IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.6. Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu hàng mây tre đan của công
Trong một môi trường cạnh tranh rất gay gắt như hiện nay, để tồn tại đã khó khăn nhưng để phát triển đựoc lại càng khó khăn hơn. Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một hướng đi phù hợp có hiệu quả.
Dù theo hướng kinh doanh nào, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu vẫn có chung một mục tiêu là " đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng đi ưu tiên, trọng điểm cho mục tiêu phát triển của doanh nghiệp ".
Đẩy mạnh xuất khẩu là các hoạt động tác động vào quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của công ty để mở rộng khả năng xuất khẩu của công ty đó. Hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu có thể nhằm vào các mục tiêu như mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu hay thiết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 93
lập một thị phần nhất định trong một thị trường nào đó... Thực hiện hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu là giải pháp hữu hiệu để chúng ta khẳng định vị trí của mình trong thương mại khu vực và quốc tế. Đồng thời, nó cũng là giải pháp tự vệ của công ty trước yêu cầu mở cửa của nền kinh tế của quá trình hội nhập.
Hoạt động xuất khẩu của quốc gia nói chung của công ty nói riêng đều chịu ảnh hưởng của thương mại quốc tế. Vì thế, khi tiến hành các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu, công ty hay quốc gia phải phân tích, dự đoán động thái các hoạt động thương mại quốc tế. Đặc điểm và xu hướng phát triển của thương mại quốc tế do đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của công ty. Ngày nay, thương mại quốc tế có các đặc điểm và xu hướng phát triển theo hướng sau:
- Cùng với sự phát triển của quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá đời sống kinh tế thế giới, thương mại quốc tế ngày nay phát triển với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng nhanh theo hướng phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Quá trình tự do hoá thương mại ngày càng gia tăng là yêu cầu khách quan của thương mại quốc tế. Nội dung cơ bản của tự do hoá thương mại là sự giảm thiểu để đi đến xoá bỏ hàng rào thương mại thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia. Do đó, tự do hoá thương mại đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa nền kinh tế, tạo môi trường bình đẳng cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đây là cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp tự khẳng định lại mình tồn tại hay diệt vong, trở thành một doanh nghiệp lớn mạnh hay chỉ là một chi nhánh nhỏ bé của một công ty lớn.
- Trong điều kiện chưa thể toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới một cách triệt để thì xu hướng bảo vệ mậu dịch vẫn tồn tại khách quan trong thương mại quốc tế. Song mỗi quốc gia áp dụng các chính sách, biện pháp khác nhau để bảo vệ thị trường trong nước trước sự xâm nhập của hàng háo nước ngoài.
Do đó dẫn đến tình trạng phát triển không đồng đều.
Dựa trên các phân tích đó có thể đưa ra một số giải pháp như sau :
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 94
4.6.1. Nhóm giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm như
4.6.1.1. Xây dựng công ty theo mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu Một mô hình kinh tế công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu thường lấy nhu cầu của thị trường của thế giới làm mục tiêu phát triển, chuyển dịch và cải tạo cơ cấu mặt hàng sao cho thích ứng với những đòi hỏi của thế giới. Mà mục tiêu hướng về xuất khẩu là mở rộng hoạt động xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu. Để mở rộng hoạt động xuất khẩu cần phải xây dựng cơ sở vật chất làm nền tảng cho sự phát triển.
