CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC

Một phần của tài liệu ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN LỊCH SỬ LỚP 12 CỰC HẤP DẪN (Trang 65 - 70)

CHƯƠNG III VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

Bài 20: CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC

1. Âm mưu của Pháp – Mĩ:

- Sau 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Pháp bị thiệt hại ngày càng lớn...

- Ngày 07-5-1953, với sự thỏa thuận của Mĩ, Pháp cử Na-va làm tổng chỉ huy đề ra kế hoạch chiến lược với hy vọng trong vòng 18 tháng giành thắng lợi “Kết thúc chiến tranh trong danh dự”.

2. Kế hoạch Na-va: Có 2 bước:

- Bước 1, Thu-đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung Bộ và Nam Đông Dương... Mở rộng ngụy quân, tập trung binh lực, xây dựng đội quân cơ động chiến lược mạnh.

- Bước 2, Từ thu – đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến công chiến lược, giành thắng lợi quân sự nhất định,

buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho chúng nhằm kết thúc chiến tranh

- Để thực hiện kế hoạch trên, thực dân Pháp tăng thêm ở Đông Dương 12 tiểu đoàn bộ binh, xin Mĩ tăng thêm viện trợ quân sự, tăng cường ngụy quân...

II. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

1. Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954:

a. Chủ trương :

- Phương châm chiến lược của ta trong đông xuân 1953-1954: “tập trung mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt 1 bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động, phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa bàn xung yếu ... cho ta những điều kiện thuận lợi để tiêu diệt bộ phận sinh lực địch.

b. Diễn Biến :

- Ngày 10-12-1953, quân chủ lực ta tiến công thị xã Lai Châu, giải phóng toàn bộ Lai châu, diệt 24 đại đội địch, trừ Điện Biên Phủ (tập trung lực lượng thứ 2 của Pháp).

- Đầu 12 -1953, Liên quân Lào-Việt tiến công địch ở Trung Lào, diệt 3 tiểu đoàn Âu-Phi giải phóng Thà Khẹt uy hiếp Xê-nô (tập trung lực lượng thứ 3 của Pháp).

- Cuối 01-1954, Liên quân Lào-Việt tiến công địch ở Thượng Lào, giải phóng lưu vực sông Nậm Hu, giải phóng tỉnh Phong-xa-lì, buộc pháp tăng cường cho Luông-pha-băng và Mường sài, (tập trung lực lượng thứ 4 của Pháp).

- Đầu 02-1954, quân ta tiến công ở bắc Tây Nguyên, giải phóng tỉnh Kom Tum, uy hiếp Plây-cu (tập trung lực lượng thứ 5 của Pháp).

- Phối hợp với mặt trận chính để giam chân và phân tán lực lượng địch ở nhiều nơi, tại các vùng sau lưng địch ta phát triển chiến tranh du kích ở 3 kì.

→ Thắng lợi của đông – xuân 1953-1954, đã chuẩn bị về vật chất và tinh thần cho quân dân ta mở cuộc tiến công quyết định vào ĐBPhủ.

2. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954):

Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược then chốt ở Đông dương và cả Đông Nam Á, nên Na-va xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất ở Đông Dương.

* Pháp:

- Huy động 16.200 quân, gồm các binh chủng, máy bay.

- Bố trí thành 3 phân khu: phân khu bắc, trung tâm, phân khu nam → tổng cộng 49 cứ điểm, 2 sân bay, “Cái máy nghiền khổng lồ”.

* Ta:

- Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết định mở chiến địch Điện Biên Phủ với mục tiêu:

+ Tiêu diệt lực lượng của địch.

+ Giải phóng vùng Tây Bắc.

+ Tạo điều kiện cho Lào giải phóng Bắc Lào.

- Ta chuẩn bị đầy đủ người và vật chất cho chiến dịch.

* Diễn biến: Ngày13-3-1954, quân ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chia 3 đợt:

- Đợt 1 (13→17-3-1954): Ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân khu bắc, loại gần 2000 tên địch.

