch vụ đặc thù địa phương, đặc biệt là phát

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 48

triển các hàng TCMN truyền thống mà mục tiêu của nó có tính toàn diện; phát triển có kế thừa văn hoá địa phương và các kiến thức truyền thống cùng với những kinh nghiệm lâu đời truyền lại, bao gồm: nghệ thuật, nhạc và văn học của từng địa phương; từ đó tạo nguồn thu từ phát triển du lịch và bảo tồn thiên nhiên, nhằm tạo ra sự phối hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát huy và bảo tồn văn hoá truyền thống. Những sản phẩm của dự án chính là những sản phẩm truyền thống của địa phương nhưng được cải tiến về mẫu mã và chất lượng để phù hợp với thị hiếu khách hàng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và dị biệt trên thị trường toàn cầu. Những đặc điểm rất có sức cuốn hút của sản phẩm này chính là những nguyên liệu và sản phẩm có tính cá biệt của địa phương, có chất lượng tốt, thể hiện sự khéo léo, tinh xảo của người thợ thủ công và giá phải chăng.

Dự án này có mục tiêu cụ thể là kích cầu trong nước. Ngoài ra trên thực tế, một sản phẩm hay một nhà kinh doanh không thể thành công trên thương trường quốc tế nếu họ chưa nắm bắt được thị trường trong nước.

Chính vì vậy những đánh giá bước đầu về hiệu quả của dự án đã đề ra chương trình hành động khẩn cấp bao gồm việc thực hiện chiến dịch marketing ở cấp quốc gia và quốc tế, đàm phán các hợp đồng kinh doanh, hình thành các kênh phân phối dựa trên sự phối hợp giữa các cửa hàng bách hoá và các trạm xăng để thiết lập các khu vực “một làng, một sản phẩm”. Thái Lan cũng mở chiến dịch khuyến khích mua hàng nội, quảng bá lịch các sự kiện truyền thống ở địa phương kết hợp với việc giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương.

Nói tóm lại, dự án “một làng, một sản phẩm” của Thái Lan tiêu biểu cho một chiến lược cấp quốc gia về phát triển và quảng bá các sản phẩm trong nước, xây dựng hình ảnh Thái Lan trên thị trường toàn cầu như một đất nước có những nét văn hoá đặc trưng. Dự án tiêu biểu cho liên kết có hiệu quả giữa Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, khu vực tư

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 49

nhân và cộng đồng người dân để khai thác nguồn nội lực từ cộng đồng nhân dân. Đặc biệt, dự án đã sử dụng thương mại điện tử như một công cụ hữu hiệu để phát triển các sản phẩm truyền thống giúp tấn công nghéo đói, phát triển dân trí và kinh tế vùng nông thôn.

2.4.1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam a) Kinh nghim đẩy mnh xut khu ca Đồng Nai

Trong những năm qua, Đồng Nai đã nhanh chóng lựa chọn cho mình chiến lược hướng về xuất khẩu. Xuất phát từ nhận thức nguồn lao động là vốn quý nhất của tỉnh vì vậy tỉnh đã chú trọng khai thác nguồn lực quý báu này. Tỉnh đã lựa chọn một ngành nghề phù hợp với tiềm năng của địa phương là sản xuất đồ gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Các doanh nghiệp chủ động nghiên cứu thị trường và lựa chọn khoảng trống của thị trường quốc tế và quyết định sử dụng nguồn nhân lực dồi dào để sản xuất các sản phẩm với khối lượng lớn, cần ít vốn đầu tư nhưng lại có khả năng tiêu thụ. Nhờ định hướng đúng đắn này Đồng Nai không những đã phát triển kinh tế của tỉnh theo xu thế phát triển xuất khẩu mà còn giải quyết được tình trạng đói nghèo. Trong chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, Đồng Nai kết hợp tốt các loại hình doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ trong sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.

Ở Đồng Nai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ thích ứng với những biến động thị trường, đổi mới công nghệ, tạo điều kiện huy động vốn của các chủ thể tham gia đầu tư kinh doanh. Các doanh nghiệp này được trang bị kỹ thuật, máy móc nên năng suất lao động cao và đảm bảo chất lượng xuất khẩu. Tỉnh sẽ hỗ trợ bất cứ người dân nào có ý định thành lập doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu.