Trước hết, công ty cần quy hoạch và xây dựng tổng thể các phòng làm việc của công ty, trong đó có phòng kinh doanh mây tre đan. Trên cơ sở các dự án đã được duyệt cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhất la xây dựng các văn phòng thiết bị mới, nhà xưởng sản xuất, kho tàng... trang thiết bị, máy móc hiện đại tạo ra môi trường làm việc hiện đại, văn minh. Do công ty chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng nên cần phải tạo ra một môi trường kinh doanh thông thoáng, kinh doanh có hiệu quả nhằm thu hút khách hàng, tạo cho khách hàng niềm tin vào công ty. Mà điều dó có thể khách hàng đánh giá một phần nhỏ ở các phòng làm việc của công ty khang trang, sang trọng với các đồ trang thiết bị hiện đại, đẹp thể hiện đựoc tính nghệ thuật hay ý đồ kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như phòng kinh doanh mây tre đan nên được xây dựng hiện đại có điều hoà nhiệt độ để bảo vệ các đồ mây tre đan trang trí phòng như bàn, ghế, giá sách, lẵng hoa, mành khỏi ẩm mốc. Với cách trưng bày khéo léo của phong mây tre đan sẽ hấp dẫn khách hàng thúc đẩy nhu cầu được ký kết hợp đồng kinh tế nhanh hơn. Chính là biện pháp vào tâm lý của khách hàng đẩy mạnh sản xuất kinh doanh hàng mây tre đan.
Sau đó, công ty cần phải xây dựng hệ thống kho tàng để bảo quản, lưu chuyển hàng hoá thuận tiện, đáp ứng yêu cầu của bạn hàng. Do công ty không tự sản xuất kinh doanh mà chuyên thu mua hàng xuất khẩu từ các đơn vị sản xuất kinh doanh, các làng nghề truyền thống nên cần có hệ thống kho để bảo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 95
quản nguồn hàng xuất khẩu mây tre đan. Bởi hàng mây tre đan rất dễ mốc do khí hậu của ta ẩm thấp nên kho hàng cần được xây dựng thông thoáng khô ráo. Hơn thế, cần phải có hệ thống lò sấy hiện đại hơn để đảm bảo hàng đạt chất lượng quốc tế.
Tiếp đến là đầu tư xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp và kinh doanh xuất nhập khẩu, bao gòm cả kinh doanh xuất khẩu hàng mây tre đan. Hệ thống công nghệ thông tin hoạt động giúp cho đường liên lạc giữa người sản xuất - doanh nghiệp ngoại thương - người nước ngoài được thông suốt. Qua đó, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp ngoại thưong với người cung cấp nguồn hàng xuất khẩu và doanh nghiệp ngoại thương với người tiêu thụ sản phẩm của họ.
Như vậy, với các giải pháp về xây dựng vật chất trên tạo tiền đề cho việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu mây tre đan của công ty.
4.6.1.2. Đầu tư và phát triển các làng nghề sản xuất hàng mây tre đan
Làng nghề là làng ở các vùng nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công mỹ nghệ tách khỏi nông nghiệp ra kinh doanh độc lập. Làng nghề được hình thành từ rất nhiều lý do, có thể là do sức ép về kinh tế một số người trong làng đi học nghề nơi khác rồi về truyền lại, từ sự khuyến khích phát triển nghề của nhà nước... Khi làng nghề được hình thành qua nhiều năm, truyền qua nhiều thế hệ gọi là làng nghề truyền thống. Các làng nghề có các vai trò như :
• Tạo công ăn việc làm, thu hút nguồn lao động dư thừa ở các vùng nông thôn, phân công lại lao động xã hội, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, góp phần tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn.
Các công việc sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên không có khả năng thu hút hết nguồn lao động ở nông thôn. Do vậy phát triển làng nghề không những thu hút được lực lượng lao động trong từng hộ gia đình của địa phương mà còn giải quyết được việc làm cho người lao động ở nơi khác đến. Thu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 96
nhập của các hộ trong các làng nghề cao gấp 1,8 đến 4,5 lần thu nhập của các hộ thuần nông.
• Thu hút vốn nhàn rỗi tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân. ở làng nghề mức đầu tư cho một lao động có việc làm thưòng xuyên chỉ bằng 1/10 so với lao động ở khu vực quốc doanh, song tỷ lệ vốn/ lãi đạt trung bình từ 17% đến trên 20% cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình 11% ở khu vực quốc doanh. Quy mô đầu tư bình quân mỗi hộ chỉ khoảng vài ba chục triệu trong khi đó quy mô đầu tư cho mỗi doanh nghiệp lên đến hàng trăm triệu, chục tỷ đồng. Do kinh tế làng nghề là kinh tế cá thể nên có thế mạnh là thu hút được đông người đầu tư với một lượng vón không phải là nhỏ.