- Đợt 2 (30-3→26 - 4 -1954): Ta tiến công các cứ điểm phía đông khu trung tâm Mường Thanh như E1, D1, C1, C2, A1... ta chiếm phần lớn các cứ điểm của địch, bao vây chia cắt khống chế địch, Mĩ khẩn cấp viện trợ cho Pháp và đe dọa ném bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ.

- Đợt 3 (01→07-5-1954): Ta đồng loạt tấn công phân khu trung tâm Mường Thanh và phân khu nam, chiều 07-5 đánh vào sở chỉ huy địch, 17h30 tướng Đờ-cat-xtơ-ri cùng toàn bộ Ban tham mưu bị bắt sống.

- Các chiến trường toàn quốc phối hợp chặt chẽ tạo điều kiện cho chiến trường Điện Biên Phủ giành thắng lợi.

* Kết quả

- Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân (1953-1954) và chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

- Ta đã loại 128.200 tên, thu 19.000 súng các loại, phá hủy 162 máy bay, 81 đại bác, giải phóng nhiều vùng rộng lớn trong cả nước.

- Riêng ở Điện Biên Phủ ta loại 16.200 địch (có 1 thiếu tướng), bắn rơi 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí.

* Ý nghĩa:

- Đập tan hoàn toàn kế hoạch Na-va, đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

- Tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta thắng lợi.

III. Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương.

1. Hội nghị Giơ-ne-vơ: (đọc thêm) 2. Hiệp định Giơ-ne-vơ:

* Nội dung:

- Các nước tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia, không can thiệp vào công cuộc nội bộ của 3 nước.

- Các bên ngừng bắn lập lại hòa bình, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương.

- Các bên tham chiến thực hiện cuộc tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.

+ Ở Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp tập kết ở 2 miền Bắc Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, cùng với 1 khu phi quân sự ở 2 bên giới tuyến...

- Cấm đưa quân đội, vũ khí vào Đông Dương, các nước không được đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được tham gia khối liên minh quân sự nào...

- Việt Nam tiến tới thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7-1956, dưới sự kiểm soát của một Ủy ban quốc tế.

- Trách nhiệm thi hành Hiệp định thuộc về những người kí hiệp định và những người kế tục họ.

* Ý Nghĩa :

- Là văn bản pháp lí quốc tế ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân các nước Đông Dương được các cường quốc thuộc các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng.

- Đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta nhưng chưa trọn vẹn....

- Với Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội về nước. Mĩ

thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranh xâm lược Đông Dương.

IV. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

1. Nguyên nhân thắng lợi:

- Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, toàn dân, toàn quân đoàn kết trong chiến đấu và sản xuất.

- Có hệ thống chính quyền trong nước, có mặt trận dân tộc thống nhất, lực lượng vũ trang được xây dựng, hậu phương rộng lớn.

- Sự liên minh chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương, sự ủng hộ của Trung Quốc, Liên xô và các nước dân chủ nhân dân, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ thế giới.

2. Ý nghĩa lịch sử:

- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỉ.

- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

- Thắng lợi của cuộc kháng chiến giáng đòn vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chúng, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc của các nước châu Á, châu Phi và Mĩ La tinh.

Hệ thống câu hỏi

Câu 1. Hãy cho biết âm mưu của Pháp – Mĩ trong việc thực hiện kế hoạch Nava?

Câu 2. Diễn biến cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân (53-54) của nhân dân ta

Câu 3. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị và giành thắng lợi như thế nào? Nếu ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ Câu 4. Hãy nêu những nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của hiệp định Giơ -ne-vơ năm 1954 về Đông Dương?

Câu 5. Trình bày nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

__________________

CHƯƠNG IV

Một phần của tài liệu ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN LỊCH SỬ LỚP 12 CỰC HẤP DẪN (Trang 65 - 70)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(93 trang)
w