Ngoài những chính sách chung của Nhà nước khuyến khích xuất khẩu, Đồng Nai còn đưa ra một số chính sách tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu như: chính sách hỗ trợ nguồn vốn, miễn giảm thuế cho các ngành sản xuất xuất khẩu hoặc liên quan đến xuất khẩu, cấp tín dụng đối với lãi suất thấp cho các ngành ưu tiên xuất khẩu.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 50

b) Kinh nghim đẩy mnh xut khu tnh Thái Bình

Thái Bình là tỉnh nằm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng với 80% dân số làm nông nghiệp, trong những năm qua để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều cơ chế chính sách để hỗ trợ sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển ngành nghề thủ công để sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu, tỉnh đã thành lập quỹ khuyến công nhằm khuyến khích các ngành công nghiệp và công nghiệp nhẹ trong tỉnh, trong đó có ngành nghề thủ công. Ngân sách cho quỹ được trích từ ngân sách hàng năm của tỉnh. Quỹ sẽ được sử dụng để hỗ trợ xây dựng dự án, tổ chức điều tra và xây dựng chính sách về phát triển công nghiệp và làng nghề, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ cho các tổ chức tư vấn và tài trợ vốn cho áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.

Tỉnh uỷ Thái Bình đã ra Nghị quyết về phát triển làng nghề và nghề đã xác định lựa chọn các chính sách đối với các biện pháp phát triển, bao gồm:

- Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế và doanh nghiệp có vốn và kinh nghiệm về kinh doanh đầu tư phát triển nghề và làng nghề.

- Tập hợp các biện pháp thâm nhập và mở rộng thị trường ở cả trong nước và nước ngoài cho các sản phẩm của làng nghề.

- Tăng cường đào tạo nghề.

- Khuyến khích phát triển Hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và công ty Trách nhiệm hữu hạn.

- Khuyến khích đầu tư áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất.

- Gắn làng nghề với du lịch và bảo vệ môi trường làng nghề.

Trên cơ sở đó Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành quy định phát triển nghề và làng nghề và các biện pháp hỗ trợ bao gồm ưu đãi vốn và hỗ trợ đầu tư; đất cho sản xuất tập trung, ưu đãi thuế; cung cấp và tìm kiếm thông tin thị trường bao gồm thành lập các Trung tâm xúc tiến thương mại; hỗ trợ công

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 51

nghệ, môi trường và hạ tầng; tổ chức cho các nghệ nhân đào tạo nghề.

Bên cạnh các chính sách và quy định trên, tỉnh đã quyết định dành ngân sách tỉnh cho quỹ khuyến công bao gồm hỗ trợ cho các làng nghề và ban hành Quyết định khuyến khích đầu tư vào Thái Bình. Công tác triền khai chính sách toàn diện và tích cực phục vụ phát triển ngành nghề và làng nghề ở tỉnh Thái Bính đã làm cho các làng nghề phát triển, đặc biệt xuất khẩu hàng TCMN đã có sự tăng trưởng khá.

2.4.2. Bài hc kinh nghim đẩy mnh xut khu hàng mây tre đan cho Công ty TNHH mây tre xut khu Phú Minh – Hưng Yên.

Từ kinh nghiệm quốc tế và trong nước, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Công ty TNHH mây tre xuất khẩu Phú Minh như sau:

- Lựa chọn cho mình chiến lược hướng về xuất khẩu, xác định các mặt hàng có thế mạnh của công ty sử dụng nhiều lao động.

- Phải tạo ra được những đặc điểm riêng biệt cho sản phẩm của công ty để hàng hoá có thể thâm nhập thị trường quốc tế, đáp ứng được tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng quốc tế.

- Phát huy năng lực sáng tạo của công nhân có kinh nghiệm để sáng tạo ra những sản phẩm và hàng hoá có tính đặc thù, làm sống lại, phục hồi giá trị của những sản phẩm truyền thống trong tỉnh để giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động cũng như phát triển kinh tế địa phương.

- Chú trọng thiết kế và phát triển sản phẩm để theo kịp thay đổi thị trường.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 52

Một phần của tài liệu đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm tại công ty tnhh mây tre xuất khẩu phú minh hưng yên (Trang 53 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(115 trang)