• Mặt khác, các làng nghề còn có thể tận dụng diện tích nhà ở, sân, vườn... của họ làm nơi sản xuất, kho,..Vì thế,các làng nghề tiết kiệm được 30- 40% vốn đầu tư.
• Phát triển các làng nghề truyền thống còn đóng góp vào sự tăng trưởng, giá trị sản lượng của địa phương, tạo nguồn hàng xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người dân lúc nông nhàn, vừa tạo được nguồn hàng xuất khẩu vừa giải quyết vấn đề an sinh xã hội. Như vậy công ty đã góp phần vào việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, phát triển đi đôi với bền vững.
Tóm lại, phát triển các làng nghề chính là giải pháp về nguồn hàng cung cấp cho công ty. Nếu công ty không có đầu vào thì không thể hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, phát triển các làng nghề là giải pháp quan trọng cho thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu mây tre đan.
4.6.1.3. Đổi mới mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu
Để xuất khẩu hàng mây tre đan sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ. Hàng mây tre đan không những đảm bảo chất lượng mà còn phải đảm bảo về mẫu mà cũng như tính đa dạng, sáng tạo các loại mới. Hàng mây tre đan ngoài công dụng trang trí công ty cũng nên nghĩ đến việc sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 97
xuất các hàng mây tre đan vừa có tính trang trí vừa có thể được sử dụng vào các công việc thường ngày. Như vậy hàng mây tre đan của công ty sẽ đa dạng và được các bạn hàng chú ý hơn.
4.6.2. Nhóm giải pháp marketing trên thị trường gồm
Thị trường là yếu tố quyết định cho sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu, phòng nghiên cứu thị trường phải có trách nhiệm nghiên cứu và tìm hiểu tình hình thị trường, thành lập các kênh phân phối cho sản phẩm, tổ chức xúc tiến bán hàng và thu thập thông tin về khách hàng. Trên cơ sở những thông tin đó định ra những kế hoạch, chiến lược về thị trường xuất khẩu mây tre đan.
4.6.2.1. Xây dựng chiến lực thị trường xuất khẩu
Nghĩa là quy hoạch tổng thể về các thị trường mây tre đan trong tương lai. Để xây dựng chiến lược thị trường đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phân tích đúng đắn động thái thị trường thế giới, những thay đổi có thể có... Khi xác định được thị trường xuất khẩu phù hợp sẽ giúp công ty đầu tư kinh doanh hàng xuất khẩu mây tre đan có hiệu quả, tận dụng được mọi nguồn lực, đồng thời chủ động đối phó với những rủi ro của thị trường xuất khẩu.
Song trên thực tế, phong kinh doanh mây tre đan phải tự tìm kiếm thị trường, tự tìm nguồn hàng và định ra phương hướng xuất khẩu hàng mây tre đan. Vì vậy, để mở rộng thị trường xuất khẩu hàng mây tre đan, mặt hàng xuất khẩu chiến lược của công ty, công ty nên giải quyết vấn đề càng sớmcàng tốt.
4.6.2.2. Đẩy mạnh hoạt động Marketing
Bên canh đó, công ty cần tăng cường hơn nữa các hoạt động Marketing xuất khẩu, tức là đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị xuất khẩu thông qua các hình thức tổ chức triển lãm, hội chợ, hội thảo thương mại, mở phòng trưng bày, tổ chức chuyến thăm quan, tham gia hội chợ triển lãm để giới thiệu sản phẩm với khách hàng nước ngoài, cung cấp thông tin về khách hàng, thị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 98
trường nước ngoài với nhà sản xuất trong nước, các làng nghề sản xuất hàng mây tre đan.
Marketing là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các mưu kế hay các ý định, là quá trình vận động và thực hiện các tư tưởng, là quá trình hình thành giá cả và thực hiện các hàng hoá đó cũng như các dịch vụ nhằm hướng tới thoả mãn ý đồ của các cá nhân hay tổ chức nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên các tổ chức kinh doanh sẵn sẵn sàng bỏ ra hàng triệu USD để đẩy mạnh hoạt động Marketing. Một chiến lược Marketing tốt có thể giúp doanh nghiệp đạt được cả ba mục tiêu: lợi nhuận, uy tín và sự an toàn trong kinh doanh. Qua đó, đem lại lợi nhuận cao cho công ty cho cả hiện tại và tương lai.
Nói tóm lại, hoạt động Marketing là một hoạt động không thể thiếu được trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu như công ty TNHH Phú Minh.
4.6.2.3. Đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu
Đây cũng là một trong số các giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu mặt hàng mây tre đan. Việc áp dụng đa dạng hoá các hình htức xuất khẩu sao cho phù hợp với điều kiện của từng loại thị trường sẽ giúp cho công ty tìm kiếm thêm nhiều bạn hàng mới, bởi khách hàng sẽ có quyền lựa chọn hình thức xuất khẩu cho mình sao cho nó đem lại hiệu quả tối ưu cho cả hai bên.
Hiện công ty đang sử dụng chủ yếu hình thức xuất khẩu trực tiếp hàng mây tre đan, song trong tương lai nên sử dụng các hình thức sau:
- Buôn bán đối lưu: Là hình thức trao đổi hàng hoá sao cho cả hai bên đều phải thoả mãn với lượng hàng hoá nhận được. Công ty nên sử dụng hình thức này khi phía đối tác đang có nhu cầu trao đổi hàng hoá với công ty.
- Xuất khẩu trả chậm: Trong những trường hợp công ty không thu được tiền ngay của khách hàng thì công ty nên áp dụng hình thức này bằng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 99
cách gia hạn cho đối tác một thời gian nhất định để thanh toán.
Công ty chỉ nên áp dụng hình thức xuất khẩu này khi thực sự tin tưởng vào đối tác và đây là mối quan hệ làm ăn lâu dài.
4.6.2.4. Đưa thương mại điện tử vào hoạt động xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty
Trong cơ chế thị trường đầy tính cạnh tranh thì doanh nghiệp nào nắm bắt được thông tin vè nhu cầu của thị trường nhanh nhất, doanh nghiệp đó sẽ thu được nhiều lợi nhất. Điều này chỉ xảy ra khi có sự trợ giúp của công nghệ thông tin. Bởi vậy, phát triển thương mại điện tử trong công ty là một xu hướng tất yếu.
Thương mại điện tử là một lĩnh vực tương đối mới ở nước ta, nó là việc sử dụng các phương tiện điện tử làm thương mại. Nói cách khác, thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử. Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử đó là: điện thoại, máy điện báo, máy fax, ti vi, thiết bị ký thuật thanh toán điện tử, internet, web... Trong số các phương tiện này, internet và web là các phương tiện mới được áp dụng trong nước ta mấy năm gần đây. Nhờ có phương tiện kỹ thuật này mà quá trình toàn cầu hoá được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Và thông qua chúng, người sử dụng có các loại thông tin khác nhau và lựa chọn được thông tin mình cần. Hơn thế, thương mại điện tử còn giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giúp thiết lập và củng cố các quan hệ đối tác.
Thông qua thương mại điện tử, công ty hiểu được nhu cầu thị trường thế giới và hàng mây tre đan, từ đó đưa ra chiến lược kinh doanh xuất khẩu tránh được tình trạng bán những sản phẩm mà người mua không cần. Chính vì vậy mà tạo ra nhiều mối quan hệ kinh doanh mới, tạo ra nhiều đối tác mới cho công ty.
Như vậy, đây cũng là giải pháp hữu hiệu cho mở rộng thị trường xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty.
Bên cạnh các giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu cho mặt hàng